Bông Hồng 17- Lánh Nạn Với MARIA.
I- SUY NIỆM THÁNH KINH:
Lời tiên tri là lưỡi gươm thứ nhất. Sự ứng nghiệm của nó bắt đầu ngay. “Sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse rằng: Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-Cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy! Ông Giuse liền chỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-Cập.” (Mt 2: 13-14). Đây là nỗi đau buồn thứ hai.
Các tiên tri đã nói những lời tiên đoán về Đức Trinh Nữ Maria. Bây giờ chính Bà bắt đầu cảm nghiệm bằng việc chứng kiến những điều ấy xảy ra. Bà đã được nói rằng Con Bà là một dấu hiệu bị người đời chống báng, giờ đây thực hư thế nào đang xảy ra qua sự đe dọa giết hại Hài Nhi và qua sự nguy hiểm của chuyến ra đi lánh nạn rất vội vã vào ban đêm. Thật khiếp sợ khi đang bị săn lùng và truy nã!
Vào đêm Giáng Sinh, Bà không tìm được chỗ trong quán trọ, lúc ấy Hài Nhi còn được che chở trong bụng Mẹ, không phải chịu khổ đau. Tất cả những xáo trộn của thế giới bên ngoài chưa ảnh hưởng gì tới Người. Nhưng bây giờ, làm thế nào Bà có thể bảo vệ Hài Nhi tránh khỏi những gian nan vất vả trong cuộc hành trình dài trên sa mạc, những thay đổi nóng lạnh của thời tiết, trộm cướp, đói khát, bệnh tật và mệt mỏi? Không thể tưởng tượng nổi hoàn cảnh ngặt nghèo mà Thánh Giuse và Đức Maria đã phải chịu trong những ngày đêm âm thầm bước đi trong sa mạc. Dường như Thiên Chúa có vẻ bỏ rơi họ giữa những nghịch cảnh! Không lẽ lại như thế? Nhưng chắc chắn rằng Thiên Chúa đã phải làm một phép lạ nào đó cho Hài Nhi!
Sự lạ lùng ở đây, không chỉ là sự can đảm của Thánh Giuse và Đức Maria, nhưng còn là đức tin của họ. Đức tin đó đã không bị lung lạc trước những thử thách, trái lại còn được thanh lọc và làm cho vững mạnh thêm. Từ thời Mô-sê Thiên Chúa đã chuẩn bị bao nhiêu kỳ công vĩ đại trên con đường họ đang đi bây giờ cho dân tộc Israel, con cái được nhận làm thừa tự. Nhưng đến phiên họ, lại bước đi trong thiếu thốn và yếu đuối!
Trong những cuộc hành trình dài đi về giữa vùng đất lưu đày và quê hương, có một nguồn vui mà Đức Maria không bao giờ mất. Đó là luôn ở bên Hài Nhi. Bà luôn ôm lấy Hài Nhi nằm trong khăn và không ngừng canh chừng Hài Nhi. Cho đến giờ phút này, Hài Nhi chưa xa cách Mẹ Người một giây phút nào.
II- ÁP DỤNG THỰC TẾ:
Linh mục Dominici Đỗ Minh Trí, S. J. đã tình nguyện làm việc nhiều năm trên các trại tị nạn, kể lại một trong hằng ngàn câu chuyện bi thảm của người tị nạn như sau:
Chiếc tàu nhỏ đang đậu chờ đợi gần bờ biển. Bầu trời hôm nay thật tối tăm. Bà Điệp với con trai tên Trinh, 21 tuổi, con gái tên Ngọc Châu, 19 tuổi, và bà Thanh Vân, mẹ chồng, với khoảng 20 người khác nữa đều là thân nhân và bạn bè đã có mặt trên tầu. Mỗi người chỉ đem theo một túi hành lý nhỏ. Bà Điệp cất giấu 5 lượng vàng vào quần áo của Ngọc Châu và 5 lượng khác khắp các nơi trong người của con trai bà.
Đó là một chiếc tàu đánh cá do 10 người Việt Nam làm chủ: họ đồng ý cho những người vượt biển sang Thái Lan… Đã gần 10 giờ đêm, bà Điệp bỗng nghe một tiếng thét ngắn ngủi, tiếp đó lại một tiếng kêu khủng khiếp vang lên và như có ai bị xô xuống nước… Bà Điệp thét lên: “Tụi nó đang giết người của ta. Tụi nó sắp giết chúng ta để đoạt vàng đấy!”…
Bọn hải tặc tiến đến những bà lớn tuổi trước: với một vài động tác khó khăn đã ném tất cả xuống biển. Những người phụ nữ trẻ chạy loạn xạ và sau cùng cũng nhảy ra khỏi tàu. Bây giờ bọn hải tặc tiến đến mẹ con Bà Điệp. Bà nhảy đến, giơ tay cào cấu chúng, cố gắng bảo vệ con gái mình. Chúng vây quanh túm lấy bà, nhưng bà đã tống vào một đứa văng xuống biển. Nhưng một đứa khác đã nắm được cổ bà và xiết mạnh; bả cảm thấy buồn nôn và ngất xỉu. Khi rơi xuống nước, bà đã tỉnh lại, nhìn thấy bóng con tàu chạy khuất vào đêm tối… Sau đó tên hải tặc tiến đến Ngọc Châu, nắm lấy cô ta và quăng xuống biển.
Ngọc Châu biết lội, nhưng tự hỏi sẽ lội được bao lâu? Cô ngước mắt nhìn lên bầu trời đầy sao… và thấy các vì sao đang mỉm cười với mình! Lúc đó cô biết mình vẫn còn sống! Đến khi gần kiệt sức, cô đã đụng phải một vật cứng trên biển. Đó là một thây người, một xác chết trương phồng lên… Khi ánh sáng xuất hiện, cô nhận ra cái thây ma đó là bà nội của cô… Qua đôi mắt ướt sũng, Châu nhận thấy một hình thù ở một khoảng cách xa đấy. Đó là một người hay có thể là một xác chết nào khác. Cô la lớn và hình thù ấy trôi lại gần hơn. Không biết là ai, nhưng đó là một người còn sống. Châu nghe hình thù ấy lên tiếng; đó là mẹ của cô! Sau nhiều giờ trôi trên sóng nước như vậy, một chiếc tàu Mỹ đã đến cứu thoát hai mẹ con và đưa đến trại tị nạn.” (Nụ Cười Từ Trời Cao, Việt Nam Quê Hương Tôi, trang 133 - 136).
1- Những cuộc lánh nạn:
Cuộc chạy trốn của Thánh Giuse và Đức Maria ra khỏi sự hãm hại của “vua Hêrôđê” tương tự như sự lánh nạn của nhiều người hôm nay đang bị sống trong những hoàn cảnh bị đe dọa. Có khoảng hơn 30 triệu người tị nạn trên trái đất. Họ đi tị nạn vì chiến tranh, vì nhân quyền và tự do, vì đức tin tôn giáo, vì sự kỳ thị phân biệt chủng tộc, vì thiên tai động đất và đói kém… Mỗi người tị nạn là một hài nhi, một người mẹ hay người cha đã phải bỏ lại những người thân yêu, quê hương với ngôn ngữ, phong tục và tập quán, của cải và nhà cửa. Họ ra đi để tìm kiếm tự do với hy vọng sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn về tinh thần, vật chất, và tình cảm cho chính mình cùng tương lai của con cháu. Cuộc ra đi đã trả giá bằng chính mạng sống của họ.
Nhưng cũng có những cuộc lánh nạn âm thầm xảy ra hằng ngày mà nhiều người đang thực hiện. Sự ra đi của một bạn trẻ để lẩn tránh lũ bạn bè xấu, bài bạc, nghiện ngập, băng đảng, trộm cắp. Hay một người muốn tránh né cơ hội và hoàn cảnh tội lỗi. Một ý hướng muốn tiến thân trên đường đạo đức, bao giờ cũng bắt đầu bằng sự ra đi, từ bỏ các liên hệ với những con người có đời sống vô đạo đức và vô luân lý gây tổn hại cho chúng ta. Có khi lại là chính những thói hư tật xấu và con người ích kỷ của mình.
2- Những “Ông Vua Hêrôđê”:
“Vua Hêrôđê” là hình ảnh biểu tượng của những người đe dọa chúng ta trong cuộc sống. Có thể là một cá nhân, một tập thể, một guồng máy chính quyền độc tài chuyên chế. “Vua Hêrôđê” cũng có thể ở trong một gia đình, đoàn thể, và tôn giáo. Đó cũng còn là những ước muốn thống trị, sự ghen tương, cảm giác bất an, nỗi ám ảnh của ước muốn thống trị và quyền hành, mặc cảm tự ti, và những nỗi sợ hãi tiềm ẩn trong tâm thức.
Bà Barbara Reynolds trước đây là một ký giả của tờ nhật báo USA Today, đã chia sẻ kinh nghiệm riêng tư của mình. Khi còn bé bà đã bị lạm dụng tình dục bởi một người họ hàng. Đến tuổi trưởng thành, bà gặp lại người đàn ông đó và đối chất với ông về những sự kiện loạn luân. Hồi tưởng lại từng đau khổ ông ta đã gây ra cho bà, với những giọt nước mắt tuôn trào, bà đã viết thế này:
“Khi tôi đối chất với người họ hàng, kẻ đã lạm dụng tình dục lúc tôi còn nhỏ. Một cách kỳ lạ, ông ta đã không nhận ra sự đau khổ của tôi. Ông đã không năn nỉ xin tha thứ. Ông chỉ nhìn chằm chặp vào tôi với những ánh mắt trống rỗng và chán chường, rồi nói, “Tôi như thế đó!” Do vậy tôi có thể làm gì được? Bắn ông ta hả? Thưa kiện? Tránh mặt? Đến lúc đó ông ta vẫn không hiểu. Có lẽ ông sẽ không bao giờ hiểu. Bởi vậy, tôi chỉ có thể làm được hai điều. Trước hết, tôi bỏ đi, và không bao giờ nói chuyện với ông ta nữa. Thứ đến, tôi đã tha thứ cho ông. “
Bà Reynolds kể rằng sau nhiều năm đi đến các nhà phân tích tâm lý học, sự tha thứ vẫn là phương thuốc trị liệu tốt nhất. Chúng ta tha thứ cho người khác không phải chỉ vì ích lợi linh hồn của người đã làm điều sai trái cho chúng ta, nhưng còn vì ích lợi tinh thần của chính chúng ta. Tuy vậy, sự tha thứ không phải dễ!
3- Khi nào phải ra đi hay ở lại?
Quyết định ra đi hay ở lại chịu đựng không phải là điều dễ dàng. Khi sự nguy hiểm đe dọa trực tiếp đến tính mạng và đời sống tinh thần một cách nghiêm trọng tới nỗi chúng ta biết ngay rằng đây là lúc phải ra đi như trường hợp của Thánh Giuse và Đức Maria. Tuy nhiên, có những trường hợp sự ra đi đòi hỏi một thời gian lâu dài để suy nghĩ, đắn đo, bàn hỏi và có những sự giằng co nội tâm.
Trong một buổi chia sẻ về đời sống gia đình, một phụ nữ đã nêu lên trường hợp của chị như sau. Cuộc hôn nhân của chị do cha mẹ xếp đặt vội vàng ngay sau năm 1975, một thời gian giao động và khủng hoảng về nhiều mặt ở Việt Nam. Trước khi vượt biên năm 1980, họ có 2 người con. Khi định cư tại Hoa Kỳ, họ có thêm 2 người con nữa. Chị diễn tả người chồng của chị theo lối “chồng chúa vợ tôi”. Những buổi chiều sau khi đi làm ở sở về, người chồng chi biết ăn nhậu, khói thuốc bay ngợp nhà. Một mình chị vừa đi làm giống như chồng, vừa đi học y tá, vừa trông coi bốn đứa con nhỏ dại, lo công việc nhà và nấu nướng cơm nước. Hai vợ chồng có rất nhiều khác biệt, xung khắc về cách sống và sự giáo dục con cái. Chị đã đi đến những nhà cố vấn hôn nhân và tâm lý để bàn hỏi. Còn người chồng rất mực từ chối, không cần bàn hỏi, gặp gỡ ai cả. Rồi chị lại nhờ các cha dàn xếp, gặp gỡ. Tình trạng vẫn không khả quan hơn. Sau cùng người chồng lại có liên hệ ngoại hôn với những người đàn bà khác ở Việt Nam.
Sức khỏe và tinh thần của chị càng ngày càng suy nhược vì phải vất vả làm việc và chịu đựng đau khổ, lại không có giờ nghỉ ngơi. Cuối cùng, chị đã can đảm quyết định ra đi. Vào một ngày mùa đông, chị đưa tất cả các con lên xe, lái sang một tiểu bang khác sinh sống… Bây giờ chị đã là một y tá, có nhà cửa, hai đứa con lớn đã tốt nghiệp đại học, có đứa lấy cả bằng Cao Học (Master). Chị chia sẻ rằng nếu không đủ can đảm dẫn con cái ra đi, bây giờ chúng thế nào? Bây giờ, chị chia sẻ kinh nghiệm đã dám can đảm dẫn con cái ra đi với niềm tự hào và mãn nguyện.
Nhưng đôi khi ở lại thì tốt hơn. Đôi khi chúng ta cần ở lại để chiến đấu, cho dù có vẻ khá nguy hiểm cho chính chúng ta và những người thân yêu. Đôi khi chúng ta phải “cưỡi lên sóng” mà sống. Chúng ta cần phải ở lại, khi có hy vọng hợp lý rằng sự việc có thể thay đổi nếu hai bên thẳng thắn đối chất, bàn hỏi, hay có những nỗ lực liên tục để sửa đổi cách cư xử. Đôi khi vì sợ đau khổ hay quá nóng nảy, chúng ta đã bỏ ra đi quá sớm và quá nhanh chóng.
Có những trường hợp ra đi lại nguy hiểm và mất an ninh hơn là ở lại sống với “ông vua Hêrôđê” nên đã không dám quyết định ra đi. Có những người vợ bị chồng bạc đãi, đánh đập… nhưng rồi vẫn phải quay trở về vì không thể tìm thấy chỗ nào an toàn hơn. Sợ rằng “tránh vỏ dưa, lại gặp vỏ dừa”, ra đi lại gặp tình trạng tệ hại hơn nữa!
Thực ra quyết định ra đi hay ở lại trong những tình cảnh khó xử không phải là dễ. Nhưng một điều chắc chắn khi chúng ta đang phải sống chung với “những ông vua Hêrôđô” thì phải cầu nguyện liên tục để xin Chúa Thánh Linh hướng dẫn cho biết nên làm gì. Đồng thời cũng cần đến những người khôn ngoan giúp đỡ với sự chọn lựa và quyết định của chúng ta. Thật là hữu ích nếu có những người khách quan khích lệ chúng ta tiến bước để cứu lấy mình và những người thân yêu.
Phúc âm Thánh Mátthêu nhắc đến việc Thánh Giuse đã quyết định qua giấc mơ đến ba lần: khi nghi ngờ về tiết hạnh của Maria (Mt 1:24), trốn sang Ai-Cập (Mt 2:13), và từ Ai-Cập trở về (Mt 2:20). Người xưa quan niệm rằng Thiên Chúa đã gửi sứ giả đến qua giấc mơ. Quả vậy, nếu chúng ta chỉ dựa hoàn toàn trên lý trí hay cảm xúc để hành động, sẽ có thể bị lầm lẫn. Kinh nghiệm cho thấy, đôi khi mọi sự rất hợp lý và đúng lý luận (logic), nhưng lại không đúng với thực tại. Đừng quên rằng chính sự cầu nguyện thường xuyên và biết lắng nghe tiếng nói của nội tâm sẽ tạo nên một trực giác thánh thiện qua sự linh hứng của Chúa Thánh Linh.
4- Chấp nhận hậu quả:
Trốn thoát “vua Hêrôđê” là một chuyện. Chấp nhận những hậu quả của cuộc ra đi lánh nạn là vấn đế khác. Đức Maria và Thánh Giuse đã không chỉ ra đi trong kinh hoàng, nhưng còn phải chấp nhận cuộc hành trình trong sa mạc đầy nguy hiểm cho mạng sống của họ vì trộm cướp, bệnh tật, và bão tố. Đi trong sa mạc giống như người đi trên biển qua kinh nghiệm của những người tị nạn Việt Nam đã ghi lại.
Ra đi để có tự do. Trên cuộc hành trình thiêng liêng, sự tự do nội tâm là điều thiết yếu để đời sống tinh thần phát triển. Sự tự do này được trả giá bằng sự hy sinh và lòng can đảm. Phải chấp nhận cách sống mới để thích nghi với đời sống của tha nhân. Phải biết quên quá khứ đau thương và hy vọng ở tương lai. Và điều rất quan trọng là phải biết sống phó thác và tha thứ. Hãy tha thứ cho những “ông vua Hêrôđê”!
Lạy Đức Mẹ Sầu Bi, Mẹ đã phải ra đi lánh nạn trước chúng con vì sự nguy hại cho chính bản thân Mẹ và Hài Nhi yêu quý của Mẹ. Mẹ đã biết sự khó khăn khi phải quyết định ra đi là thế nào! Mẹ đã chấp nhận tất cả những hậu quả của nó. Mẹ đã tin tưởng và phó thác nơi sự hướng dẫn của Thiên Chúa qua người bạn đường yêu quý là Giuse. Mẹ đã lắng nghe tiếng nói sâu xa từ chính nội tâm của mình. Mẹ đã can đảm bước vào vùng trời vô định. Mẹ đã sẵn sàng từ bỏ một cuộc sống quen thuộc vì sự an toàn của Con Mẹ. Mẹ đã không để cho nỗi sợ hãi âu lo giữ chân lại để rồi không dám hành động gì. Xin Mẹ dẫn chúng con đi hết cuộc hành trình cuộc đời của chúng con bằng chính đức tin và lòng can đảm của Mẹ!
I- SUY NIỆM THÁNH KINH:
Lời tiên tri là lưỡi gươm thứ nhất. Sự ứng nghiệm của nó bắt đầu ngay. “Sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse rằng: Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-Cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy! Ông Giuse liền chỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-Cập.” (Mt 2: 13-14). Đây là nỗi đau buồn thứ hai.
Các tiên tri đã nói những lời tiên đoán về Đức Trinh Nữ Maria. Bây giờ chính Bà bắt đầu cảm nghiệm bằng việc chứng kiến những điều ấy xảy ra. Bà đã được nói rằng Con Bà là một dấu hiệu bị người đời chống báng, giờ đây thực hư thế nào đang xảy ra qua sự đe dọa giết hại Hài Nhi và qua sự nguy hiểm của chuyến ra đi lánh nạn rất vội vã vào ban đêm. Thật khiếp sợ khi đang bị săn lùng và truy nã!
Vào đêm Giáng Sinh, Bà không tìm được chỗ trong quán trọ, lúc ấy Hài Nhi còn được che chở trong bụng Mẹ, không phải chịu khổ đau. Tất cả những xáo trộn của thế giới bên ngoài chưa ảnh hưởng gì tới Người. Nhưng bây giờ, làm thế nào Bà có thể bảo vệ Hài Nhi tránh khỏi những gian nan vất vả trong cuộc hành trình dài trên sa mạc, những thay đổi nóng lạnh của thời tiết, trộm cướp, đói khát, bệnh tật và mệt mỏi? Không thể tưởng tượng nổi hoàn cảnh ngặt nghèo mà Thánh Giuse và Đức Maria đã phải chịu trong những ngày đêm âm thầm bước đi trong sa mạc. Dường như Thiên Chúa có vẻ bỏ rơi họ giữa những nghịch cảnh! Không lẽ lại như thế? Nhưng chắc chắn rằng Thiên Chúa đã phải làm một phép lạ nào đó cho Hài Nhi!
Sự lạ lùng ở đây, không chỉ là sự can đảm của Thánh Giuse và Đức Maria, nhưng còn là đức tin của họ. Đức tin đó đã không bị lung lạc trước những thử thách, trái lại còn được thanh lọc và làm cho vững mạnh thêm. Từ thời Mô-sê Thiên Chúa đã chuẩn bị bao nhiêu kỳ công vĩ đại trên con đường họ đang đi bây giờ cho dân tộc Israel, con cái được nhận làm thừa tự. Nhưng đến phiên họ, lại bước đi trong thiếu thốn và yếu đuối!
Trong những cuộc hành trình dài đi về giữa vùng đất lưu đày và quê hương, có một nguồn vui mà Đức Maria không bao giờ mất. Đó là luôn ở bên Hài Nhi. Bà luôn ôm lấy Hài Nhi nằm trong khăn và không ngừng canh chừng Hài Nhi. Cho đến giờ phút này, Hài Nhi chưa xa cách Mẹ Người một giây phút nào.
II- ÁP DỤNG THỰC TẾ:
Linh mục Dominici Đỗ Minh Trí, S. J. đã tình nguyện làm việc nhiều năm trên các trại tị nạn, kể lại một trong hằng ngàn câu chuyện bi thảm của người tị nạn như sau:
Chiếc tàu nhỏ đang đậu chờ đợi gần bờ biển. Bầu trời hôm nay thật tối tăm. Bà Điệp với con trai tên Trinh, 21 tuổi, con gái tên Ngọc Châu, 19 tuổi, và bà Thanh Vân, mẹ chồng, với khoảng 20 người khác nữa đều là thân nhân và bạn bè đã có mặt trên tầu. Mỗi người chỉ đem theo một túi hành lý nhỏ. Bà Điệp cất giấu 5 lượng vàng vào quần áo của Ngọc Châu và 5 lượng khác khắp các nơi trong người của con trai bà.
Đó là một chiếc tàu đánh cá do 10 người Việt Nam làm chủ: họ đồng ý cho những người vượt biển sang Thái Lan… Đã gần 10 giờ đêm, bà Điệp bỗng nghe một tiếng thét ngắn ngủi, tiếp đó lại một tiếng kêu khủng khiếp vang lên và như có ai bị xô xuống nước… Bà Điệp thét lên: “Tụi nó đang giết người của ta. Tụi nó sắp giết chúng ta để đoạt vàng đấy!”…
Bọn hải tặc tiến đến những bà lớn tuổi trước: với một vài động tác khó khăn đã ném tất cả xuống biển. Những người phụ nữ trẻ chạy loạn xạ và sau cùng cũng nhảy ra khỏi tàu. Bây giờ bọn hải tặc tiến đến mẹ con Bà Điệp. Bà nhảy đến, giơ tay cào cấu chúng, cố gắng bảo vệ con gái mình. Chúng vây quanh túm lấy bà, nhưng bà đã tống vào một đứa văng xuống biển. Nhưng một đứa khác đã nắm được cổ bà và xiết mạnh; bả cảm thấy buồn nôn và ngất xỉu. Khi rơi xuống nước, bà đã tỉnh lại, nhìn thấy bóng con tàu chạy khuất vào đêm tối… Sau đó tên hải tặc tiến đến Ngọc Châu, nắm lấy cô ta và quăng xuống biển.
Ngọc Châu biết lội, nhưng tự hỏi sẽ lội được bao lâu? Cô ngước mắt nhìn lên bầu trời đầy sao… và thấy các vì sao đang mỉm cười với mình! Lúc đó cô biết mình vẫn còn sống! Đến khi gần kiệt sức, cô đã đụng phải một vật cứng trên biển. Đó là một thây người, một xác chết trương phồng lên… Khi ánh sáng xuất hiện, cô nhận ra cái thây ma đó là bà nội của cô… Qua đôi mắt ướt sũng, Châu nhận thấy một hình thù ở một khoảng cách xa đấy. Đó là một người hay có thể là một xác chết nào khác. Cô la lớn và hình thù ấy trôi lại gần hơn. Không biết là ai, nhưng đó là một người còn sống. Châu nghe hình thù ấy lên tiếng; đó là mẹ của cô! Sau nhiều giờ trôi trên sóng nước như vậy, một chiếc tàu Mỹ đã đến cứu thoát hai mẹ con và đưa đến trại tị nạn.” (Nụ Cười Từ Trời Cao, Việt Nam Quê Hương Tôi, trang 133 - 136).
1- Những cuộc lánh nạn:
Cuộc chạy trốn của Thánh Giuse và Đức Maria ra khỏi sự hãm hại của “vua Hêrôđê” tương tự như sự lánh nạn của nhiều người hôm nay đang bị sống trong những hoàn cảnh bị đe dọa. Có khoảng hơn 30 triệu người tị nạn trên trái đất. Họ đi tị nạn vì chiến tranh, vì nhân quyền và tự do, vì đức tin tôn giáo, vì sự kỳ thị phân biệt chủng tộc, vì thiên tai động đất và đói kém… Mỗi người tị nạn là một hài nhi, một người mẹ hay người cha đã phải bỏ lại những người thân yêu, quê hương với ngôn ngữ, phong tục và tập quán, của cải và nhà cửa. Họ ra đi để tìm kiếm tự do với hy vọng sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn về tinh thần, vật chất, và tình cảm cho chính mình cùng tương lai của con cháu. Cuộc ra đi đã trả giá bằng chính mạng sống của họ.
Nhưng cũng có những cuộc lánh nạn âm thầm xảy ra hằng ngày mà nhiều người đang thực hiện. Sự ra đi của một bạn trẻ để lẩn tránh lũ bạn bè xấu, bài bạc, nghiện ngập, băng đảng, trộm cắp. Hay một người muốn tránh né cơ hội và hoàn cảnh tội lỗi. Một ý hướng muốn tiến thân trên đường đạo đức, bao giờ cũng bắt đầu bằng sự ra đi, từ bỏ các liên hệ với những con người có đời sống vô đạo đức và vô luân lý gây tổn hại cho chúng ta. Có khi lại là chính những thói hư tật xấu và con người ích kỷ của mình.
2- Những “Ông Vua Hêrôđê”:
“Vua Hêrôđê” là hình ảnh biểu tượng của những người đe dọa chúng ta trong cuộc sống. Có thể là một cá nhân, một tập thể, một guồng máy chính quyền độc tài chuyên chế. “Vua Hêrôđê” cũng có thể ở trong một gia đình, đoàn thể, và tôn giáo. Đó cũng còn là những ước muốn thống trị, sự ghen tương, cảm giác bất an, nỗi ám ảnh của ước muốn thống trị và quyền hành, mặc cảm tự ti, và những nỗi sợ hãi tiềm ẩn trong tâm thức.
Bà Barbara Reynolds trước đây là một ký giả của tờ nhật báo USA Today, đã chia sẻ kinh nghiệm riêng tư của mình. Khi còn bé bà đã bị lạm dụng tình dục bởi một người họ hàng. Đến tuổi trưởng thành, bà gặp lại người đàn ông đó và đối chất với ông về những sự kiện loạn luân. Hồi tưởng lại từng đau khổ ông ta đã gây ra cho bà, với những giọt nước mắt tuôn trào, bà đã viết thế này:
“Khi tôi đối chất với người họ hàng, kẻ đã lạm dụng tình dục lúc tôi còn nhỏ. Một cách kỳ lạ, ông ta đã không nhận ra sự đau khổ của tôi. Ông đã không năn nỉ xin tha thứ. Ông chỉ nhìn chằm chặp vào tôi với những ánh mắt trống rỗng và chán chường, rồi nói, “Tôi như thế đó!” Do vậy tôi có thể làm gì được? Bắn ông ta hả? Thưa kiện? Tránh mặt? Đến lúc đó ông ta vẫn không hiểu. Có lẽ ông sẽ không bao giờ hiểu. Bởi vậy, tôi chỉ có thể làm được hai điều. Trước hết, tôi bỏ đi, và không bao giờ nói chuyện với ông ta nữa. Thứ đến, tôi đã tha thứ cho ông. “
Bà Reynolds kể rằng sau nhiều năm đi đến các nhà phân tích tâm lý học, sự tha thứ vẫn là phương thuốc trị liệu tốt nhất. Chúng ta tha thứ cho người khác không phải chỉ vì ích lợi linh hồn của người đã làm điều sai trái cho chúng ta, nhưng còn vì ích lợi tinh thần của chính chúng ta. Tuy vậy, sự tha thứ không phải dễ!
3- Khi nào phải ra đi hay ở lại?
Quyết định ra đi hay ở lại chịu đựng không phải là điều dễ dàng. Khi sự nguy hiểm đe dọa trực tiếp đến tính mạng và đời sống tinh thần một cách nghiêm trọng tới nỗi chúng ta biết ngay rằng đây là lúc phải ra đi như trường hợp của Thánh Giuse và Đức Maria. Tuy nhiên, có những trường hợp sự ra đi đòi hỏi một thời gian lâu dài để suy nghĩ, đắn đo, bàn hỏi và có những sự giằng co nội tâm.
Trong một buổi chia sẻ về đời sống gia đình, một phụ nữ đã nêu lên trường hợp của chị như sau. Cuộc hôn nhân của chị do cha mẹ xếp đặt vội vàng ngay sau năm 1975, một thời gian giao động và khủng hoảng về nhiều mặt ở Việt Nam. Trước khi vượt biên năm 1980, họ có 2 người con. Khi định cư tại Hoa Kỳ, họ có thêm 2 người con nữa. Chị diễn tả người chồng của chị theo lối “chồng chúa vợ tôi”. Những buổi chiều sau khi đi làm ở sở về, người chồng chi biết ăn nhậu, khói thuốc bay ngợp nhà. Một mình chị vừa đi làm giống như chồng, vừa đi học y tá, vừa trông coi bốn đứa con nhỏ dại, lo công việc nhà và nấu nướng cơm nước. Hai vợ chồng có rất nhiều khác biệt, xung khắc về cách sống và sự giáo dục con cái. Chị đã đi đến những nhà cố vấn hôn nhân và tâm lý để bàn hỏi. Còn người chồng rất mực từ chối, không cần bàn hỏi, gặp gỡ ai cả. Rồi chị lại nhờ các cha dàn xếp, gặp gỡ. Tình trạng vẫn không khả quan hơn. Sau cùng người chồng lại có liên hệ ngoại hôn với những người đàn bà khác ở Việt Nam.
Sức khỏe và tinh thần của chị càng ngày càng suy nhược vì phải vất vả làm việc và chịu đựng đau khổ, lại không có giờ nghỉ ngơi. Cuối cùng, chị đã can đảm quyết định ra đi. Vào một ngày mùa đông, chị đưa tất cả các con lên xe, lái sang một tiểu bang khác sinh sống… Bây giờ chị đã là một y tá, có nhà cửa, hai đứa con lớn đã tốt nghiệp đại học, có đứa lấy cả bằng Cao Học (Master). Chị chia sẻ rằng nếu không đủ can đảm dẫn con cái ra đi, bây giờ chúng thế nào? Bây giờ, chị chia sẻ kinh nghiệm đã dám can đảm dẫn con cái ra đi với niềm tự hào và mãn nguyện.
Nhưng đôi khi ở lại thì tốt hơn. Đôi khi chúng ta cần ở lại để chiến đấu, cho dù có vẻ khá nguy hiểm cho chính chúng ta và những người thân yêu. Đôi khi chúng ta phải “cưỡi lên sóng” mà sống. Chúng ta cần phải ở lại, khi có hy vọng hợp lý rằng sự việc có thể thay đổi nếu hai bên thẳng thắn đối chất, bàn hỏi, hay có những nỗ lực liên tục để sửa đổi cách cư xử. Đôi khi vì sợ đau khổ hay quá nóng nảy, chúng ta đã bỏ ra đi quá sớm và quá nhanh chóng.
Có những trường hợp ra đi lại nguy hiểm và mất an ninh hơn là ở lại sống với “ông vua Hêrôđê” nên đã không dám quyết định ra đi. Có những người vợ bị chồng bạc đãi, đánh đập… nhưng rồi vẫn phải quay trở về vì không thể tìm thấy chỗ nào an toàn hơn. Sợ rằng “tránh vỏ dưa, lại gặp vỏ dừa”, ra đi lại gặp tình trạng tệ hại hơn nữa!
Thực ra quyết định ra đi hay ở lại trong những tình cảnh khó xử không phải là dễ. Nhưng một điều chắc chắn khi chúng ta đang phải sống chung với “những ông vua Hêrôđô” thì phải cầu nguyện liên tục để xin Chúa Thánh Linh hướng dẫn cho biết nên làm gì. Đồng thời cũng cần đến những người khôn ngoan giúp đỡ với sự chọn lựa và quyết định của chúng ta. Thật là hữu ích nếu có những người khách quan khích lệ chúng ta tiến bước để cứu lấy mình và những người thân yêu.
Phúc âm Thánh Mátthêu nhắc đến việc Thánh Giuse đã quyết định qua giấc mơ đến ba lần: khi nghi ngờ về tiết hạnh của Maria (Mt 1:24), trốn sang Ai-Cập (Mt 2:13), và từ Ai-Cập trở về (Mt 2:20). Người xưa quan niệm rằng Thiên Chúa đã gửi sứ giả đến qua giấc mơ. Quả vậy, nếu chúng ta chỉ dựa hoàn toàn trên lý trí hay cảm xúc để hành động, sẽ có thể bị lầm lẫn. Kinh nghiệm cho thấy, đôi khi mọi sự rất hợp lý và đúng lý luận (logic), nhưng lại không đúng với thực tại. Đừng quên rằng chính sự cầu nguyện thường xuyên và biết lắng nghe tiếng nói của nội tâm sẽ tạo nên một trực giác thánh thiện qua sự linh hứng của Chúa Thánh Linh.
4- Chấp nhận hậu quả:
Trốn thoát “vua Hêrôđê” là một chuyện. Chấp nhận những hậu quả của cuộc ra đi lánh nạn là vấn đế khác. Đức Maria và Thánh Giuse đã không chỉ ra đi trong kinh hoàng, nhưng còn phải chấp nhận cuộc hành trình trong sa mạc đầy nguy hiểm cho mạng sống của họ vì trộm cướp, bệnh tật, và bão tố. Đi trong sa mạc giống như người đi trên biển qua kinh nghiệm của những người tị nạn Việt Nam đã ghi lại.
Ra đi để có tự do. Trên cuộc hành trình thiêng liêng, sự tự do nội tâm là điều thiết yếu để đời sống tinh thần phát triển. Sự tự do này được trả giá bằng sự hy sinh và lòng can đảm. Phải chấp nhận cách sống mới để thích nghi với đời sống của tha nhân. Phải biết quên quá khứ đau thương và hy vọng ở tương lai. Và điều rất quan trọng là phải biết sống phó thác và tha thứ. Hãy tha thứ cho những “ông vua Hêrôđê”!
Lạy Đức Mẹ Sầu Bi, Mẹ đã phải ra đi lánh nạn trước chúng con vì sự nguy hại cho chính bản thân Mẹ và Hài Nhi yêu quý của Mẹ. Mẹ đã biết sự khó khăn khi phải quyết định ra đi là thế nào! Mẹ đã chấp nhận tất cả những hậu quả của nó. Mẹ đã tin tưởng và phó thác nơi sự hướng dẫn của Thiên Chúa qua người bạn đường yêu quý là Giuse. Mẹ đã lắng nghe tiếng nói sâu xa từ chính nội tâm của mình. Mẹ đã can đảm bước vào vùng trời vô định. Mẹ đã sẵn sàng từ bỏ một cuộc sống quen thuộc vì sự an toàn của Con Mẹ. Mẹ đã không để cho nỗi sợ hãi âu lo giữ chân lại để rồi không dám hành động gì. Xin Mẹ dẫn chúng con đi hết cuộc hành trình cuộc đời của chúng con bằng chính đức tin và lòng can đảm của Mẹ!