NHÌN LÊN ẢNH MẸ
(2)
ĐỨC MẸ LA-VANG
Vào những năm 1955-1956, sau hiệp định Genève 1954, đền thánh Đức Mẹ La-vang được mở cửa trở lại cho những dịp đại hội và kiệu minh niên, sau nhiều năm “bế quan tỏa cảng” vì tình hình chiến sự. Vào thời điểm đó bắt đầu những ngày lạnh lẽo trong năm, với gió heo may giá buốt, với mưa phùn rả rích, như hai câu thơ sau đây của một thi sĩ tiền chiến:
“Đã nghe rét mướt luồng trong gió,
Đã vắng người sang những chuyến đò…”
Trong những dịp đại hội và rước kiệu Đức Mẹ La-vang nầy, đa số những họ đạo miền quê ở chung quanh La-vang thuộc tỉnh Quảng Trị đã đổ xô về để cầu nguyện và dâng lên Mẹ những đau khổ trong cuộc sống, từ vật chất đến tinh thần, nhất là do hậu quả những vết thương chiến tranh để lại trong thời gian qua. Cảnh tượng những mẹ goá con côi mà trên đầu khăn tang chưa bạc màu đang đi rước kiệu Đức Mẹ với nước mắt tuôn rơi, hòa nhịp với làn mưa lâm râm và gió heo may lạnh buốt, tạo nên một bức tranh buồn thảm của quê hương Việt-Nam trải qua bao năm tháng dài chiến tranh mòn mỏi.
Lời “Cầu Nguyện Cùng Đức Mẹ La-Vang” từ thời ông bà tổ tiên chúng ta ngày xưa vẫn còn tiếp nối cho đến ngày nay và mãi mãi trong tương lai bất tận:
“Lạy ơn Đức Mẹ La-vang,
Xin nghe con mọn thở than mấy lời.
Mẹ là Mẹ thật Chúa Trời,
Mà Mẹ cũng thật Mẹ loài người ta.
Cúi xin xuống phước hà sa
Đoái xem con cái thiết tha khẩn cầu.
Nầy con quì gối cúi đầu,
Trước bàn thờ Mẹ xiết bao ước nguyền:
Cho con một dạ kính tin,
Kính thờ một Chúa hết tình thảo ngay;
Rày con dâng tấm lòng nầy,
Một niềm mến Mẹ từ nầy về sau;
Lòng con rầy chỉ ước ao
Chết trong tay Mẹ phước nào lớn hơn.
Lại xin Đức Mẹ xuống ơn
Giữ gìn cha mẹ nhà con yên hàn;
Xin cho nước trị dân an,
Nơi nơi nghe tiếng Phúc Am giảng truyền;
Những người nghèo khổ tật nguyền
Cầu liền đặng đã, xin liền đặng vui.
Dập dìu kẻ trước người lui,
Trong Nam ngoài Bắc mọi người giáo lương.
Nay con từ biệt thánh đường
Thân tuy cách đó, dạ thường mến đây.
Chốn nầy, ngày nầy, hội nầy,
Lòng nầy ghi tạc dám phai đá vàng.
Lạy ơn Đức Mẹ La-vang,
Xin nghe con mọn thở than mấy lời.
Amen.”
(Sách “Sứ Điệp Đức Mẹ La Vang” của Cố Hồng Y nguyễn Văn Thuận, trang 27-28)
ĐẠI HỘI THÁNH MẪU SAIGON
Vào những năm 1959-1960 diễn ra Đại Hội Thánh Mẫu rất lớn ở thủ đô Saigon với sự hiện diện cửa Đức Hồng Y Agagianian là Sứ Thần Tòa Thánh. Đây là dịp để giáo dân cũng như lương dân Việt-Nam bày tỏ lòng kính mến Đức Mẹ như Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã nhận xét. Tôi cũng như những giáo dân khác đã nhìn lên ảnh Mẹ Maria để cùng nhau tha thiết cầu nguyện:
“Lạy Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa,
Xin gìn giữ nơi con quả tim của trẻ thơ
Tinh tuyền và trong ngần như dòng suối.
Xin ban cho con quả tim đơn sơ,
Mau quên những nỗi buồn phiền.
Một quả tim hào hiệp dám hiến thân,
Dịu dàng để cảm thông.
Một quả tim trung thành và quảng đại,
Không quên ơn, không báo oán.
Xin tạo cho con quả tim hiền từ và khiêm tốn,
Yêu mà không mong được yêu lại,
Hân hoan xóa mình đi
Để con của Mẹ có chỗ trong lòng người khác.
Một quả tim vĩ đại và bất khuất,
Không khép lại trước những kẻ vô ơn,
Không chán nản trước người lạnh nhạt.
Một quả tim khắc khoải
Lo tìm vinh danh Chúa Giêsu Kitô,
Quả tim mang vết thương vì yêu Ngài,
Vết thương chỉ lành
Khi được sống với Ngài trên trời. Amen”.
(Lời kinh “Maria, Mẹ tuyệt mỹ”, trích từ Rabouni, sách LKĐNTNK, trang 41-42).
Thời gian đó là những năm thanh bình của đất nước từ giòng sông Bến Hải đến mũi Cà-Mâu. Nhưng những năm tháng thanh bình nầy quá ngắn ngủi và quê hương Việt-Nam từ từ đi vào một cuộc chiến tranh tương tàn khác.
ĐỨC MẸ FATIMA THÁNH DU
Khi cuộc chiến mới bắt đầu tiếp theo sau chính biến ngày 1-1-1963, Đức Mẹ Fatima đã hai lần vào thăm viếng miền Nam Việt-Nam khoảng năm 1965 và 1972-1974. Đức Mẹ đã Thánh du qua gần khắp mọi miền đất nước của miền Nam Việt-Nam để lắng nghe tiếng kêu trầm thống của bao người vô tội đã gục ngã trên mọi nẻo đường quê hương cũng như bom đạn cày nát bao làng mạc thị thành. Nhưng rồi con người không hoán cải và canh tân cuộc sống, chiến tranh vẫn tiếp diễn và những ngày tang tóc đã xảy tới với làn sóng người vượt biên ồ ạt từ cuối tháng tư năm 1975.
Trong hai lần Đức Mẹ Fatima Thánh du đó, cả miền Nam Việt-Nam đều hướng về Đức Mẹ chí nhân, để cầu xin “Nữ Trinh Thánh Thiện” bao che cho những ngày tang tóc đang xảy tới, nhất là vào dịp “mùa hè đỏ lửa” trên “đại lộ kinh hoàng”:
“Lạy Nữ Trinh thánh thiện,
Giữa những ngày vinh quang của Mẹ,
Xin Mẹ đừng quên
Những ưu sầu thê lương tại thế.
Xin Mẹ thương nhìn đến bao người
Đang vùi dập trong đau khổ,
Những người phải chiến đấu
Với bao gian nan thử thách,
Và những người không ngừng
Nếm cảm những đắng cay cuộc đời.
Xin Mẹ thương những người yêu nhau
Mà phải chia lìa xa cách.
Xin mẹ thương những người cô đơn
Trong tâm hồn và trong cuộc sống.
Xin thương sự yếu đuối
Của niềm tin non trẻ của chúng con.
Xin thương tất cả những gì
Chúng con hằng âu yếm chắt chiu.
Xin thương những kẻ đang than khóc,
Những kẻ đang run sợ trước cuộc đời sóng gió.
Xin Mẹ ban cho tất cả mọi người:
Sự bình an và niềm hy vọng. Amen.”
(Sách LKĐNTNK, trang 76-77)
RƯỚC KIỆU ĐỨC MẸ ĐƯỢC KHỎI ÔN DỊCH
Vào đời Đức Thánh Cha Grêgôriô XV thành Rôma phải chứng kiến một cơn dịch nặng nề ghê rợn. Có người sau 15 phút mắc bệnh đã phải chết. Có người chỉ ngáp dài hay hắc hơi một cái sau khi trúng dịch là toi mạng. Mỗi ngày chết mấy trăm người.
Đức Thánh Cha đã truyền cho giáo dân ăn chay cầu nguyện, song dịch tễ mỗi ngày một hoành hành dữ tợn hơn đến nỗi có lần Đức Thánh Cha đang giảng trong nhà thờ thì có 80 người lăn đùng ra chết. Ngài liền quay về với Đức Mẹ và truyền cho giáo dân Rôma kiệu ảnh Đức Mẹ đi khắp phố phường. Tất cả giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân đều theo kiệu Đức Mẹ, vừa đi vừa lần hạt và đọc Kinh Cầu Đức Mẹ.
Thật lạ lùng thay quyền phép và lòng nhân lành của Mẹ Thiên Chúa. Kiệu Đức Mẹ đi tới đâu thì chữa lành các bệnh nhân và đem lại bình an cho nơi đó. Người ta nhận thấy một điểm lạ là từ ngày có dịch tễ thì mặt đất mù mịt dường như khí độc từ đất bốc lên tỏa khắp bầu trời. Song khi kiệu ảnh Đức Mẹ từ nhà thờ tiến ra thì trời đất sáng tỏa dần. Đức Thánh Cha và mọi người ngước trông lên thấy trên nóc đền thờ có hình một Thiên Thần xỏ gươm vào vỏ mà lưỡi gươm còn vấy đầy máu. Chắc là dấu bề ngoài chỉ sự Thiên Chúa đã nguôi cơn giận mà tha thứ cho dân thành Rôma, nên từ hôm đó không còn ai phải chết vì dịch tễ nữa.
HƯƠNG VĨNH
(CÒN TIẾP)
(2)
ĐỨC MẸ LA-VANG
Vào những năm 1955-1956, sau hiệp định Genève 1954, đền thánh Đức Mẹ La-vang được mở cửa trở lại cho những dịp đại hội và kiệu minh niên, sau nhiều năm “bế quan tỏa cảng” vì tình hình chiến sự. Vào thời điểm đó bắt đầu những ngày lạnh lẽo trong năm, với gió heo may giá buốt, với mưa phùn rả rích, như hai câu thơ sau đây của một thi sĩ tiền chiến:
“Đã nghe rét mướt luồng trong gió,
Đã vắng người sang những chuyến đò…”
Trong những dịp đại hội và rước kiệu Đức Mẹ La-vang nầy, đa số những họ đạo miền quê ở chung quanh La-vang thuộc tỉnh Quảng Trị đã đổ xô về để cầu nguyện và dâng lên Mẹ những đau khổ trong cuộc sống, từ vật chất đến tinh thần, nhất là do hậu quả những vết thương chiến tranh để lại trong thời gian qua. Cảnh tượng những mẹ goá con côi mà trên đầu khăn tang chưa bạc màu đang đi rước kiệu Đức Mẹ với nước mắt tuôn rơi, hòa nhịp với làn mưa lâm râm và gió heo may lạnh buốt, tạo nên một bức tranh buồn thảm của quê hương Việt-Nam trải qua bao năm tháng dài chiến tranh mòn mỏi.
Lời “Cầu Nguyện Cùng Đức Mẹ La-Vang” từ thời ông bà tổ tiên chúng ta ngày xưa vẫn còn tiếp nối cho đến ngày nay và mãi mãi trong tương lai bất tận:
“Lạy ơn Đức Mẹ La-vang,
Xin nghe con mọn thở than mấy lời.
Mẹ là Mẹ thật Chúa Trời,
Mà Mẹ cũng thật Mẹ loài người ta.
Cúi xin xuống phước hà sa
Đoái xem con cái thiết tha khẩn cầu.
Nầy con quì gối cúi đầu,
Trước bàn thờ Mẹ xiết bao ước nguyền:
Cho con một dạ kính tin,
Kính thờ một Chúa hết tình thảo ngay;
Rày con dâng tấm lòng nầy,
Một niềm mến Mẹ từ nầy về sau;
Lòng con rầy chỉ ước ao
Chết trong tay Mẹ phước nào lớn hơn.
Lại xin Đức Mẹ xuống ơn
Giữ gìn cha mẹ nhà con yên hàn;
Xin cho nước trị dân an,
Nơi nơi nghe tiếng Phúc Am giảng truyền;
Những người nghèo khổ tật nguyền
Cầu liền đặng đã, xin liền đặng vui.
Dập dìu kẻ trước người lui,
Trong Nam ngoài Bắc mọi người giáo lương.
Nay con từ biệt thánh đường
Thân tuy cách đó, dạ thường mến đây.
Chốn nầy, ngày nầy, hội nầy,
Lòng nầy ghi tạc dám phai đá vàng.
Lạy ơn Đức Mẹ La-vang,
Xin nghe con mọn thở than mấy lời.
Amen.”
(Sách “Sứ Điệp Đức Mẹ La Vang” của Cố Hồng Y nguyễn Văn Thuận, trang 27-28)
ĐẠI HỘI THÁNH MẪU SAIGON
Vào những năm 1959-1960 diễn ra Đại Hội Thánh Mẫu rất lớn ở thủ đô Saigon với sự hiện diện cửa Đức Hồng Y Agagianian là Sứ Thần Tòa Thánh. Đây là dịp để giáo dân cũng như lương dân Việt-Nam bày tỏ lòng kính mến Đức Mẹ như Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã nhận xét. Tôi cũng như những giáo dân khác đã nhìn lên ảnh Mẹ Maria để cùng nhau tha thiết cầu nguyện:
“Lạy Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa,
Xin gìn giữ nơi con quả tim của trẻ thơ
Tinh tuyền và trong ngần như dòng suối.
Xin ban cho con quả tim đơn sơ,
Mau quên những nỗi buồn phiền.
Một quả tim hào hiệp dám hiến thân,
Dịu dàng để cảm thông.
Một quả tim trung thành và quảng đại,
Không quên ơn, không báo oán.
Xin tạo cho con quả tim hiền từ và khiêm tốn,
Yêu mà không mong được yêu lại,
Hân hoan xóa mình đi
Để con của Mẹ có chỗ trong lòng người khác.
Một quả tim vĩ đại và bất khuất,
Không khép lại trước những kẻ vô ơn,
Không chán nản trước người lạnh nhạt.
Một quả tim khắc khoải
Lo tìm vinh danh Chúa Giêsu Kitô,
Quả tim mang vết thương vì yêu Ngài,
Vết thương chỉ lành
Khi được sống với Ngài trên trời. Amen”.
(Lời kinh “Maria, Mẹ tuyệt mỹ”, trích từ Rabouni, sách LKĐNTNK, trang 41-42).
Thời gian đó là những năm thanh bình của đất nước từ giòng sông Bến Hải đến mũi Cà-Mâu. Nhưng những năm tháng thanh bình nầy quá ngắn ngủi và quê hương Việt-Nam từ từ đi vào một cuộc chiến tranh tương tàn khác.
ĐỨC MẸ FATIMA THÁNH DU
Khi cuộc chiến mới bắt đầu tiếp theo sau chính biến ngày 1-1-1963, Đức Mẹ Fatima đã hai lần vào thăm viếng miền Nam Việt-Nam khoảng năm 1965 và 1972-1974. Đức Mẹ đã Thánh du qua gần khắp mọi miền đất nước của miền Nam Việt-Nam để lắng nghe tiếng kêu trầm thống của bao người vô tội đã gục ngã trên mọi nẻo đường quê hương cũng như bom đạn cày nát bao làng mạc thị thành. Nhưng rồi con người không hoán cải và canh tân cuộc sống, chiến tranh vẫn tiếp diễn và những ngày tang tóc đã xảy tới với làn sóng người vượt biên ồ ạt từ cuối tháng tư năm 1975.
Trong hai lần Đức Mẹ Fatima Thánh du đó, cả miền Nam Việt-Nam đều hướng về Đức Mẹ chí nhân, để cầu xin “Nữ Trinh Thánh Thiện” bao che cho những ngày tang tóc đang xảy tới, nhất là vào dịp “mùa hè đỏ lửa” trên “đại lộ kinh hoàng”:
“Lạy Nữ Trinh thánh thiện,
Giữa những ngày vinh quang của Mẹ,
Xin Mẹ đừng quên
Những ưu sầu thê lương tại thế.
Xin Mẹ thương nhìn đến bao người
Đang vùi dập trong đau khổ,
Những người phải chiến đấu
Với bao gian nan thử thách,
Và những người không ngừng
Nếm cảm những đắng cay cuộc đời.
Xin Mẹ thương những người yêu nhau
Mà phải chia lìa xa cách.
Xin mẹ thương những người cô đơn
Trong tâm hồn và trong cuộc sống.
Xin thương sự yếu đuối
Của niềm tin non trẻ của chúng con.
Xin thương tất cả những gì
Chúng con hằng âu yếm chắt chiu.
Xin thương những kẻ đang than khóc,
Những kẻ đang run sợ trước cuộc đời sóng gió.
Xin Mẹ ban cho tất cả mọi người:
Sự bình an và niềm hy vọng. Amen.”
(Sách LKĐNTNK, trang 76-77)
RƯỚC KIỆU ĐỨC MẸ ĐƯỢC KHỎI ÔN DỊCH
Vào đời Đức Thánh Cha Grêgôriô XV thành Rôma phải chứng kiến một cơn dịch nặng nề ghê rợn. Có người sau 15 phút mắc bệnh đã phải chết. Có người chỉ ngáp dài hay hắc hơi một cái sau khi trúng dịch là toi mạng. Mỗi ngày chết mấy trăm người.
Đức Thánh Cha đã truyền cho giáo dân ăn chay cầu nguyện, song dịch tễ mỗi ngày một hoành hành dữ tợn hơn đến nỗi có lần Đức Thánh Cha đang giảng trong nhà thờ thì có 80 người lăn đùng ra chết. Ngài liền quay về với Đức Mẹ và truyền cho giáo dân Rôma kiệu ảnh Đức Mẹ đi khắp phố phường. Tất cả giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân đều theo kiệu Đức Mẹ, vừa đi vừa lần hạt và đọc Kinh Cầu Đức Mẹ.
Thật lạ lùng thay quyền phép và lòng nhân lành của Mẹ Thiên Chúa. Kiệu Đức Mẹ đi tới đâu thì chữa lành các bệnh nhân và đem lại bình an cho nơi đó. Người ta nhận thấy một điểm lạ là từ ngày có dịch tễ thì mặt đất mù mịt dường như khí độc từ đất bốc lên tỏa khắp bầu trời. Song khi kiệu ảnh Đức Mẹ từ nhà thờ tiến ra thì trời đất sáng tỏa dần. Đức Thánh Cha và mọi người ngước trông lên thấy trên nóc đền thờ có hình một Thiên Thần xỏ gươm vào vỏ mà lưỡi gươm còn vấy đầy máu. Chắc là dấu bề ngoài chỉ sự Thiên Chúa đã nguôi cơn giận mà tha thứ cho dân thành Rôma, nên từ hôm đó không còn ai phải chết vì dịch tễ nữa.
HƯƠNG VĨNH
(CÒN TIẾP)