NHÌN LÊN ẢNH MẸ TRÀNG CHUỖI MÂN CÔI
Hằng năm, mỗi khi tháng mười trở về, Giáo Hội mừng kính Đức Mẹ, đặc biệt cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi và rước kiệu Đức Mẹ Mân Côi. Mân Côi chính là hoa hồng. Như thế, với chuỗi Mân-Côi, Giáo Hội trở thành vườn hồng bao la, hương thơm sắc đẹp, dâng lên Mẹ Thiên Chúa.
Khi nhìn lên Anh Mẹ, tràng chuỗi Mân Côi đã xuất hiện như một vòng hoa muôn sắc muôn màu nối kết mọi người thành tâm thiện chí với nhau trong vòng tay ân ái của Mẹ từ bi.
Tôi đã say mến tràng chuỗi Mân Côi khi còn tấm bé. Và tràng chuỗi Mân Côi đã đồng hành với tôi mỗi ngày như hình với bóng trong suốt hành trình cuộc sống, nhất là những lúc gặp khó khăn trên đường đời.
Với hơn nửa đời người, khi nhìn lại dĩ vãng, tôi nhận thấy có đôi khi mình sắp bị nhận chìm trong đại dương cuộc sống, nhưng với tràng chuỗi Mân Côi, Đức Mẹ đã vựt tôi lên khỏi những lớp sóng phế hưng. Bài thơ “Có Đôi Khi” của Kim Lệ đã phản ảnh phần nào những đợt sóng nhấp nhô đó trong cuộc đời của tôi:
“Có đôi khi ta muốn mình trở lạiThời học sinh thơ dại, vô tưSáng cắp sách đến trườngChiều tung tăng chạy nhảyHồn nhiên nói cườiChẳng e ngại, đắn đo.
Có đôi khi ta muốn mình tự doLang thang khắp phố phường, lối ngõHát lời tình tự,Không chút âu loKhông chút muộn phiềnTự tại, an nhiên.
Có đôi khi ta muốn được bình yênNhưng đâu dễ tìm một nơi thanh vắngGiữa Saigon xôn xaoGiữa náo nhiệt cuộc đờiToàn những lời gian dốiRao bán tình người…
Có đôi khi ta muốn rong chơiĐến những nơi chân người chưa đếnNgã lưng trên đồi mà ngắm sao rơiNgồi bên bờ suối vắngNgắm bóng mìnhMà lặng nghe tiếng gió thở than.
Có đôi khi ta bỗng thấy bàng hoàngVì cuộc sống không là điều viên mản,Như đóa phù dungSớm nở tối tàn,Như đóa mai vàngRực rỡ đó rồi tả tơi…ai biết?
Có đôi khi ta thấy mình tha thiếtYêu mọi người,Yêu tiếng dế trong đêm,Yêu tiếng mưa rỉ rả bên thềm,Yêu mắt ai nhìn không nóiVà yêu nụ cười đắm đuối ai trao.
Là vậy đó! Có đôi khi vậy đó!”
TRÀNG CHUỖI MÂN CÔI VỚI AMPÈRE
Lúc lên 18 tuổi, văn hào Ozanam đến Paris với một tâm hồn không hẳn là vô tín ngưỡng, nhưng đang bị lung lay mạnh mẽ vì sự khủng hoảng đức tin.
Một hôm vào nhà thờ Notre Dame để xem những tranh ảnh và công trình kiến trúc, bỗng Ozanam trông thấy gần cung thánh một ông lão đang quì cầu nguyện. Ozanam tưởng là một giáo hữu tầm thường trong giáo xứ. Nhưng khi đến gần tận mắt xem thấy, Ozanam liền kinh hãi và giật mình vì chính là nhà bác học Ampère, một ngôi sao sáng trong giới khoa học thời bấy giờ. Tự nhiên Ozanam quì gối và ngượng nghịu thầm thĩ với Đấng mà ông đã bỏ quên lâu ngày. Lúc đó tay ông Ampère đang lần hạt, mắt nhắm và kính cẩn cầu nguyện.
Sau nầy Ozanam thường nói: “Tràng hạt của ông Ampère đã ảnh hưởng mạnh mẽ vào đời tôi hơn tất cả những cuốn sách đạo và bài giảng.”
CON ĐƯỜNG CÁI QUAN
Tháng mười ở miền Trung Việt-Nam nhằm mùa lũ lụt. Khi rước kiệu Đức Mẹ Mân Côi trong tháng đó đôi khi nước lũ dâng lên đầy đồng, chỉ chừa lại con đường cái quan. Tuy nhiên có chỗ mặt đường hơi thấp, nước lụt cũng tràn ngập luôn. Nhưng rồi giáo dân không chùn bước, mặc dù mưa lụt, vẫn rước kiệu Đức Mẹ qua ba bốn họ đạo với nhiều cây số. Nhìn đoàn người, mưa ướt tả tơi, đi chân không, rước kiệu Đức Mẹ trong gió lạnh, mới thấy lòng kính mến Đức Mẹ của giáo dân Việt-Nam đậm đà như thế nào.
Cũng trên con đường cái quan đó, nhưng vào tháng năm - tháng hoa Đức Mẹ - cuộc rước kiệu lại tưng bừng náo nhiệt hơn, với đoàn dâng hoa đủ sắc đủ màu.
Con đường cái quan đó đã chứng kiến bao cuộc tang thương của dân quê vào thời điểm đó. Những cuộc đụng độ xảy ra thường xuyên khi hai bên Quốc Cộng lâm trận. Thông thường con đường cái quan đó ban ngày được lực lượng quốc gia làm chủ, nhưng khi đêm về, quân đội quốc gia rút lui vào các đồn bót và để cho lực lượng Cộng quân mặc sức tung hoành. Đến những tuần lễ máu thì con đường cái quan đó đã chứng kiến những cuộc hành quyết dã man những lý trưởng, xã trưởng cùng những người dân vô tội.
Hằng năm, vào tháng mười và tháng năm, Đức Mẹ đã đi lại đoạn đường Can-vê đó, để chia sẽ những đau thương của người dân vô tội và ra tay cứu vớt những ai khốn cùng.
Vào thời đó, tôi còn nhỏ dại nên chỉ quan tâm đến những hình thức rước kiệu long trọng bên ngoài, mà chưa đi sâu vào đời sống nội tâm. Tuy nhiên, với tâm hồn nhỏ bé của tuổi thơ, tôi đã nguyện cầu Đức Mẹ ngày đêm như Leonce De Grandaison, qua lời kinh “Trái Tim Trẻ Thơ”:
“Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa,Xin giữ con một trái tim nhỏ béTinh truyền và trong suốt như một giòng suối.
Xin cho con một tâm hồn đơn sơKhông vấn vương u sầuĐại lượng để hiến thânĐể động lòng thương xót.Một tâm hồn trung thành và quảng đạiKhông quên một điều thiệnKhông oán hận một điều ác.
Xin làm cho con hiền dịuVà khiêm cung không chờ đáp lạiVui tươi khi được xóa nhòa,Trong lòng kẻ khác trước Giêsu con Mẹ.
Một tấm lòng cao thượngVà không chịu khuất phục,Không khép lại trước những vô ơn,Không nản lòng trước một lãnh đạm.
Một tấm lòng bị hành hạVì vinh quang của Đức Giêsu KitôBị tình yêu Ngài gây thương tíchVà vết thương chỉ bình phục trên thiên đàng.”
(Sách “Lời Kinh Đẹp Nhất Thiên Niên Kỷ” - LKĐNTNK - trang 47-48)
MẸ HẰNG CỨU GIÚP
Khi lên mười tuổi, vào mỗi dịp hè, tôi được dẫn lên đô thị Huế để tham dự tuần tam nhựt và rước kiệu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Nhìn rừng cờ xí và những đoàn thể giáo dân thuộc nhiều họ đạo miền phụ cận tề tựu về sân nhà dòng Chúa Cứu Thế để làm việc sùng kính Đức Mẹ và rước kiệu, tâm hồn nhỏ bé của tôi như chìm đắm trong cảnh hoan lạc Thiên Đàng. Tôi đã gởi gắm cho Mẹ Hằng Cứu Giúp những lo toan của tuổi trẻ và những ưu tư đối với cuôc sống hiện tại cũng như tương lai để xin Mẹ luôn phù hộ chở che.
Khi nhìn lên ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, tâm hồn tôi đã rung động với nhịp rung cảm của thi sĩ Xuân Văn - tức linh mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn (1922- 2002), nguyên là hạt trưởng Phú Yên, qua bài thơ “Danh Thánh Mẹ”:
“Maria! Ngày con còn tấm bé,Má chỉ lên tấm ảnh đẹp trên tường,Tập cho con tríu mến kêu tên Mẹ,Tên ngọt ngào, tên nghe thật dễ thương.Từ dạo ấy con ưa nhìn ảnh Mẹ,Bập bẹ kêu danh thánh Mẹ Maria!Không rõ ràng nhưng rất mực thiết tha,Càng kêu Mẹ lòng càng thêm mến Mẹ!Maria! Con ngâm khi buồn tẻ,Maria! Con hát lúc mầng vui,Maria! Hoa hồng nở trên môi,Maria! Dòng mật thơm hơn sữa!Con đã uống với tình thương chan chứa,Khi bắt đầu tập nói: ‘Maria!’Lời đầu tiên ấm như ngọc như ngà,Con học biết trong vòng tay ba má.Maria! Mẹ đầy tràn phước lạ!Danh thánh Mẹ in vào óc tuổi thơ.Quả tim con là cung thánh bàn thờ,Đặt ảnh Mẹ để trọn đời yêu mến!”
Hương Vĩnh
(CÒN TIẾP)
Hằng năm, mỗi khi tháng mười trở về, Giáo Hội mừng kính Đức Mẹ, đặc biệt cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi và rước kiệu Đức Mẹ Mân Côi. Mân Côi chính là hoa hồng. Như thế, với chuỗi Mân-Côi, Giáo Hội trở thành vườn hồng bao la, hương thơm sắc đẹp, dâng lên Mẹ Thiên Chúa.
Khi nhìn lên Anh Mẹ, tràng chuỗi Mân Côi đã xuất hiện như một vòng hoa muôn sắc muôn màu nối kết mọi người thành tâm thiện chí với nhau trong vòng tay ân ái của Mẹ từ bi.
Tôi đã say mến tràng chuỗi Mân Côi khi còn tấm bé. Và tràng chuỗi Mân Côi đã đồng hành với tôi mỗi ngày như hình với bóng trong suốt hành trình cuộc sống, nhất là những lúc gặp khó khăn trên đường đời.
Với hơn nửa đời người, khi nhìn lại dĩ vãng, tôi nhận thấy có đôi khi mình sắp bị nhận chìm trong đại dương cuộc sống, nhưng với tràng chuỗi Mân Côi, Đức Mẹ đã vựt tôi lên khỏi những lớp sóng phế hưng. Bài thơ “Có Đôi Khi” của Kim Lệ đã phản ảnh phần nào những đợt sóng nhấp nhô đó trong cuộc đời của tôi:
“Có đôi khi ta muốn mình trở lạiThời học sinh thơ dại, vô tưSáng cắp sách đến trườngChiều tung tăng chạy nhảyHồn nhiên nói cườiChẳng e ngại, đắn đo.
Có đôi khi ta muốn mình tự doLang thang khắp phố phường, lối ngõHát lời tình tự,Không chút âu loKhông chút muộn phiềnTự tại, an nhiên.
Có đôi khi ta muốn được bình yênNhưng đâu dễ tìm một nơi thanh vắngGiữa Saigon xôn xaoGiữa náo nhiệt cuộc đờiToàn những lời gian dốiRao bán tình người…
Có đôi khi ta muốn rong chơiĐến những nơi chân người chưa đếnNgã lưng trên đồi mà ngắm sao rơiNgồi bên bờ suối vắngNgắm bóng mìnhMà lặng nghe tiếng gió thở than.
Có đôi khi ta bỗng thấy bàng hoàngVì cuộc sống không là điều viên mản,Như đóa phù dungSớm nở tối tàn,Như đóa mai vàngRực rỡ đó rồi tả tơi…ai biết?
Có đôi khi ta thấy mình tha thiếtYêu mọi người,Yêu tiếng dế trong đêm,Yêu tiếng mưa rỉ rả bên thềm,Yêu mắt ai nhìn không nóiVà yêu nụ cười đắm đuối ai trao.
Là vậy đó! Có đôi khi vậy đó!”
TRÀNG CHUỖI MÂN CÔI VỚI AMPÈRE
Lúc lên 18 tuổi, văn hào Ozanam đến Paris với một tâm hồn không hẳn là vô tín ngưỡng, nhưng đang bị lung lay mạnh mẽ vì sự khủng hoảng đức tin.
Một hôm vào nhà thờ Notre Dame để xem những tranh ảnh và công trình kiến trúc, bỗng Ozanam trông thấy gần cung thánh một ông lão đang quì cầu nguyện. Ozanam tưởng là một giáo hữu tầm thường trong giáo xứ. Nhưng khi đến gần tận mắt xem thấy, Ozanam liền kinh hãi và giật mình vì chính là nhà bác học Ampère, một ngôi sao sáng trong giới khoa học thời bấy giờ. Tự nhiên Ozanam quì gối và ngượng nghịu thầm thĩ với Đấng mà ông đã bỏ quên lâu ngày. Lúc đó tay ông Ampère đang lần hạt, mắt nhắm và kính cẩn cầu nguyện.
Sau nầy Ozanam thường nói: “Tràng hạt của ông Ampère đã ảnh hưởng mạnh mẽ vào đời tôi hơn tất cả những cuốn sách đạo và bài giảng.”
CON ĐƯỜNG CÁI QUAN
Tháng mười ở miền Trung Việt-Nam nhằm mùa lũ lụt. Khi rước kiệu Đức Mẹ Mân Côi trong tháng đó đôi khi nước lũ dâng lên đầy đồng, chỉ chừa lại con đường cái quan. Tuy nhiên có chỗ mặt đường hơi thấp, nước lụt cũng tràn ngập luôn. Nhưng rồi giáo dân không chùn bước, mặc dù mưa lụt, vẫn rước kiệu Đức Mẹ qua ba bốn họ đạo với nhiều cây số. Nhìn đoàn người, mưa ướt tả tơi, đi chân không, rước kiệu Đức Mẹ trong gió lạnh, mới thấy lòng kính mến Đức Mẹ của giáo dân Việt-Nam đậm đà như thế nào.
Cũng trên con đường cái quan đó, nhưng vào tháng năm - tháng hoa Đức Mẹ - cuộc rước kiệu lại tưng bừng náo nhiệt hơn, với đoàn dâng hoa đủ sắc đủ màu.
Con đường cái quan đó đã chứng kiến bao cuộc tang thương của dân quê vào thời điểm đó. Những cuộc đụng độ xảy ra thường xuyên khi hai bên Quốc Cộng lâm trận. Thông thường con đường cái quan đó ban ngày được lực lượng quốc gia làm chủ, nhưng khi đêm về, quân đội quốc gia rút lui vào các đồn bót và để cho lực lượng Cộng quân mặc sức tung hoành. Đến những tuần lễ máu thì con đường cái quan đó đã chứng kiến những cuộc hành quyết dã man những lý trưởng, xã trưởng cùng những người dân vô tội.
Hằng năm, vào tháng mười và tháng năm, Đức Mẹ đã đi lại đoạn đường Can-vê đó, để chia sẽ những đau thương của người dân vô tội và ra tay cứu vớt những ai khốn cùng.
Vào thời đó, tôi còn nhỏ dại nên chỉ quan tâm đến những hình thức rước kiệu long trọng bên ngoài, mà chưa đi sâu vào đời sống nội tâm. Tuy nhiên, với tâm hồn nhỏ bé của tuổi thơ, tôi đã nguyện cầu Đức Mẹ ngày đêm như Leonce De Grandaison, qua lời kinh “Trái Tim Trẻ Thơ”:
“Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa,Xin giữ con một trái tim nhỏ béTinh truyền và trong suốt như một giòng suối.
Xin cho con một tâm hồn đơn sơKhông vấn vương u sầuĐại lượng để hiến thânĐể động lòng thương xót.Một tâm hồn trung thành và quảng đạiKhông quên một điều thiệnKhông oán hận một điều ác.
Xin làm cho con hiền dịuVà khiêm cung không chờ đáp lạiVui tươi khi được xóa nhòa,Trong lòng kẻ khác trước Giêsu con Mẹ.
Một tấm lòng cao thượngVà không chịu khuất phục,Không khép lại trước những vô ơn,Không nản lòng trước một lãnh đạm.
Một tấm lòng bị hành hạVì vinh quang của Đức Giêsu KitôBị tình yêu Ngài gây thương tíchVà vết thương chỉ bình phục trên thiên đàng.”
(Sách “Lời Kinh Đẹp Nhất Thiên Niên Kỷ” - LKĐNTNK - trang 47-48)
MẸ HẰNG CỨU GIÚP
Khi lên mười tuổi, vào mỗi dịp hè, tôi được dẫn lên đô thị Huế để tham dự tuần tam nhựt và rước kiệu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Nhìn rừng cờ xí và những đoàn thể giáo dân thuộc nhiều họ đạo miền phụ cận tề tựu về sân nhà dòng Chúa Cứu Thế để làm việc sùng kính Đức Mẹ và rước kiệu, tâm hồn nhỏ bé của tôi như chìm đắm trong cảnh hoan lạc Thiên Đàng. Tôi đã gởi gắm cho Mẹ Hằng Cứu Giúp những lo toan của tuổi trẻ và những ưu tư đối với cuôc sống hiện tại cũng như tương lai để xin Mẹ luôn phù hộ chở che.
Khi nhìn lên ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, tâm hồn tôi đã rung động với nhịp rung cảm của thi sĩ Xuân Văn - tức linh mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn (1922- 2002), nguyên là hạt trưởng Phú Yên, qua bài thơ “Danh Thánh Mẹ”:
“Maria! Ngày con còn tấm bé,Má chỉ lên tấm ảnh đẹp trên tường,Tập cho con tríu mến kêu tên Mẹ,Tên ngọt ngào, tên nghe thật dễ thương.Từ dạo ấy con ưa nhìn ảnh Mẹ,Bập bẹ kêu danh thánh Mẹ Maria!Không rõ ràng nhưng rất mực thiết tha,Càng kêu Mẹ lòng càng thêm mến Mẹ!Maria! Con ngâm khi buồn tẻ,Maria! Con hát lúc mầng vui,Maria! Hoa hồng nở trên môi,Maria! Dòng mật thơm hơn sữa!Con đã uống với tình thương chan chứa,Khi bắt đầu tập nói: ‘Maria!’Lời đầu tiên ấm như ngọc như ngà,Con học biết trong vòng tay ba má.Maria! Mẹ đầy tràn phước lạ!Danh thánh Mẹ in vào óc tuổi thơ.Quả tim con là cung thánh bàn thờ,Đặt ảnh Mẹ để trọn đời yêu mến!”
Hương Vĩnh
(CÒN TIẾP)