Bông Hồng 3: MARIA, Niềm Hy Vọng.

THỨ BA:

CHÚA GIÊSU GIÁNG SINH

Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Và kìa sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ: “Anh em đừng sợ. Này tôi bảo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”. Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương. (Lc 2:8-14).Ernst Bloch đã phát biểu rằng ở đâu có hy vọng, ở đấy có tôn giáo. Hy vọng vừa là căn nguyên, vừa là kết quả của tôn giáo. Thánh Phaolô cũng đã nói: “Trong hy vọng chúng ta đã được cứu độ” (Rm 8:24).

I- HY VỌNG VÀO LỜI THIÊN CHÚA HỨA:

Thánh Kinh là lịch sử của ơn cứu rỗi gồm các bài học và những khuôn mẫu của niềm hy vọng. Sau sự sa ngã của Adong và Evà, lời hứa của Thiên Chúa được ban ra: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3:15). Người phụ nữ được coi như là dấu chỉ của niềm hy vọng.Trong lúc mong chờ, tiên tri Isaia đã được Thần Khí linh hứng để nhắc lại lời Thiên Chúa đã hứa: “Chính Thiên Chúa sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en” (Is 7:14).

Vì thế, trải qua bao nhiêu thế kỷ, ước mơ được làm mẹ của Đấng Cứu Thế đã trở nên phổ quát đối với mọi cô trinh nữ Do Thái. Chắc chắn rằng trong gia đình của Đức Maria, những lời hứa này cũng thường xuyên được suy niệm chung với nhau. Chúng ta có thể suy diễn mà không sợ sai lầm rằng trước khi sứ thần loan tin cho Đức Maria làm mẹ Đấng Cứu Thế, Maria, người nữ tử kiều diễm nhất của Sion, đã cầu xin hằng ngày rằng ước gì cung lòng của nàng sẽ là nơi phát sinh ơn cứu độ như lời Thiên Chúa đã hứa trong Thánh Kinh.

II- HY VỌNG VÀO C HÚA GIÊSU KITÔ:

Khi người mẹ biết mình có thai, tất cả niềm hy vọng và ước mơ của bà sẽ tập trung vào người con yêu quý trong cung lòng mình. Người con là niềm hy vọng của người mẹ, gia đình, dòng tộc, quê hương và nhân loại. Sau khi được sứ thần truyền tin, Đức Maria đã ý thức điều này với niềm hy vọng và vui mừng cảm tạ Thiên Chúa trong lời kinh “Ngợi Khen” rằng: “Linh hồn tôi ngợi Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi… Chúa độ trì Israel, tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời.” (Lc 1: 46-55).Tất cả niềm hy vọng và hình ảnh được áp dụng cho Thiên Chúa trong thời Cựu Ước, đến thời Tân Ước, được quy hướng về Chúa Giêsu Kitô. Người là Đấng Cứu Thế: “Hôm nay một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa…” (Lc 2:11; Acts 13:23; Tt 1:4; 3:6), Đấng mang lại “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2:14), Đấng được gọi là Hoàng Tử của Bình An, Vua của các Vua, nguồn mạch của sự sống (Ga 6:35), sự chết và sống lại (Lc 24:46). Tất cả những lời hứa của Thiên Chúa được hoàn tất nơi Người: “Quả thật, mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là ‘có’ nơi Người” (2 Cr 1:20). Người chính là đá tảng vững bền của mọi niềm hy vọng (1 Pr 2:4-7).

III- HY VỌNG VÀO ĐỨC MARIA:

Thánh Phaolô, vị tông đồ của niềm hy vọng, đã khuyên chúng ta như sau: “Quả thế, khi Thiên Chúa hứa với ông Ápraham, Người đã không thể lấy danh ai cao trọng hơn mình mà thề, nên đã lấy chính danh mình mà thề rằng: Ta sẽ ban phúc dư dật cho ngươi và sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông vô số. Như thế, vì nhẫn nại đợi chờ, ông Ápraham đã nhận được lời hứa... Thiên Chúa không thể nói dối được. Do đó, chúng ta là những kẻ ẩn náu bên Thiên Chúa, chúng ta được mạnh mẽ khuyến khích nắm giữ niềm hy vọng dành cho chúng ta. Chúng ta có niềm hy vọng đó cũng tựa như cái neo chắc chắn và bền vững của tâm hồn, chìm sâu vào bên trong bức màn cung thánh. Đó là nơi Đức Giêsu đã vào như người tiền phong mở đường cho chúng ta, sau khi trở thành vị Thượng Tế đời đời theo phẩm trật Menkixêđê. “ (Dt 6: 13-20).

Hy vọng là cái mỏ neo hữu ích giữ chúng ta bền vững trong Đức Giêsu Kitô giữa cuộc đời đầy phong ba sóng gió của người Kitô hữu. Đây là bài học quý giá mà thánh Phaolô đã rút ra được từ Kinh Thánh, kinh nghiệm cá nhân của mình, và đặc biệt từ việc suy niệm về đời sống của Đức Maria.Thật vậy, thánh Phaolô vị tông đồ dân ngoại lẽ nào lại không yêu mến, hấp thụ và bước theo con đường thánh thiện của đức tin, cậy và mến mà Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu đã sống. Hãy so sánh lời khuyên của thánh Phaolô ở trên với bài “Ngợi Khen” (Magnificat) của Đức Maria do Luca diễn tả, chúng ta sẽ nhìn thấy cùng một kinh nghiệm, tâm tư và suy niệm: “Chúa độ trì Israel, tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời.” (Lc 1: 55).

Luca, một người đồng hành với Phaolô trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng, cũng là một người dân ngoại đã trở lại. Luca không phải là người chính gốc Do Thái, nên không thể viết ra những bản tường thuật về thời thơ ấu của Chúa Giêsu với một mạch văn và truyền thống thuần túy Do Thái được. Theo các nhà chú giải thánh kinh cho biết, họ tin rằng bản tường thuật của Thánh Luca về thời thơ ấu của Chúa Giêsu đã được thêm vào Phúc âm của Luca từ một truyền thống khác do chính Đức Maria lưu lại qua những nhóm phụ nữ Kitô hữu đầu tiên (The Silence of Maria, Ignacio Larranaga, O.F.M. p. 15-27).

Quả vậy, sự thánh thiện, lòng đạo đức, và niềm tin cậy mến của Đức Maria nơi Chúa Giêsu Kitô đã ảnh hưởng trên toàn thể Giáo Hội, bắt đầu ngay từ buổi sơ khai mới thành lập cho đến muôn đời. Vì thế, niềm hy vọng của chúng ta ngày nay là hy vọng vào chính Đức Maria. Nói theo ĐGH Gioan Phaolô II: đó là con đường của Đức Maria. Đó là “để Mẹ dẫn dắt chúng ta khám phá bí mật của niềm vui Kitô giáo, khi nhắc nhở chúng ta rằng Kitô giáo tiên vàn là Evangelion, Tin Mừng, mà trung tâm và toàn bộ nội dung của Tin Mừng là con người Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời mặc lấy xác phàm, Đấng Cứu Độ duy nhất của thế giới.” (Tông Thư Kinh Mân Côi, Rosarium Virginis Mariae, đoạn 20).

Tại một làng nhỏ ở Đức, theo phong tục của cha ông để lại từ mấy trăm năm qua, cứ mười năm một lần đến ngày Chúa chịu chết, họ diễn lại cuộc tử nạn của Chúa đầy chi tiết và sinh động. Trong đó có một cảnh nói về Giuđa, sau khi phản bội Thầy mình bằng một cái hôn, Giuđa cảm thấy chán nản tuyệt vọng đến độ không còn tin tưởng vào tình thương tha thứ của Chúa nữa. Ông cầm lấy ba mươi đồng bạc là giá bán Chúa đi vào đền thờ và ném trả cho các thượng tế và kỳ lão. Sau đó, ông đi thắt cổ tự tử, trước khi tự tử ông ra ngoài ngồi than thở: “Tôi đã phản bội Thầy tôi. Tôi không còn biết chạy đến với ai nữa!”

Một em bé gái đang ngồi trong lòng mẹ thông cảm cho số phận của kẻ chìm đắm trong tuyệt vọng, em muốn tìm cách để cứu vớt con người khốn khổ ấy. Em quay sang mẹ và nói lớn đến nỗi tất cả khán giả trong hội trường đều nghe rõ: “Mẹ ơi! Tại sao ông ta không chạy đến với Mẹ Maria!” Lạy Mẹ Maria, xin cho chúng con biết chạy đến cùng Mẹ trong những lúc gian nan và thất vọng của cuộc đời. Có những lúc chúng con sa ngã, phạm tội, sống nổi trôi theo dòng đời tội lỗi. Nhiều khi muốn quay trở về với Chúa, nhưng chúng con sợ hãi vì nghĩ rằng phải đối diện với cái nhìn nghiêm khắc của Chúa Giêsu. Xin cho chúng con biết chạy đến cùng Mẹ, nhờ bàn tay dịu hiền và từ ái của Mẹ dẫn dắt chúng con trở về với Chúa Giêsu Kitô, Con Mẹ.