Lời Dẫn Nhập:

Như Tinh thần đã được chuẩn bị trong một bài viết trước đây: Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã quyết định chọn từ tháng 10 năm 2002 tới tháng 10 năm 2003 là Năm Mân Côi.

Năm Mân Côi đã dẫn đưa chúng ta bước vào Năm Thánh Thể, từ tháng 10 năm 2004 tới tháng 10 năm 2005. Nhân dịp Đại Hội Thánh Thể Thế Giới sắp tới tại Guadalajaira, Mễ Tây Cơ, Đức Thánh Cha sẽ khai mạc Năm Thánh Thể.

Theo sự hướng dẫn của Đức Thánh Cha, trong Tháng Mân Côi này, Vietcatholic xin được gởi đến quý đọc giả những bài suy niệm về Các Mầu Nhiệm trong Kinh Mân Côi, về Bẩy Sự Thương Khó và Đức Tin của Mẹ Maria, để rồi cùng với Mẹ Maria dẫn đưa chúng ta đến gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô trong Bí Tích Thánh Thể qua suy niệm Sống Thánh Lễ với Mẹ Maria.

Ước gì mỗi bài suy niệm như một Bông Hồng Kính Dâng Mẹ Maria trong suốt Tháng Mân Côi của năm 2004 này.

Bông Hồng I: Căn Nguyên Của Niềm Vui

THỨ NHẤT:

THIÊN THẦN TRUYỀN TIN

Bà Êlisabét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nagiarét, gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc Đavít. Trinh nữ ấy tên là Maria. Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”. Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận…. Bấy giờ bàMaria nói: “Xin vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. (Lc 1:26-33, 38).

Thiên Chúa đã dựng nên con người với bản tính tự nhiên là tìm kiếm hạnh phúc. Cựu Ước đã nói về lịch sử đi tìm kiếm hạnh phúc của dân tộc Israel, dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn. Toàn bộ Kinh Thánh là sách nói về niềm vui. Bốn Phúc Âm được gọi là Tin Mừng. Cuộc đời của các thánh với những đường lối nên thánh tuy khác nhau, nhưng đều là những phương thức thực hành cụ thể để tìm thấy niềm vui đích thật của tâm hồn.

Thánh Phaolô đã mong muốn cho mọi người tín hữu ở Philípphê luôn vui vẻ khi ngài khuyên họ rằng: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Thiên Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em!” (Pl 4:4).Châm ngôn để sống của các thầy dòng chiêm niệm đã được chính Thánh Bênêđictô tu viện trưởng viết ra như sau: “Hãy cầu nguyện, hãy làm việc, và đừng bao giờ chán nản!”

Vào thế kỷ thứ 17, Thánh Phanxicô Salê, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh, một nhà giảng thuyết vui tươi, đã đưa khoảng 72 ngàn người trong bè rối Calvin ở Challais nước Pháp về với Giáo Hội, đã nói một câu rất nổi tiếng: “Một vị thánh buồn là một thánh đáng buồn!” (A sad saint is a sorry saint!). Đức tin tôn giáo mang lại niềm vui. Chính sự thánh thiện là nguồn vui. Chúng ta càng vui tươi càng dễ dàng phục vụ Thiên Chúa.

Trải qua bao nhiêu thế kỷ, những người Kitô hữu đã nhìn lên Đức Maria như là “Căn nguyên của niềm vui” (Cause of Our Joy) với lời xác tín trong Kinh Cầu Đức Bà: “Đức Bà làm cho chúng con vui mừng”. Đức Maria đã được suy tôn là “Căn nguyên của niềm vui” vì Mẹ đã đặt trọn vẹn niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa một cách tuyệt đối như lời Phúc Âm ghi nhận: “Xin vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1:38). Dù chưa biết tương lai của cuộc đời sẽ ra sao, nhưng với lòng khiêm tốn, niềm tin tưởng phó thác trong tay Thiên Chúa hướng dẫn đã tạo nên niềm vui, sự bình an và hoan lạc là khởi điểm cho ơn gọi của Đức Maria. Trong lịch sử Giáo Hội đã có biết bao nhiêu những vị thánh đã bước theo gương mẫu của Đức Mẹ Maria mà tìm thấy niềm vui và hạnh phúc trong cuộc đời.

Một trong những chứng từ hiện đại có sức thu hút nhất là của Đức cha Ratna. Đức cha Ratna đã viết trên 20 cuốn sách bằng tiếng Thái Lan. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Phật Tử tại Bangkok vào năm 1916, được rửa tội năm 1937, lúc 21 tuổi. Lãnh chức linh mục năm 1949. Năm 1969, được ĐGH Phaolô VI chọn làm Giám Mục địa phận Ratchaburi, Thái Lan. Năm 1972, ngài được Hội Đồng Giám Mục Thái Lan cử làm đại diện tại Thượng Hội Đồng Giám Mục ở Roma.Thuở bé ngài được học trường tiểu học của các thày dòng Thánh Gabriel, rồi lên học viện Wan Yan và Hồng Kông của các cha Dòng Tên. Mặc dù ngài chỉ học môn giáo lý như mọi môn học khác với sự thờ ơ và lạnh nhạt, nhưng hạt giống đức tin đã gieo xuống và nảy nở trong tâm hồn, cho đến một ngày, ngài đã tự thuật lại như sau:

“Một người bạn nọ gặp tôi và cho biết có một vài người cho rằng cách sống của tôi thay đổi nhiều sau kỳ cấm phòng. Tôi suy nghĩ về việc này và thật sự tôi cảm thấy có một niềm vui, một tia sáng phát xuất từ tâm tư mà trước đó tôi chưa bao giờ cảm thấy. Tôi cười và cười thật to với một hạnh phúc dường như đầy ắp trong tâm hồn, tôi nhận thấy được rằng có một ân sủng thiêng liêng đang bao phủ tôi, không trách gì một vài người bạn tinh ý đã nhận ra điều này. Một nguồn ân sủng thiêng liêng đã ào đến làm trôi đi sự lạnh nhạt thờ ơ trong tâm hồn tôi, làm thỏa mãn sự khao khát chân lý và hạnh phúc tự nhiên trong đời sống. Những mầu sắc tươi vui đã xuất hiện trên sự héo úa của linh hồn tôi. Mảnh xương khô trong sa mạc nay đã có dấu hiệu của sự sống. Tất cả những điều này phát khởi và kết tụ trong linh hồn tôi một cách lặng lẽ, âm thầm đến nỗi chính tôi cũng chẳng mảy may hay biết.

Như bị lôi cuốn bởi một sức mạnh ân sủng không thể cưỡng chế nổi, con tàu linh hồn tôi đang chuẩn bị bỏ neo tại một hải cảng thánh thiện: Giáo Hội Công Giáo. Đêm đã rút lui, nhường không gian cho ánh sáng ban ngày. Sương mù đã tan biến cho con mắt linh hồn tôi chiêm ngưỡng thế giới thiêng liêng. Bàn tay thần linh đã đụng đến tìm tôi và sự tiếp xúc đem đến một nguồn sáng, một lẽ sống cho linh hồn tôi.” (Mảnh Xương Khô Trong Sa Mạc, Lm Bùi Đức Tiến dịch, trích từ CD VieCatholic 2003).

Quả thật, nhà giảng thuyết nổi danh của Anh Giáo vào thế kỷ 19, Charles Haddon Spurgeon đã nói bằng kinh nghiệm tâm linh của ông rằng: “Một đức tin nhỏ thì đưa linh hồn bạn vào thiên đàng. Một đức tin lớn thì sẽ đưa thiên đàng vào linh hồn bạn.”Phải, với đức tin tôn giáo dù lớn hay nhỏ đều có thể đưa con người đến thiên đàng. Khi chúng ta làm điều thiện, việc lành, tự trong tâm hồn mình cảm nhận được một niềm vui sướng hân hoan. Đức tin Kitô giáo thường được ví với ánh sáng để hướng dẫn và soi đường, bởi Chúa Giêsu đã nói: “Ta là ánh sáng thế gian” (Ga 8:12).

Người nào đi về phía ánh sáng thì không thể có bóng tối nào ở phía trước mình được, nhưng nếu người đó quay lưng lại với ánh sáng sẽ phải bước đi ngay trong bóng tối của chính mình. Ánh sáng đức tin mang lại niềm vui, vì chúng ta học biết được chính bản thân mình và những giá trị của thế giới. Trong ánh sáng đức tin chúng ta nhận biết được sự thật, ý nghĩa của cuộc sống hiện sinh trên trần thế và sự cao cả của đời sống siêu nhiên được ban cho chúng ta bởi tình yêu Thiên Chúa. Con người ước ao đi tìm sự thật. Đó là khát vọng về Đấng Tuyệt Đối. Chỉ có đức tin mới thỏa đáng được cái khát vọng vô biên này, mang lại niềm hy vọng, tạo nên cảm giác hài lòng và vui tươi cho con người.

Chính thánh Augustinô đã nói: “Hạnh phúc không gì khác hơn là niềm vui của sự thật”. Trái lại, nếu không có ánh sáng đức tin thì vũ trụ, cuộc sống nhân sinh và tất cả những gì có liên quan tới con người chỉ là một trò hề diễu cợt, một khối hỗn mang vô nghĩa. Cuộc sống con người sẽ trở nên tuyệt vọng và buồn bã do sự đe dọa của nỗi cô đơn và trống rỗng. Nếu không có ánh sáng đức tin, chúng ta sẽ giống như anh mù Báctimê ở Giêrikhô (Mc 10:46), một mình ngồi yên bên vệ đường trong cơn sợ hãi vì không biết những bước chân sắp tới sẽ rơi xuống đâu.Chúng ta đang đi tìm kiếm hạnh phúc. Giống như chim sơn ca líu lo dưới ánh hừng đông, chúng ta cũng vui mừng ca hát dưới ánh sáng của niềm tin tôn giáo vào Thiên Chúa.

Noi gương Đức Maria, càng tin tưởng mạnh mẽ, chúng ta càng trông thấy tỏ tường. Càng nhìn thấy rõ, chúng ta càng say mê yêu mến. Và càng yêu nhiều, chúng ta càng cảm thấy hạnh phúc, vì chỉ một mình Thiên Chúa mới ban tặng được cho chúng ta mà thôi. Đức Maria đã được gọi là “có phúc” vì “đã tin rằng Thiên Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói” (Lc 1:45). Đây là bài học cho tất cả chúng ta, những người đang đi tìm kiếm hạnh phúc và niềm vui.