CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN. C
CẬY TRÔNG VÀ NƯƠNG TỰA VÀO CHÚA
(Lc 17,5-10)
Phúc âm hôm nay mở đầu bằng một lời cầu xin: “Thưa thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con”. Điều chi đã thúc đẩy các Tông đồ phải kêu cứu Chúa như vậy? Sự thường, chúng ta chỉ kêu xin khi có nhu cầu cấp thiết mà tự thân không thể giải quyết được. Cho nên có thể đoán ra, các môn đệ đang lâm vào tình huống đặc biệt khó khăn! Hoặc giả những đòi hỏi của cuộc sống hoặc Đức tin trước những thử thách? Bài đọc 1 cho thấy tiên tri Kha-ba-cúc đang phải chịu đựng những điều nghiệt ngã tương tự. “Con la lên: Bạo tàn! Mà Ngài không cứu vớt”. Ông ta đang phải trải qua “toàn là cảnh phá phách, bạo lực, chỗ nào cũng thấy tranh chấp, và cãi cọ”. Khiến tiên tri phải kêu lên để cầu cứu: “Cho đến bao giờ, lạy Đức Chúa, con kêu van mà Ngài chẳng đoái nghe”. Vậy các Tông đồ trong phúc âm hôm nay cũng thế: “Xin Thầy thêm lòng tin cho chúng con.”
Nếu nhìn lại từ đầu đoạn 17, chúng ta sẽ tìm ra lý do. Câu 1 Chúa nói về gương mù, gương xấu: “Khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã. Thà buộc cối đá vào cổ nó và xô xuống biển, còn lợi cho nó hơn”. Tiếp theo là về việc sửa lỗi và tha thứ. Một công việc hết sức tế nhị và khó khăn, nó đòi hỏi cố gắng vượt bực. Luật chung là 3 lần (quá tam ba bận). Luật Do thái 4 lần. Thánh Phêrô xin 7 lần. Nhưng Chúa Giêsu nói 70 lần 7. Nghĩa là phải tha thứ luôn, đừng nuôi lòng hận thù. Công việc hoàn toàn vượt khỏi khả năng loài người! Cho nên các Tông đồ cảm thấy Đức tin của mình quá bé nhỏ để có thể theo đuổi được đòi hỏi của Chúa Giêsu. Họ cảm thấy mình bất lực. Họ xin thêm Đức tin là điều hiển nhiên. Đây cũng là trường hợp của các tín hữu mọi nơi, mọi thời. Chúng ta hãy lấy điều cụ thể nhất làm ví dụ: Cuộc sống gia đình hằng ngày. Muốn sống lành thánh giữa gia đình, xóm làng, người tín hữu cần lòng kiên nhẫn to như trái núi và tha thứ rộng như đại dương! Nhiều linh hồn không chịu nổi đã phải thốt lên thảm thiết: “Thánh giá nặng quá, xin Chúa cứu chữa linh hồn con!” Xin nhớ trường hợp của ông Gióp. Thêm vào đó những hậu quả tai hại gần đây của nếp sống sa đoạ trên cộng đoàn đức tin: Lạm dụng tình dục, lừa đảo, giả hình. Nếu không có lòng quảng đại tha thứ, thử hỏi giáo xứ còn tồn tại được bao lâu?
Vì vậy các Tông đồ xin Chúa ban thêm Đức tin cho họ. Không có Đức tin, cuộc sống Kitô hữu kể như không thực hiện được. Tuy nhiên các ông nghĩ đó là vấn đề số lượng. Đức tin cần lớn hơn. Nhưng Chúa Giêsu cho hay không phải số lượng mà là chất lượng. Họ chỉ cần Đức tin bằng hạt cải, nhưng phẩm chất tốt thì họ có thể truyền cho cây dâu nhổ rễ và đi mọc ngoài đại dương! Dĩ nhiên Ngài dùng ngôn ngữ tượng hình cho ta hiểu vấn đề: Không phải số lượng nhưng phẩm chất mới đáng kể. Chất lượng Đức tin quan trọng để làm được phép lạ. Đức tin lãnh nhận khi chịu phép thánh tẩy đã quá đủ để chúng ta sống cuộc đời tín hữu tốt, không cần ngoại lệ để làm phù phép trước mắt thiên hạ. Nhưng cần đức tin tinh tuyền, tránh những ích kỷ trước tôn nhan Thiên Chúa, ngõ hầu sống mật thiết với Ngài và cảm nghiệm được Ngài là nguồn mạch sức sống tự nhiên và siêu nhiên. Lúc ấy chúng ta có khả năng sống tốt, tỏ hiện bằng lòng quảng đại tha thứ như Đức Kitô trên thập giá. Bởi lẽ chính chúng ta cũng hằng được Thiên Chúa thứ tha. Lòng tha thứ anh hùng ấy trong giáo xứ sẽ là dấu chỉ to lớn Thiên Chúa đang hiện diện, làm gương và thúc đẩy chúng ta thực hiện những công trình yêu thương.
Người đầy tớ trong dụ ngôn rõ ràng phải là một công nhân tốt, làm việc cực nhọc. Sau công việc đồng áng người ta còn trông đợi hắn hầu bàn. Có đúng Thiên Chúa đòi hỏi các tín hữu như vậy chăng? Khi đã làm tốt các bổn phận, chúng ta vẫn bị Ngài đánh giá là vô dụng? Liệu có khi nào Thiên Chúa hài lòng với những cố gắng của chúng ta không? Liệu chúng ta có đươc nghỉ ngơi? Xin nhớ đây là dụ ngôn, chỉ nói lên khía cạnh nào đó, chứ không toàn bộ chân lý. Cho nên đừng so sánh chi ly giữa ông chủ và Thiên Chúa đầy yêu thương. Đó không phải là chủ ý của Đức Kitô khi kể dụ ngôn này. Sau khi nghe Ngài dạy dỗ về gương mù gương xấu, về tha thứ, chúng ta đi đến kết luận, giống như người đầy tớ trong dụ ngôn, mình chỉ là kẻ thi hành bổn phận, chứ không phải làm thuê để lãnh công. Nghĩa là những việc lành nói chung không phải là giá trị để được thưởng hoặc đền bù thoả đáng. Đúng hơn nó là sự đáp trả lòng tốt của Đức Chúa Trời. Trong việc phục vụ Ngài không ai được quyền coi mình là thiết yếu. Có thể đưa ra một ví dụ: Trong gia đình, chúng ta đôi khi ban cho con cái tiền bạc để chúng tiêu sài. Nhưng chúng ta không phải trả công cho chúng mỗi khi chúng dọn bàn ăn, rửa chén đĩa, quét nhà, đổ rác… đó là việc bổn phận của chúng. Thiên Chúa chẳng mắc nợ chúng ta điều chi. Tất cả những gì Thiên Chúa ban cho chúng ta đều là hồng ân (tout est grace). Thánh Têrêsa Hài đồng đã phát biểu như vậy. Sự thật đúng như thế. Cho nên xin đừng kêu ngạo vì một công việc nào! Thánh Phaolô còn nhấn mạnh hơn: “Anh em chớ có vênh vang về điều chi, trừ phi về những yếu đuối của mình và quyền năng của Thiên Chúa nơi anh em (1Cr 1,31). Chúa ban cho mọi người đời sống mới với khả năng tha thứ và yêu thương để chúng ta làm môn đệ Ngài và thế gian thấy rõ chứng tá của Ngài nơi mỗi tín hữu. Sống khác đi là phản bội ơn Chúa. Cho nên ơn Ngài đã đủ cho chúng ta vượt qua mọi khó khăn và thực hiện những công việc cần thiết để nước Ngài ngự đến. Sự thực có những giây phút chúng ta phải trải qua thử thách hoặc tình thế đòi hỏi hy sinh tiền bạc, thời giờ, công sức. Nhưng cố gắng không chưa đủ, còn cần Đức tin, tức là ơn Chúa để chu toàn thánh ý của Ngài, dù đôi khi chúng ta cảm thấy đức tin đó chỉ nhỏ như hạt cải. Vì thế, Thánh thể chúng ta sắp cử hành cho chúng ta lý do để cảm ơn Thiên Chúa. Bởi lẽ như kinh tiền tụng dạy, việc tạ ơn và chúc tụng luôn luôn là chính đáng và phải đạo.
Bài đọc tiên tri Kha-ba-cúc rất xúc tích. Nhiều tư tưởng cần được khai triển thêm. Thí dụ mạch văn của tác giả. Ông kêu cầu Gia-vê và Thiên Chúa đã trả lời bằng một thị kiến đang đến. Nó sẽ được hoàn thành, Israel sẽ được yên ổn, còn Canđê kẻ áp bức sẽ bị sụp đổ. Phần thứ nhất của bài đọc là lời than vãn: “Cho đến bao giờ, lạy Đức Chúa, con kêu cứu mà Ngài chẳng đoái nghe. Con la lên: bạo tàn mà Ngài không cứu vớt? Sao Ngài bắt con phải chứng kiến tội ác hoài, còn Ngài cứ đứng nhìn cảnh khổ đau?” Từ vài nghìn năm trước, tiên tri đã nói lên những khắc khoải mà hôm nay chúng ta vẫn còn chịu đựng. Lời nói của ngôn sứ cũng chính là tiếng kêu của cộng đồng nhân loại ngày nay nói chung hay của từng giáo xứ nói riêng. Giáo xứ nào, làng mạc nào, khu phố nào mà không chứng kiến những cảnh đau lòng mà vị tiên tri nêu lên: Xì ke, ma tuý, trộm cướp, áp bức, tội ác có tổ chức. Vấn đề là Thiên Chúa có ra tay can thiệp? Biết bao cha mẹ đau lòng vì con cái mắc vào tệ nạn xã hội mà quyền năng Thượng đế có cứu vớt? Nỗi đau của chúng ta hôm nay đồng hoá với những khắc khoải của Kha-ba-cúc từ nhiều ngàn năm trước! Vị tiên tri đặt câu hỏi: Cho đến bao giờ? Cũng là câu hỏi của mỗi gia đình mắc phải thảm hoạ ngày nay: Rượu chè, say sưa, lười biếng, ly dị. Nói chung nó là tiếng kêu cứu đứt ruột của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong hoàn cảnh hiện tại. Trên bình diện quốc tế, tiếng kêu này còn rõ nét hơn: Chiến tranh, gương mù giáo sĩ, nhiều dân tộc lâm cảnh đói khát, môi trường sống bị ô nhiễm, phá huỷ, khủng bố dã man và còn nhiều tiếng kêu than khác nữa: Lạy Thiên Chúa, cho đến bao giờ? Loài ngươi hoàn toàn bất lực. Nhiều triết gia, thần học gia, nhiều vị sáng lập tôn giáo lớn như Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca, Mahômet, đã đưa ra lý thuyết, súng đạn, lời khuyên răn, nhưng chỉ làm cho vấn đề thêm rối nát. Ngày nay nhân loại chỉ còn biết kêu gọi ý thức từng người để giảm bớt nguy hiểm. Tuy nhiên trước tôn nhan Thiên Chúa, người tín hữu có quyền kêu than. Kêu than Gia-vê về những tai hoạ này và trăm ngàn tai hoạ khác: người nghèo bị bỏ rơi, trẻ em bị bóc lột sức lao động, phụ nữ bị bán làm nô lệ tình dục, phá thai bừa bãi. Tiên tri Kha-ba-cúc đã nghe đường lối Chúa mà trình bày lên Ngài những khổ nhục của dân tộc Israel, thì chúng ta cũng được phép than vãn về số phận mình. Những tai hoạ ngoài sức tưởng tượng thình lình ập xuống vô số người vô tội, như hàng ngày xảy ra ở Iraq, Palestine, Inđônêsia, Sudan…
Tiên tri đã không sợ hãi đối mặt vơi Thiên Chúa và nói lên những điều can đảm mà ngày nay chúng ta không dám bày tỏ, ông tố cáo Thiên Chúa không can thiệp: “Ngài bắt con phải chúng kiến tội ác hoài, còn Ngài cứ đứng nhìn cảnh khổ đau?” Đồng thời nó là một lời cầu khẩn theo truyền thống Do thái. Đức Kitô cũng nguyện cầu như vậy tại vườn cây dầu và trên thập giá: “Lạy Cha, tại sao cha bỏ con?” (Mt,27,46). Khi cuộc đời Ngài sắp chấm dứt bỏ lại công việc dở dang. Chúng ta thường được dạy cho biết không nên có thái độ như vậy. Bởi lẽ nó biểu hiện tâm hồn kêu ngạo, phản loạn. Ngược lại phải tập chịu đựng, ngoan ngoãn và khiêm nhường. Chúng ta giữ im lặng giữa những thử thách, khổ đau. Chúng ta không dám bày tỏ những cảm nghĩ thật của mình. Tuy nhiên trong nhiều tình huống giơ tay thách thức Thiên Chúa, đòi hỏi một Đức tin sâu thẳm và lòng hiếu thảo tuyệt vời.
Chỉ sau khi vị ngôn sứ bày tỏ lời than vãn xong Thiên Chúa mới đáp trả. Thế thì Ngài đã làm chi ở phần thứ nhất? Lắng nghe. Rồi Ngài truyền cho ông ghi chép thị kiến. Sao lại phải ghi chép? Có lẽ để cho nó tính chất vĩnh cửu chăng? Hoặc để lưu lại cho con cháu đọc? Cụm từ: “Khắc vào tấm bia cho ai nấy đọc được xuôi chảy” có nghĩa rằng ý nghĩa của Thiên Chúa thật rõ ràng, không bao giờ lầm lẫn, hoặc không người nào có thể tráo trở lời giải thích của Gia-vê. Nó rõ như ban ngày, nó vững chắc như bia đá. Loài người luôn luôn đối chiếu với nó, ngõ hầu hiểu được ý định của Ngài, nhờ đó, Đức tin luôn vững mạnh. Thiên Chúa luôn săn sóc và luôn độ trì những ai kêu cầu Ngài. Ngài trả lời: “Người công chính sẽ được sống nhờ bởi Đức tin”. Như vậy Thiên Chúa kêu gọi mọi người trung tín với Ngài, bất chấp mọi khó khăn. Ngài vẫn trung thành với lời Ngài đã hứa. Những bằng chứng ngược lại chỉ là thử thách nhất thời, không có giá trị vĩnh viễn. Trong ngôn ngữ Do Thái, chữ Đức tin là “Emunah” từ đó chúng ta có từ Amen. Chúng ta kết thúc mọi kinh nguyện bằng tiếng Amen tức bày tỏ lòng tin của mình. Chúng ta tin lời cầu nguyện sẽ được Thiên Chúa chấp nhận, không có chỗ cho hoài nghi. Hoài nghi là chưa có Đức tin, nhiên hậu, chưa phải là người công chính.
Cầu nguyện than vãn không phải là tính cách người Mỹ. Nó giống những mớ rau xanh gói túi nhựa trong các siêu thị, ướt át và luộm thuộm. Nó vương vãi tình cảm lung tung. Nó vật lộn với những mất mát và thực sự tên nó là thất bại. Chúng ta dùng loại kinh này khi hy vọng đã gần tàn. Cuộc đời sắp chấm dứt. Tuy nhiên giả dụ chúng ta cầu nguyện kiểu này một mình trong cô đơn hay với người khác đang lâm cảnh khốn cùng. Ví dụ trong hoàn cảnh hiện nay tại Iraq, Afgahnistan, Sudan… Nơi xảy ra chiến tranh khốc liệt hằng ngày. Trẻ con phải trú ẩn dưới hầm 24/24 giờ để né tránh bom đạn. Chúng ta cầu nguyện cho cha mẹ các em, khắc khoải từng giây phút kiếm bánh cho chúng ăn, nước cho chúng uống! Chúng ta cũng cầu nguyện cho binh lính đang chiến đấu ngoài mặt trận. Gia đình và thân nhân đang chờ đợi từng giờ tin tức an toàn cho con em mình. Tóm lại, đây là mối dây liên hệ thiêng liêng của hết mọi tín hữu trên mặt địa cầu. Chắc chắn Gia-vê vẫn hằng lắng tai nghe. Amen.
CẬY TRÔNG VÀ NƯƠNG TỰA VÀO CHÚA
(Lc 17,5-10)
- Đại ý: Chúa nhật này chúng ta suy gẫm lòng trung tín với Thiên Chúa và đặc biệt với Đức Kitô trong các cơn gian nan thử thách. Trong việc rao giảng Tin Mừng nó được coi như yếu tố căn bản để đứng vững trong ơn gọi, vì thế các Tông đồ xin Chúa ban thêm Đức Tin. Thánh Phaolô khuyên Timôthê dùng nó để phục vụ Tin Mừng.
Phúc âm hôm nay mở đầu bằng một lời cầu xin: “Thưa thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con”. Điều chi đã thúc đẩy các Tông đồ phải kêu cứu Chúa như vậy? Sự thường, chúng ta chỉ kêu xin khi có nhu cầu cấp thiết mà tự thân không thể giải quyết được. Cho nên có thể đoán ra, các môn đệ đang lâm vào tình huống đặc biệt khó khăn! Hoặc giả những đòi hỏi của cuộc sống hoặc Đức tin trước những thử thách? Bài đọc 1 cho thấy tiên tri Kha-ba-cúc đang phải chịu đựng những điều nghiệt ngã tương tự. “Con la lên: Bạo tàn! Mà Ngài không cứu vớt”. Ông ta đang phải trải qua “toàn là cảnh phá phách, bạo lực, chỗ nào cũng thấy tranh chấp, và cãi cọ”. Khiến tiên tri phải kêu lên để cầu cứu: “Cho đến bao giờ, lạy Đức Chúa, con kêu van mà Ngài chẳng đoái nghe”. Vậy các Tông đồ trong phúc âm hôm nay cũng thế: “Xin Thầy thêm lòng tin cho chúng con.”
Nếu nhìn lại từ đầu đoạn 17, chúng ta sẽ tìm ra lý do. Câu 1 Chúa nói về gương mù, gương xấu: “Khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã. Thà buộc cối đá vào cổ nó và xô xuống biển, còn lợi cho nó hơn”. Tiếp theo là về việc sửa lỗi và tha thứ. Một công việc hết sức tế nhị và khó khăn, nó đòi hỏi cố gắng vượt bực. Luật chung là 3 lần (quá tam ba bận). Luật Do thái 4 lần. Thánh Phêrô xin 7 lần. Nhưng Chúa Giêsu nói 70 lần 7. Nghĩa là phải tha thứ luôn, đừng nuôi lòng hận thù. Công việc hoàn toàn vượt khỏi khả năng loài người! Cho nên các Tông đồ cảm thấy Đức tin của mình quá bé nhỏ để có thể theo đuổi được đòi hỏi của Chúa Giêsu. Họ cảm thấy mình bất lực. Họ xin thêm Đức tin là điều hiển nhiên. Đây cũng là trường hợp của các tín hữu mọi nơi, mọi thời. Chúng ta hãy lấy điều cụ thể nhất làm ví dụ: Cuộc sống gia đình hằng ngày. Muốn sống lành thánh giữa gia đình, xóm làng, người tín hữu cần lòng kiên nhẫn to như trái núi và tha thứ rộng như đại dương! Nhiều linh hồn không chịu nổi đã phải thốt lên thảm thiết: “Thánh giá nặng quá, xin Chúa cứu chữa linh hồn con!” Xin nhớ trường hợp của ông Gióp. Thêm vào đó những hậu quả tai hại gần đây của nếp sống sa đoạ trên cộng đoàn đức tin: Lạm dụng tình dục, lừa đảo, giả hình. Nếu không có lòng quảng đại tha thứ, thử hỏi giáo xứ còn tồn tại được bao lâu?
Vì vậy các Tông đồ xin Chúa ban thêm Đức tin cho họ. Không có Đức tin, cuộc sống Kitô hữu kể như không thực hiện được. Tuy nhiên các ông nghĩ đó là vấn đề số lượng. Đức tin cần lớn hơn. Nhưng Chúa Giêsu cho hay không phải số lượng mà là chất lượng. Họ chỉ cần Đức tin bằng hạt cải, nhưng phẩm chất tốt thì họ có thể truyền cho cây dâu nhổ rễ và đi mọc ngoài đại dương! Dĩ nhiên Ngài dùng ngôn ngữ tượng hình cho ta hiểu vấn đề: Không phải số lượng nhưng phẩm chất mới đáng kể. Chất lượng Đức tin quan trọng để làm được phép lạ. Đức tin lãnh nhận khi chịu phép thánh tẩy đã quá đủ để chúng ta sống cuộc đời tín hữu tốt, không cần ngoại lệ để làm phù phép trước mắt thiên hạ. Nhưng cần đức tin tinh tuyền, tránh những ích kỷ trước tôn nhan Thiên Chúa, ngõ hầu sống mật thiết với Ngài và cảm nghiệm được Ngài là nguồn mạch sức sống tự nhiên và siêu nhiên. Lúc ấy chúng ta có khả năng sống tốt, tỏ hiện bằng lòng quảng đại tha thứ như Đức Kitô trên thập giá. Bởi lẽ chính chúng ta cũng hằng được Thiên Chúa thứ tha. Lòng tha thứ anh hùng ấy trong giáo xứ sẽ là dấu chỉ to lớn Thiên Chúa đang hiện diện, làm gương và thúc đẩy chúng ta thực hiện những công trình yêu thương.
Người đầy tớ trong dụ ngôn rõ ràng phải là một công nhân tốt, làm việc cực nhọc. Sau công việc đồng áng người ta còn trông đợi hắn hầu bàn. Có đúng Thiên Chúa đòi hỏi các tín hữu như vậy chăng? Khi đã làm tốt các bổn phận, chúng ta vẫn bị Ngài đánh giá là vô dụng? Liệu có khi nào Thiên Chúa hài lòng với những cố gắng của chúng ta không? Liệu chúng ta có đươc nghỉ ngơi? Xin nhớ đây là dụ ngôn, chỉ nói lên khía cạnh nào đó, chứ không toàn bộ chân lý. Cho nên đừng so sánh chi ly giữa ông chủ và Thiên Chúa đầy yêu thương. Đó không phải là chủ ý của Đức Kitô khi kể dụ ngôn này. Sau khi nghe Ngài dạy dỗ về gương mù gương xấu, về tha thứ, chúng ta đi đến kết luận, giống như người đầy tớ trong dụ ngôn, mình chỉ là kẻ thi hành bổn phận, chứ không phải làm thuê để lãnh công. Nghĩa là những việc lành nói chung không phải là giá trị để được thưởng hoặc đền bù thoả đáng. Đúng hơn nó là sự đáp trả lòng tốt của Đức Chúa Trời. Trong việc phục vụ Ngài không ai được quyền coi mình là thiết yếu. Có thể đưa ra một ví dụ: Trong gia đình, chúng ta đôi khi ban cho con cái tiền bạc để chúng tiêu sài. Nhưng chúng ta không phải trả công cho chúng mỗi khi chúng dọn bàn ăn, rửa chén đĩa, quét nhà, đổ rác… đó là việc bổn phận của chúng. Thiên Chúa chẳng mắc nợ chúng ta điều chi. Tất cả những gì Thiên Chúa ban cho chúng ta đều là hồng ân (tout est grace). Thánh Têrêsa Hài đồng đã phát biểu như vậy. Sự thật đúng như thế. Cho nên xin đừng kêu ngạo vì một công việc nào! Thánh Phaolô còn nhấn mạnh hơn: “Anh em chớ có vênh vang về điều chi, trừ phi về những yếu đuối của mình và quyền năng của Thiên Chúa nơi anh em (1Cr 1,31). Chúa ban cho mọi người đời sống mới với khả năng tha thứ và yêu thương để chúng ta làm môn đệ Ngài và thế gian thấy rõ chứng tá của Ngài nơi mỗi tín hữu. Sống khác đi là phản bội ơn Chúa. Cho nên ơn Ngài đã đủ cho chúng ta vượt qua mọi khó khăn và thực hiện những công việc cần thiết để nước Ngài ngự đến. Sự thực có những giây phút chúng ta phải trải qua thử thách hoặc tình thế đòi hỏi hy sinh tiền bạc, thời giờ, công sức. Nhưng cố gắng không chưa đủ, còn cần Đức tin, tức là ơn Chúa để chu toàn thánh ý của Ngài, dù đôi khi chúng ta cảm thấy đức tin đó chỉ nhỏ như hạt cải. Vì thế, Thánh thể chúng ta sắp cử hành cho chúng ta lý do để cảm ơn Thiên Chúa. Bởi lẽ như kinh tiền tụng dạy, việc tạ ơn và chúc tụng luôn luôn là chính đáng và phải đạo.
Bài đọc tiên tri Kha-ba-cúc rất xúc tích. Nhiều tư tưởng cần được khai triển thêm. Thí dụ mạch văn của tác giả. Ông kêu cầu Gia-vê và Thiên Chúa đã trả lời bằng một thị kiến đang đến. Nó sẽ được hoàn thành, Israel sẽ được yên ổn, còn Canđê kẻ áp bức sẽ bị sụp đổ. Phần thứ nhất của bài đọc là lời than vãn: “Cho đến bao giờ, lạy Đức Chúa, con kêu cứu mà Ngài chẳng đoái nghe. Con la lên: bạo tàn mà Ngài không cứu vớt? Sao Ngài bắt con phải chứng kiến tội ác hoài, còn Ngài cứ đứng nhìn cảnh khổ đau?” Từ vài nghìn năm trước, tiên tri đã nói lên những khắc khoải mà hôm nay chúng ta vẫn còn chịu đựng. Lời nói của ngôn sứ cũng chính là tiếng kêu của cộng đồng nhân loại ngày nay nói chung hay của từng giáo xứ nói riêng. Giáo xứ nào, làng mạc nào, khu phố nào mà không chứng kiến những cảnh đau lòng mà vị tiên tri nêu lên: Xì ke, ma tuý, trộm cướp, áp bức, tội ác có tổ chức. Vấn đề là Thiên Chúa có ra tay can thiệp? Biết bao cha mẹ đau lòng vì con cái mắc vào tệ nạn xã hội mà quyền năng Thượng đế có cứu vớt? Nỗi đau của chúng ta hôm nay đồng hoá với những khắc khoải của Kha-ba-cúc từ nhiều ngàn năm trước! Vị tiên tri đặt câu hỏi: Cho đến bao giờ? Cũng là câu hỏi của mỗi gia đình mắc phải thảm hoạ ngày nay: Rượu chè, say sưa, lười biếng, ly dị. Nói chung nó là tiếng kêu cứu đứt ruột của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong hoàn cảnh hiện tại. Trên bình diện quốc tế, tiếng kêu này còn rõ nét hơn: Chiến tranh, gương mù giáo sĩ, nhiều dân tộc lâm cảnh đói khát, môi trường sống bị ô nhiễm, phá huỷ, khủng bố dã man và còn nhiều tiếng kêu than khác nữa: Lạy Thiên Chúa, cho đến bao giờ? Loài ngươi hoàn toàn bất lực. Nhiều triết gia, thần học gia, nhiều vị sáng lập tôn giáo lớn như Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca, Mahômet, đã đưa ra lý thuyết, súng đạn, lời khuyên răn, nhưng chỉ làm cho vấn đề thêm rối nát. Ngày nay nhân loại chỉ còn biết kêu gọi ý thức từng người để giảm bớt nguy hiểm. Tuy nhiên trước tôn nhan Thiên Chúa, người tín hữu có quyền kêu than. Kêu than Gia-vê về những tai hoạ này và trăm ngàn tai hoạ khác: người nghèo bị bỏ rơi, trẻ em bị bóc lột sức lao động, phụ nữ bị bán làm nô lệ tình dục, phá thai bừa bãi. Tiên tri Kha-ba-cúc đã nghe đường lối Chúa mà trình bày lên Ngài những khổ nhục của dân tộc Israel, thì chúng ta cũng được phép than vãn về số phận mình. Những tai hoạ ngoài sức tưởng tượng thình lình ập xuống vô số người vô tội, như hàng ngày xảy ra ở Iraq, Palestine, Inđônêsia, Sudan…
Tiên tri đã không sợ hãi đối mặt vơi Thiên Chúa và nói lên những điều can đảm mà ngày nay chúng ta không dám bày tỏ, ông tố cáo Thiên Chúa không can thiệp: “Ngài bắt con phải chúng kiến tội ác hoài, còn Ngài cứ đứng nhìn cảnh khổ đau?” Đồng thời nó là một lời cầu khẩn theo truyền thống Do thái. Đức Kitô cũng nguyện cầu như vậy tại vườn cây dầu và trên thập giá: “Lạy Cha, tại sao cha bỏ con?” (Mt,27,46). Khi cuộc đời Ngài sắp chấm dứt bỏ lại công việc dở dang. Chúng ta thường được dạy cho biết không nên có thái độ như vậy. Bởi lẽ nó biểu hiện tâm hồn kêu ngạo, phản loạn. Ngược lại phải tập chịu đựng, ngoan ngoãn và khiêm nhường. Chúng ta giữ im lặng giữa những thử thách, khổ đau. Chúng ta không dám bày tỏ những cảm nghĩ thật của mình. Tuy nhiên trong nhiều tình huống giơ tay thách thức Thiên Chúa, đòi hỏi một Đức tin sâu thẳm và lòng hiếu thảo tuyệt vời.
Chỉ sau khi vị ngôn sứ bày tỏ lời than vãn xong Thiên Chúa mới đáp trả. Thế thì Ngài đã làm chi ở phần thứ nhất? Lắng nghe. Rồi Ngài truyền cho ông ghi chép thị kiến. Sao lại phải ghi chép? Có lẽ để cho nó tính chất vĩnh cửu chăng? Hoặc để lưu lại cho con cháu đọc? Cụm từ: “Khắc vào tấm bia cho ai nấy đọc được xuôi chảy” có nghĩa rằng ý nghĩa của Thiên Chúa thật rõ ràng, không bao giờ lầm lẫn, hoặc không người nào có thể tráo trở lời giải thích của Gia-vê. Nó rõ như ban ngày, nó vững chắc như bia đá. Loài người luôn luôn đối chiếu với nó, ngõ hầu hiểu được ý định của Ngài, nhờ đó, Đức tin luôn vững mạnh. Thiên Chúa luôn săn sóc và luôn độ trì những ai kêu cầu Ngài. Ngài trả lời: “Người công chính sẽ được sống nhờ bởi Đức tin”. Như vậy Thiên Chúa kêu gọi mọi người trung tín với Ngài, bất chấp mọi khó khăn. Ngài vẫn trung thành với lời Ngài đã hứa. Những bằng chứng ngược lại chỉ là thử thách nhất thời, không có giá trị vĩnh viễn. Trong ngôn ngữ Do Thái, chữ Đức tin là “Emunah” từ đó chúng ta có từ Amen. Chúng ta kết thúc mọi kinh nguyện bằng tiếng Amen tức bày tỏ lòng tin của mình. Chúng ta tin lời cầu nguyện sẽ được Thiên Chúa chấp nhận, không có chỗ cho hoài nghi. Hoài nghi là chưa có Đức tin, nhiên hậu, chưa phải là người công chính.
Cầu nguyện than vãn không phải là tính cách người Mỹ. Nó giống những mớ rau xanh gói túi nhựa trong các siêu thị, ướt át và luộm thuộm. Nó vương vãi tình cảm lung tung. Nó vật lộn với những mất mát và thực sự tên nó là thất bại. Chúng ta dùng loại kinh này khi hy vọng đã gần tàn. Cuộc đời sắp chấm dứt. Tuy nhiên giả dụ chúng ta cầu nguyện kiểu này một mình trong cô đơn hay với người khác đang lâm cảnh khốn cùng. Ví dụ trong hoàn cảnh hiện nay tại Iraq, Afgahnistan, Sudan… Nơi xảy ra chiến tranh khốc liệt hằng ngày. Trẻ con phải trú ẩn dưới hầm 24/24 giờ để né tránh bom đạn. Chúng ta cầu nguyện cho cha mẹ các em, khắc khoải từng giây phút kiếm bánh cho chúng ăn, nước cho chúng uống! Chúng ta cũng cầu nguyện cho binh lính đang chiến đấu ngoài mặt trận. Gia đình và thân nhân đang chờ đợi từng giờ tin tức an toàn cho con em mình. Tóm lại, đây là mối dây liên hệ thiêng liêng của hết mọi tín hữu trên mặt địa cầu. Chắc chắn Gia-vê vẫn hằng lắng tai nghe. Amen.