LÀM THỀ NÀO ĐỂ SỐNG ĐẠO?
(Bài chia sẻ trong Thánh Lễ Khai Mạc Hội Nghị Mục Vụ Giới Chức tại Houston 3-5/09/2004)
“Tôi cảm tạ Thiên Chúa của tôi, mỗi lần nhớ đến anh em. Tôi luôn vui sướng mỗi khi cầu nguyện cho anh em hết thảy, vì anh em đã góp phần vào việc rao giảng Tin Mừng từ buổi đầu cho đến nay. Tôi tin chắc rằng: Đấng đã bắt đầu thực hiện nơi anh em một công việc tốt lành như thế, cũng sẽ đưa công việc đó hoàn thành viên mãn cho đến ngày Chúa Kitô Giêsu quang lâm. Tôi có những tâm tình như thế đối với tất cả anh em, đó là điều hợp lý, bởi vì tôi mang anh em trong lòng tôi. Khi tôi bị xiềng xích, cũng như lúc tôi bênh vực và củng cố Tin Mừng, anh em đều thông phần vào ân sủng tôi đã nhận được. Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi: tôi hết lòng yêu quý anh em tất cả, với tình thương của Đức Kitô Giêsu.” (Phil 1:3-8).
Kính thưa Quí Chức, đó là mấy lời trích từ thư Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Philiphê và tôi muốn mượn mấy lời đó để nói lên tâm tình của tôi và chắn chắn cũng là tâm tình của Đức Ong Phạm Văn Phương, của Quí Cha hiện diện và của các cha xứ hay quản nhiệm nơi Quí Ong Bà và Anh Chị cộng tác phục vụ. Những tâm tình này, tôi xin gửi một cách đặc biệt đến Ban Tổ Chức Hội Nghị Mục Vụ Giới Chức này. Xin Chúa chúc lành và thánh hóa mọi hy sinh và khó nhọc trong việc tổ chức để Hội Nghị đem nhiều ơn phúc cho mọi người.
1. Lòng thao thức và khao khát sống Đức Tin
“Làm thế nào để sống Đạo?” Qua đề tài Ban Tổ Chức đề nghị để chúng ta cùng nhau suy niệm, được diễn tả như một câu hỏi, tôi cảm thấy toát ra một niềm khát vọng, một nỗi thao thức của những người chân thành muốn theo Chúa Giêsu và sống theo Tin Mừng của Người. Như vậy là đề tài đang dẫn đưa chúng ta đi vào cốt lõi của Đức Tin. Vấn đề căn bản của cuộc đời các tín hữu Chúa không phải chỉ là hiểu nhưng là sống Đức Tin. Dĩ nhiên hiểu cũng quan trọng, nhưng hiểu là để sống.
Trong sách Tin Mừng cũng có một câu hỏi nói lên niềm khát vọng và lòng thao thức tương tự. Đó là câu hỏi của chàng thanh niên giầu có: “Thưa Thầy, con phải làm điều gì tốt để được sống đời đời?” Chúa Giêsu đáp: “Sao anh hỏi Ta về điều tốt? Chỉ có một Đấng tốt lành mà thôi. Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các giới răn”. Chàng thanh niên hỏi tiếp: “Giới răn nào?” Chúa Giêsu đáp: “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, hãy thảo kính cha mẹ và hãy thương yêu đồng loại như chính mình”. Người thanh niên ấy nói: “Tất cả những điều đó, con đã tuân giữ, con còn thiếu điều gì nữa?” Chúa Giêsu đáp: “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán gia tài của anh, đem phân phát cho người nghèo và anh sẽ được kho tàng trên trời; rồi hãy đến theo Ta” (Mt 19:16-22).
Câu trả lời của Chúa cho chàng thanh niên giầu có cũng chính là câu trả lời căn bản cho đề tài của chúng ta và câu trả lời đó có hai vế. Vế thứ nhất là “Hãy tuân giữ các giới răn”, vế thứ hai là “Hãy theo Ta”. Để quảng diễn, chúng ta có thể đổi lộn thứ tự hai vế trong câu trả lời của Chúa.
2. “Hãy theo Ta”
“Làm thế nào nào để sống Đạo?” Khía cạnh đầu tiên câu hỏi đặt ra là vấn đề nguồn mạch và nền tảng của việc sống đạo. Hỏi “Làm thế nào để sống Đạo” cũng là hỏi “Tìm đâu được nguồn sinh lực để thực hành những đòi hỏi của cuộc sống Đức Tin?” Có khác chi một người đã mua được máy bay, vậy làm sao máy bay có thể bay lên được? Câu trả lời là phải có săng nhớt. Trong đề tài của chúng ta thì câu trả lời căn bản là: “Hãy theo Ta”. Điều này có nghĩa là hãy đón nhận Chúa và sống trong tình thân với Người. Lời mời “Hãy theo Ta” gợi lại một lời mời gọi khác trong sách Tin Mừng Thánh Gioan, giúp chúng ta hiểu ý nghĩa cách rõ ràng hơn: “Ai khát, hãy đến với Ta, ai tin vào Ta, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống. Chúa Giêsu muốn nói về Chúa Thánh Thần mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận.” (Jn 7:37-39).
Đón nhận Chúa và sống trong tình thân với Người cũng chính là múc nguồn sức sống từ chính Chúa. Người tín hữu Chúa Kitô được lãnh nhận một nguồn sống mới mà Chúa ban cho qua việc sống mật thiết với Người. Nguồn sống đó là chính Chúa Thánh Thần, Đấng chữa lành, tái tạo, đổi mới, soi sáng, hướng dẫn ( Jn 14:26; Jn 20:21-22). Chúa Thánh Thần mở lòng trí để người môn đệ hiểu được mầu nhiệm Chúa Giêsu và sống kết hiệp với Người, múc nguồn đời sống thần linh phát sinh từ Trái Tim cực thánh của Người (Jn 1:4-12; Jn 15:1-2) để thông phần mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Vậy, để sống đạo, trước tiên, chúng ra cần phải sống mật thiết với Chúa Giêsu và múc nguồn sức sống từ Người. Qua giáo huấn của Giáo Hội và kinh nghiệm sống của các Thánh, chúng ta có thể tìm ra nhiều yếu tố giúp sống thân tình với Chúa Giêsu, nhưng ở đây chúng ta cần để ý ít nhất đến hai điều.
a) Múc nguồn sức sống qua sự kết hiệp với Chúa trong các giờ cầu nguyện, đặc biệt qua việc suy niệm Lời Chúa và qua việc lãnh nhận các Bí Tích, nhất là bí tích Thánh Thể và bí tích Hòa Giải. Nói chung, người công giáo Việt Nam rất mộ đạo, chăm chỉ tham dự Thánh Lễ và lãnh nhận các Bí Tích và đọc kinh lần hạt, không những tại nhà thờ, mà còn trong gia đình. Đây là điểm son trong truyền thống sống đạo của người công giáo Việt Nam.
Tuy nhiên, vì có những tín hữu rất chăm chỉ đọc kinh, xem lễ và hăng hái trong công việc giáo xứ, cộng đoàn, nhưng trong cuộc sống và cách ăn nói, cư xử nhiều khi tính tình cộc cằn, tham lam, dèm pha, hằn thù không kém ai, nên có người chê trách giáo dân Việt Nam chỉ biết đọc kinh và rước sách. Những chỉ trích này đã gây ra mặc cảm làm nhiều người bỏ kinh, bỏ lễ. Đây cũng là một thực tại, nhưng không phải vì thế mà coi thường truyền thống sống đạo của người dân Việt, nhưng trái lại, phải phát huy và truyền đạt truyền thống này cho con cháu chúng ta. Trong các cuộc tiếp xúc với các Đấng Bản Quyền địa phương, luôn luôn tôi thấy các ngài vui mừng và cảm phục cách sống đạo của người công giáo Việt Nam vì các buổi kinh, buổi lễ của người công giáo Việt Nam phát ra một niềm vui, một sức sống tràn trề. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải bổ túc thêm cho truyền thống sống đạo của Cha Ong, đó là biết lấy sức mạnh và ánh sáng Đức Tin để thanh luyện tâm tư và tính tình của mình và để hướng dẫn mọi lựa chọn và hành động trong cuộc sống hằng ngày để không bị áp dụng lời chê trách Chúa đã nói trong Sách Thánh: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta.” (Mt 15:8-9).
b) Lắng nghe tiếng Chúa nói trong lương tâm. Chúa Giêsu, qua Thánh Thần của Người, vẫn tiếp tục nói vào lòng của mỗi môn đệ để khích lệ, an ủi, hướng dẫn, can ngăn, huấn luyện và dẫn đưa người môn đệ sống theo con đường của Người và đi vào thâm cung lòng Người. Trong hành trình lắng nghe và theo tiếng Chúa nói trong lương tâm, có hai điểm vô cùng hệ trọng. Đó là phân biệt tiếng Chúa và vâng phục theo ý Chúa. Trong nội tâm mỗi người, có nhiều tiếng nói: tiếng Chúa, tiếng nói của sự không ngoan theo tính toán loài người, tiếng dục vọng, tư lợi, danh vọng… và tiếng thần dữ lừa đảo để kéo người môn đệ ra khỏi con đường và tình yêu của Chúa. Trong sách Tin Mừng thánh Mathêu, ma quỉ đã trưng dẫn cả Sách Thánh để cám dỗ mong đánh lừa Chúa (Mt 4:1-11). Vì vậy, cần phải cẩn thận nhận diện mỗi tiếng nói và gọi chúng với chính tên của chúng để không đồng hóa tiếng của dục vọng, của tư lợi… với tiếng Chúa.
Điều quan trọng thứ hai là vâng phục theo ý Chúa. Khi đã lắng nghe được tiếng Chúa thì cần phải quảng đại vâng theo. Không bao giờ cố tình làm ngược lại tiếng lương tâm, nhất là tuy biết đó là tiếng Chúa nói trong lương tâm nhưng tìm lý nọ lẽ kia để bào chữa chính mình và để có thể làm điều mình thích. Trong trường hợp này, từ từ người môn đệ sẽ rơi vào tình trạng lương tâm đui mù. Lúc đó người ta sẽ không nghe được tiếng Chúa nữa (Rom 1:18-32). Đây là tình trạng nguy hiểm và tệ hại nhất một người có thể rơi xuống.
3. “Hãy tuân giữ các giới răn”
Khía cạnh thứ hai của đề tài là những áp dụng, những cách thức thực hiện hay những chiều hướng của việc sống đạo, nên câu hỏi “Làm thế nào để sống đạo?” cũng có thể diễn tả thành “Phải sống đạo như thế nào?” Câu trả lời là vế thứ hai trong lời đáp của Chúa Giêsu: “Hãy tuân giữ các giới răn”. Khi chàng thanh niên hỏi tiếp những giới răn đó là giới răn gì, Chúa Giêsu trích lại một số giới răn trong Mười Giới Răn gồm tóm các qui luật của Giao Ước Chúa đã thiết lập với Dân của Người (Ex 20:1-21). Đó chính là những áp dụng cụ thể của Đức Tin vào những khía cạnh cụ thể của cuộc sống. Nói theo đề tài của chúng ta thì sống đạo không phải chỉ coi trọng đời sống thờ phượng Chúa, đọc kinh cầu nguyện và lãnh nhận các Bí Tích, nhưng cũng phải đem đạo vào đời, lấy sức mạnh và ánh sáng nhận lãnh trong những giờ thờ phượng và cầu nguyện để chiếu soi mọi khía cạnh của cuộc đời theo nhiệm vụ và ơn gọi của mình.
Cuộc sống hôm nay rất phức tạp và các vấn đề cũng vô vàn, nhưng có 3 khía cạnh quan trọng không thể làm ngơ. Đó là hôn nhân, gia đình, xã hội và truyền giáo. Tôi chỉ xin trình bày hướng đi của các vấn đề vì ít nữa hai trong 3 vấn đề trên sẽ được Đức Ong Phạm Văn Phương trình bày cụ thể và chi tiết.
a) Hôn nhân, Gia đình
Có lẽ hôn nhân, gia đình là môi trường đang chịu đựng nhiều sóng gió nhất. Vấn đề về hôn nhân, gia đình trong thời đại mới không chỉ giới hạn trong các khó khăn về liên hệ giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái, nhưng đặt ra những vấn đề nền tảng về chính bản tính và sứ mệnh của hôn nhân, gia đình. Có những trào lưu muốn thay đổi bản tính của hôn nhân, gia đình, chẳng hạn, người ta đòi phải chấp nhận là hôn nhân liên hệ giữa hai người cùng phái tính, những cuộc sống chung giữa hai người năm nữ không mà không có ràng buộc vợ chồng, hoặc coi li dị, phá thai như quyền lợi. Đó là chỉ kể đến một vài vấn đề nóng bỏng hiện nay.
Trong bối cảnh này, Đức Tin thúc đẩy các môn đệ của Chúa không những phải sống ơn gọi hôn nhân và gia đình theo chương trình của Thiên Chúa, mà còn phải là những chứng nhân và tông đồ của hôn nhân và gia đình. Nhìn vào một gia đình công giáo, người đời phải cảm nghiệm được đó là một tổ ấm, chất chứa sự hiện diện linh thiêng của Thiên Chúa và nơi đó, người ta biết giúp đỡ, khích lệ hay can ngăn lẫn nhau để giữ lòng trung thành với Chúa.
Trong lịch sử sống đạo tại Việt Nam, có hạnh chú nhỏ chủng sinh Bột. Đứng trước những dụ dỗ của quan phủ và những hình ảnh rùng rợn của tra tấn, chú bé chủng sinh Bột đã chối Chúa, bỏ đạo. Khi về đến nhà, bà mẹ cương quyết sửa trị con: “Tôi đã cưu mang anh, sinh ra anh, đã nuôi nấng và đã dạy bảo anh kính Chúa yêu người, mà anh dám chối Chúa. Anh hãy bỏ nhà này ngay, anh không còn xứng đáng là con tôi nữa”. Nhờ những lời yêu thương nhưng cương quyết của bà mẹ, chủng sinh Bột đã ăn năn hối hận và trở lại tuyên xưng Đức Tin và đã được phúc tử đạo. Đây là một tấm gương quí báu cho giới trẻ, cho các bậc làm cha mẹ và cho những gia đình công giáo.
b) Xã hội
Xã hội là môi trường đặc thù thứ hai để người giáo dân thể hiện Đức Tin của mình. Mặc dù có rất nhiều điều tốt lành trong thế giới hôm nay, nhưng khi nói đến xã hội, xem ra các vấn đề cứ lối gót nhau diễn hành trong tâm trí chúng ta. Thử kể ra một số vấn đề được nói đến nhiều: những người đau yếu bệnh tật và những người già bị bỏ rơi và sống trong cô đơn, vấn đề người nghèo và các nước nghèo trên thế giới, vấn đề bất công, vấn đề nhân quyền, nhất là tự do ngôn luận và tự do tôn giáo, vấn đề chiến tranh và hoà bình, vấn đề các tệ nạn xã hội, chẳng hạn, vấn đề ma túy, mãi dâm, du lịch dục tình… Chúng ta không thể làm ngơ trước những vấn đề này vì hai lý do. Trước tiên, đàng sau các vấn đề là những con người đang chịu đau khổ, cần phải được thương yêu và cứu giúp. “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy.” (1Jn 4:20). Lý do thứ hai là sứ mệnh của Chúa, khi xuống thế không phải chỉ để cứu vớt loài người, nhưng cũng để làm mới tất cả vũ trụ vạn vật theo đúng chương trình của Thiên Chúa. Do đó, dấn thân chiếu soi các lãnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, kỹ thuật… với ánh sáng và sức mạnh của Tin Mừng cũng là bổn phận của người tín hữu Chúa Kitô.
Những vấn đề xã hội lớn lao nói trên của thế giới thôi thúc sự cộng tác của mọi người, nhưng trong một xã hội càng ngày càng được tổ chức theo chuyên môn, sự dấn thân của những giáo dân có khả năng chuyên môn như luật sư, bác sĩ, kỹ sư, chính trị gia, các nhà chuyên môn văn học, các chuyên viên truyền thông, các nhà kinh doanh, các chuyên viên kinh tế… càng cần thiết hơn. Môi trường xã hội là một cánh đồng mênh mông đang chờ đợi các giáo dân biết “sống đạo” như những chứng nhân tín trung và hăng say, biết lấy Tin Mừng và giáo huấn của Giáo Hội hướng dẫn hành động. Họ sẽ là môi giới quí báu để Tin Mừng của Chúa có thể tới được các hang cùng ngõ hẻm, thấm nhuần vào cả những nơi tăm tối, làm thay đổi bộ mặt của thế giới, có khác chi thửa đất khô cằn được tưới nước trong lành để cho các mầm non có thể đâm chồi, nẩy lộc và sinh hoa kết quả. Giáo Hội cần có nhiều giáo hữu dấn thân trong các lãnh vực chuyên môn như chính trị, kinh tế, truyền thông… với tinh thần Tin Mừng, đưa ra sáng kiến và dám lãnh trách nhiệm trong lãnh vực chuyên môn của mình, không đuợc chờ đợi “chỉ thị” của Giáo Quyền.
c) Truyền giáo
Môn đệ của Chúa là người đã gặp được Chúa và đã khám phá ra được chính Chúa là Đấng Cứu Thế muôn người trông chờ và Người là nguồn sống của mọi người. Từ một Đức Tin được xác nhận bằng kinh nghiệm sống, người môn đệ của Chúa ao ước được loan báo và chia sẻ với tất cả những người chưa biết Chúa niềm vui đã được gặp Chúa và sống thân thiết với Người. Lòng khao khát chia sẻ niềm vui được biết Chúa Giêsu càng tăng thêm trong lòng khi nhìn vào thống kê dân số trên thế giới.
Dân số năm 2000
Theo sắc lệnh về truyền giáo của Công Đồng Vaticanô “Giáo Hội páht sinh từ sứ mệnh của Chúa Con và Chúa Thánh Thần thể hiện theo chương trình cứu độ phát sinh từ tình yêu tại chính ngọn nguồn, đó là đức ái của Thiên Chúa Cha” (AG 2). Như vậy, sứ mệnh truyền giáo gắn liền với đời sống thần linh của Thiên Chúa Ba Ngôi và với chính bản tính của Giáo Hội. Cuộc sống của Giáo Hội Chúa Kitô cũng giống như một dòng sông phát xuất từ nguồn nước, đón nhận mạch nước và để cho dòng nước tiếp tục chảy tràn lan sang các sông ngòi khác để tưới mát ruộng vườn cây cối. Chi nên, nếu một tín hữu không muốn và không dấn thân thông truyền cho người khác tình yêu của Thiên Chúa mình đã nhận được thì có khác chi một mạch nước bị nghẽn. Nước từ nguồn chảy đến đó thì ứ nghẹn.
Nếu lý do và nền tảng của công việc truyền giáo là chính tình yêu của Thiên Chúa Cha thì đặc tính của tất cả công cuộc truyền giáo không thể là gì khác hơn là tình yêu. Do đó, truyền giáo là loan báo, là thông truyền, là dâng tặng kho tàng quí báu đã lãnh nhận, với lòng quí mến, lòng kính trọng phẩm giá và tự do của người mình muốn dâng tặng.
Vì vậy, một đàng phải thành tâm kính trọng và quí mến mọi người, không những cá nhân những người đó, mà cả nền văn hóa của họ, tôn giáo của họ, cũng như những vị sáng lập các tôn giáo đó. Đàng khác, tình yêu cũng thúc đẩy các tín hữu của Chúa Kitô thông báo cho mọi người biết bí nhiệm cao cả của tình yêu Thiên Chúa Cha đã thương yêu nhân loại hết mình, đến độ đã ban chính Con Một yêu dấu của mình cho loài người.
Trong Chúa Kitô, Thiên Chúa không chỉ sai một thiên thần, một ngôn sứ, một siêu nhân hay thánh nhân để bảo vệ và giúp đỡ loài người, nhưng chính Ngài đích thân đến cứu chuộc nhân loại và kết hợp nhân loại với mình bằng một mối dây thương yêu mật thiết không gì có thể cắt đứt. Do đó, trong sứ mệnh truyền giáo, Giáo Hội tôn kính và qúi mến các vị sáng lập và các tín hữu của các tôn giáo mà không đánh mất giá trị cao cả duy nhất của Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người và do đó giá trị của đức tin Công Giáo; đàng khác, nhìn nhận giá trị duy nhất của Chúa Giêsu mà không hạ giá các vị sáng lập và các tín hữu các tôn giáo khác. Hai yếu tố không chống đối mả bổ túc cho nhau. Nói theo thư gửi tín hữu Do Thái thì “thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Con Một của Ngài. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật. Sau khi đã tẩy trừ tội lỗi, Người lên ngự bên hữu Đấng Cao Cả trên trời. Danh hiệu Người được thừa hưởng, cao cả hơn danh hiệu các thiên thần bao nhiêu, thì Người lại trổi vượt hơn họ bấy nhiêu.” (Dt 1,1-4)
Các ngôn sứ của Thiên Chúa không phải là Con Một Thiên Chúa, nhưng cũng không thù nghịch với Người, mà trái lại, qua nhiều nẻo đường khác nhau, dọn đường và giới thiệu Người cho loài người, có khác chi Gioan Tẩy Giả: "Tôi đến làm phép rửa để Ngài (Chúa Giêsu) được dân chúng biết đến" (Ga 1,31).
4. Sống đạo như người công giáo Việt Nam trong xã hội tân tiến của giáo hội địa phương
Việc sống đạo của người công giáo Việt Nam hải ngoại có những nét đặc thù, phát sinh do cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa nền văn hóa và sống đạo đã thừ hưởng từ Cha Ong và nền văn hóa, cách sống đạo cũng như hoàn cảnh xã hội tại địa phương nơi sinh sống.
Khía cạnh đầu tiên thách đố đời sống Đức Tin là hoàn cảnh của xã hội văn minh. Mặc dù không làm ngơ trước những giá trị lớn lao của thế giới văn minh, chúng ta cũng không thể nhắm mắt trước vô vàn khó khăn thế giới văn minh đang gây ra cho cuộc sống Đức Tin của người công giáo hôm nay. Một chuỗi các hiện tượng phát sinh từ một vài thế kỷ trước kết tụ lại và cấu tạo ra những lý thuyết đối nghịch lại chính những sứ điệp nền tảng của Tin Mừng và làm phát sinh ra những nếp sống đi ngược lại các giá trị và nếp sống kitô. Những luồng tư tưởng và những nếp sống mới này được các sức mạnh truyền thông phổ biến rộng rãi, gây ra một sức ép khiến nhiều kitô hữu không dám tỏ mình ra là kitô hữu và không dám nói lên lòng tin của mình vì sợ đám đông, sợ bị cô đơn, thiểu số… Hoàn cảnh của Giáo Hội ở thế kỷ XXI này cũng không khác hoàn cảnh Giáo Hội thời thánh Phaolô, được diễn tả trong thư gửi tín hữu Corintô: “Trong khi người Do thái đòi hỏi những dấu lạ, còn người Hy lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh, điều người Do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do thái hay Hy lạp, Chúa Kitô là sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì cái điên rồ của Thiên Chúa thì hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa thì hơn cái mạnh mẽ của loài người.” (1Cor 1:22-25). Như thánh Phaolô, người tín hữu của Chúa trong xã hội hôm nay phải có một lòng xác tín về Chúa, về giáo huấn của Người và một liều lượng lớn về lòng can đảm, dám chịu thiệt thòi vì Chúa, dám chấp nhận là thiểu số và dám bơi ngược dòng nước.
Khía cạnh thứ hai là sống đạo trong lòng giáo hội địa phương. Người công giáo Việt Nam cần phải hội nhập vào giáo hội địa phương, sống như những phần tử tích cực và học hỏi những điều hay, điều tốt của giáo hội địa phương, nhưng đồng thời, phải giữ lấy căn tính văn hóa và truyền thống sống đạo của mình. Một người đánh mất hay từ chối căn tính văn hóa của mình là một người chối bỏ chính mình, sẽ bơ vơ, có khác chi một căn nhà không có nền móng. Ngoài ra, cũng cần phải giữ các truyền thống tốt lành của người Việt Nam để đóng góp vào giáo hội địa phương, làm cho đời sống của giáo hội địa phương được phong phú hơn, tốt đẹp hơn. Những khía cạnh cụ thể sẽ được bàn đến trong nhiều bài tham luận của các chuyên viên. Vì vậy, tôi chỉ xin nhắc đến một khía cạnh tâm linh.
Để bảo tồn và phát huy truyền thống sống đạo của mình, đồng thời cũng có can đảm đ1on nhận những điều hay, điều tốt của nền văn hóa mình tiếp cận, người công giáo Việt Nam phải gây lên được niềm vui mừng và hãnh diện là người Việt Nam và là con cháu của các Thánh Tử Đạo. Niềm hãnh diện này không dính dáng gì đến tính tự kiêu tự đại, khinh chê người khác, gây ra thù hằn chia rẽ. Đây là tâm tình của những người đã khám phá được cái tốt, cái đẹp của gia tài cha ông để lại trong dòng máu của mình. Đây là cái tốt, cái đẹp của lòng tin yêu. Còn gì cao quí cho bằng tâm tình chung thủy cả khi nguy hiểm đến mạng sống của mình! Còn gì đẹp hơn tấm lòng của những người vẫn tiếp tục thương yêu và tha thứ đối với chính những người thù ghét mình và là căn nguyên những đau khổ dữ dằn mình phải chịu đựng. Đó chính là cái cao quí, cái đẹp của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, cha ông chúng ta mà Đức Thánh Cha đã nêu cao như tấm gương cho tất cả Giáo Hội trên thế giới noi theo. Truyền thống tốt đẹp của cha ông, chúng ta cần phải trân trọng noi gương và biết áp dụng vào những hoàn cảnh sống cụ thể của mình.
5. Sống đạo trong vị thế của Giới Chức
Tất cả được kêu gọi sống đạo, nhưng mỗi người sống đạo theo ơn gọi và vị thế của mình. Do đó, đề tài sống đạo cần phải được áp dụng cụ thể cho các Giới Chức. Có hai hệ luận đặc biệt cho đời sống Đức Tin của các Giới Chức: ý thức ơn gọi và tinh thần Giáo Hội.
a) Ý thức ơn gọi
Việc dấn thân phục vụ tông đồ của Giới Chức, nhìn vào tận nguồn gốc, là một đáp trả tiếng gọi của Chúa, chứ không phải vì một tham vọng, hay để làm vừa lòng ai, hoặc làm ơn huệ cho ai cả. Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II, khi nói về nhiệm vụ tông đồ của người giáo dân, đã trích lời mời của Chúa trong sách Tin Mừng: “Cả con nữa, hãy vào làm vườn nho cho Thầy” (Mt 20:4; x. ChL 2). Chúng ta cần nhìn công việc phục vụ của Giới Chức dưới ánh sáng ơn gọi: Ơn gọi Giới Chức.
Có nhiều ơn gọi giáo dân. Có những giáo dân được kêu gọi dấn thân đem Tin Mừng đến nhiều môi trường sống khác nhau trong xã hội, trong nghề nghiệp… On gọi Quí Chức là ơn gọi cộng tác với các chủ chăn trong cộng đoàn để xây đắp cộng đoàn trong hành trình sống Đức Tin và làm chứng cho Chúa. Đó chính là điểm đặc thù của ơn gọi Quí Chức, khác với các ơn gọi giáo dân khác.
Ý thức về ơn gọi của mình, các Qúi Chức sẽ coi công việc phục vụ của mình như một công tác thiêng liêng, sống trong tâm tình vui mừng và cảm tạ vì được Chúa kêu gọi cộng tác trong việc xây đắp Giáo Hội của Chúa, khích lệ anh chị em mình quảng đại theo Chúa và làm chứng cho Chúa. Cũng từ ý thức về ơn gọi, Quí Chức sẽ thi hành nhiệm vụ với tất cả tinh thần trách nhiệm trước mặt Chúa và Giáo Hội và phục vụ với tinh thần khiêm nhượng, hy sinh, quên mình và kiên trì trong thử thách và khó khăn mà công việc phục vụ cộng đoàn chắc chắn sẽ gây ra. Công việc phục vụ, khi vui cũng như khi buồn, lúc dễ dàng cũng như khi khó khăn, Lời của Chúa sẽ là sức mạnh hướng dẫn và nâng đỡ Quí Chức trong sứ mệnh phục vụ. Ở đây, chúng ta có thể nhắc đến một vài câu có thể dùng làm hành trang hướng dẫn cuộc sống phục vụ và cộng tác: “Khi các con đã làm tất cả những gì đã được truyền bảo phải làm, các con hãy nói: chúng tôi chỉ là đầy tớ vô dụng. Chúng tôi chỉ làm những gì chúng tôi phải làm” (Lk 17:10); “Tôi đã đến (phục vụ, cộng tác) để họ được sống và được sống sung mãn hơn” (Jn 10:10).
b) Tinh thần Giáo Hội
Khía cạnh thứ hai trong đời sống Đức Tin của Quí Chức là tình yêu và tinh thần Giáo Hội. Ơn gọi phục vụ Giáo Hội đòi hỏi trước tiên tình yêu đối với Giáo Hội, áp dụng cụ thể cho cộng đoàn, cho những người trong cộng đoàn mình phục vụ. Chỉ có tình yêu mới xây đắp. Không có tình yêu, người ta có thể làm nhiều truyện, nhưng không xây đắp tâm hồn người lãnh nhận. Tình yêu cần phải được diễn tả cụ thể.
- Trước tiên, tình yêu Giáo Hội được diễn tả qua sự quí mến và trân trọng Giáo Hội. Trong Giáo Hội chất chứa những kho tàng quí giá: các Bí Tích, Lời Chúa, giáo huấn của Giáo Hội, sự thánh thiện của nhiều phần tử trong Giáo Hội thuộc mọi thành phần, mọi ơn gọi: Đức Thánh Cha, các giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân, già trẻ, lớn bé. Trong những cuộc viếng thăm các cộng đoàn, tôi rất vui mừng chứng kiến tận mắt những tấm gương thánh thiện của rất nhiều người: các linh mục, tu sĩ, giáo dân gồm các cụ, các bậc cha mẹ, các bạn trẻ. Do đó, tôi nuôi trong lòng một niềm phấn khởi và hy vọng tràn trề, mặc dù cũng thấy nhiều hoàn cảnh khó khăn và những lấn cấn đây đó.
- Tình yêu được diễn tả qua lòng trung thành và lòng kính trọng đối với Giáo Hội theo bản tính của Giáo Hội. Là đoàn dân được Chúa qui tụ, nuôi dưỡng và thánh hóa, Giáo Hội cũng có những đặc tính xã hội, đoàn thể, nhưng bản tính, đời sống và sinh hoạt của Giáo Hội lại khác các tổ chức trần thế, nhắm một mục đích duy nhất là Nên Thánh diễn tả qua hai giới răn chính yếu: Mến Chúa và Yêu người. Để phục vụ và thúc đẩy cộng đoàn trong viễn tượng này, Quí Chức cần phải học hiểu bản tính của Giáo Hội và phải là những người đầu tiên hăm hở Nên Thánh và thực hành hai giới răn Mến Chúa và Yêu người. Khi không thương yêu thì tròn cũng có thể thành méo, và không thấy gì là tốt, là hay, nhưng khi thương yêu thì dễ nhận ra được những điểm tốt, điểm hay của người mình thương yêu, và khi có những lỗi lầm, thì dễ chín bỏ làm mười, tuy vẫn tôn trọng sự công bằng. Nhưng thực hiện công bằng với một con tim biết thương yêu thì rất khác với sự công bằng trừu tượng, thể hiện bằng một con tim thờ ơ, hay tệ hơn nữa, con tim thù hằn, chai đá.
- Trong Giáo Hội có nhiều ơn gọi và trách nhiệm khác nhau. Tình yêu đòi mỗi phần tử phải ý thức và chấp nhận trách nhiệm theo ơn gọi và vị thế của mình, đồng thời chấp nhận, kính trọng và khích lệ các phần tử khác trong trách nhiệm theo ơn gọi và vị thế của họ. Nếu không có sự hiểu biết và kính trọng nhau theo ơn gọi và trách nhiệm của mỗi phần tử theo bản tính của Giáo Hội, nhiều khi chính lòng nhiệt thành sẽ là căn cớ gây ra khó khăn, tranh chấp và chia rẽ. Trong tinh thần này, ơn gọi còn đòi hỏi Quí Chức biết cộng tác với các chủ chăn trong việc nối kết các sự khác biệt trong cộng đoàn để gây tình hiệp thông và sự hiệp nhất. Điều này đòi hỏi phải có những chương trình học hỏi và trao đổi, đối thoại về các ơn gọi và trách nhiệm khác nhau trong Giáo Hội trên nhiều khía cạnh: giáo luật, thần học, tu đức, văn hóa.
- Giáo Hội có nguồn gốc thần linh, nhưng được cấu tạo bởi các phần tử là những con người tội lỗi, đang trên đường thanh tẩy để nên thánh. Mỗi tội lỗi và khuyết điểm đều gây ra những đau khổ cho người khác, nhất là những người gần gũi trong việc sống chung và cộng tác phục vụ. Do đó, tình yêu Giáo Hội đòi một khả năng chấp nhận và chịu đựng đau khổ do những khuyết điểm và tội lỗi của các phần tử khác trong Giáo Hội gây ra. Chấp nhận và chịu đựng với tinh thần đức tin và lòng thương yêu để biến đau khổ thành của lễ và lời kinh dâng lên Chúa, khẩn cầu ơn tha thứ và cứu độ cho Giáo Hội, đặc biệt những người là nguồn gốc những đau khổ mình phải hứng chịu. Làm như thế, Quí Chức sẽ trở nên giống Thầy Chí Thánh của mình là Chúa Giêsu, Đấng “đã yêu thương Giáo Hội và đã hiến mình vì Giáo Hội để thánh hoá và thanh tẩy Giáo Hội bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền.” (Eph 5:35-37).
Kết luận
Việc sống đạo trong thế giới hôm nay, đặc biệt đối với Quí Chức là những người có ơn gọi cộng tác gần gũi với các chủ chăn để xây đắp Cộng Đoàn và thúc đẩy anh chị em mình trên hành trình theo Chúa: nên thánh và làm chứng cho Người, có nhiều đòi hỏi và gặp nhiều khó khăn. Cái khó khăn lớn nhất không phải là ngoại cảnh, nhưng là chính con người của mình. Để có thể cộng tác, xây đắp tâm hồn người anh chị em và làm chứng cho Chúa, trước tiên người môn đệ phải được thanh luyện trong tâm hồn để trở nên giống Chúa. Cái khác nhau căn bản không phải là việc làm, nhưng là lý do, mục đích và tinh thần hướng dẫn việc làm. Đó chính là cái tâm, cái hồn của con người trong công việc làm. Nhiều người có thể cùng làm một công việc, nhưng lý do và tinh thần hướng dẫn có thể khác nhau và do đó, hậu quả cũng rất khác nhau. Đúng là phải “tu thân” rồi mới “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Hành trình tu thân tuy vất vả và cực nhọc, nhưng cũng chất chứa hy vọng và ủi an vì biết rằng khi con người của mình được thăng tiến theo tinh thần của Chúa thì mình cũng giúp cho anh chị em và cộng đoàn được thăng tiến và những ai trung thành phục vụ Chúa, cuối cuộc hành trình sẽ được nghe những lời đầy âu yếm của Người: “Các con là những đầy tớ tín trung, đã kiên trung với Thầy trong thử thách, gian chuân, hãy vào ngồi ăn cùng bàn với Thầy và hưởng niềm vui trong Nước Thầy” (x. Lk 22:28-30).
Giám Đốc Văn Phòng Phối Kết
(Bài chia sẻ trong Thánh Lễ Khai Mạc Hội Nghị Mục Vụ Giới Chức tại Houston 3-5/09/2004)
“Tôi cảm tạ Thiên Chúa của tôi, mỗi lần nhớ đến anh em. Tôi luôn vui sướng mỗi khi cầu nguyện cho anh em hết thảy, vì anh em đã góp phần vào việc rao giảng Tin Mừng từ buổi đầu cho đến nay. Tôi tin chắc rằng: Đấng đã bắt đầu thực hiện nơi anh em một công việc tốt lành như thế, cũng sẽ đưa công việc đó hoàn thành viên mãn cho đến ngày Chúa Kitô Giêsu quang lâm. Tôi có những tâm tình như thế đối với tất cả anh em, đó là điều hợp lý, bởi vì tôi mang anh em trong lòng tôi. Khi tôi bị xiềng xích, cũng như lúc tôi bênh vực và củng cố Tin Mừng, anh em đều thông phần vào ân sủng tôi đã nhận được. Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi: tôi hết lòng yêu quý anh em tất cả, với tình thương của Đức Kitô Giêsu.” (Phil 1:3-8).
Kính thưa Quí Chức, đó là mấy lời trích từ thư Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Philiphê và tôi muốn mượn mấy lời đó để nói lên tâm tình của tôi và chắn chắn cũng là tâm tình của Đức Ong Phạm Văn Phương, của Quí Cha hiện diện và của các cha xứ hay quản nhiệm nơi Quí Ong Bà và Anh Chị cộng tác phục vụ. Những tâm tình này, tôi xin gửi một cách đặc biệt đến Ban Tổ Chức Hội Nghị Mục Vụ Giới Chức này. Xin Chúa chúc lành và thánh hóa mọi hy sinh và khó nhọc trong việc tổ chức để Hội Nghị đem nhiều ơn phúc cho mọi người.
1. Lòng thao thức và khao khát sống Đức Tin
“Làm thế nào để sống Đạo?” Qua đề tài Ban Tổ Chức đề nghị để chúng ta cùng nhau suy niệm, được diễn tả như một câu hỏi, tôi cảm thấy toát ra một niềm khát vọng, một nỗi thao thức của những người chân thành muốn theo Chúa Giêsu và sống theo Tin Mừng của Người. Như vậy là đề tài đang dẫn đưa chúng ta đi vào cốt lõi của Đức Tin. Vấn đề căn bản của cuộc đời các tín hữu Chúa không phải chỉ là hiểu nhưng là sống Đức Tin. Dĩ nhiên hiểu cũng quan trọng, nhưng hiểu là để sống.
Trong sách Tin Mừng cũng có một câu hỏi nói lên niềm khát vọng và lòng thao thức tương tự. Đó là câu hỏi của chàng thanh niên giầu có: “Thưa Thầy, con phải làm điều gì tốt để được sống đời đời?” Chúa Giêsu đáp: “Sao anh hỏi Ta về điều tốt? Chỉ có một Đấng tốt lành mà thôi. Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các giới răn”. Chàng thanh niên hỏi tiếp: “Giới răn nào?” Chúa Giêsu đáp: “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, hãy thảo kính cha mẹ và hãy thương yêu đồng loại như chính mình”. Người thanh niên ấy nói: “Tất cả những điều đó, con đã tuân giữ, con còn thiếu điều gì nữa?” Chúa Giêsu đáp: “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán gia tài của anh, đem phân phát cho người nghèo và anh sẽ được kho tàng trên trời; rồi hãy đến theo Ta” (Mt 19:16-22).
Câu trả lời của Chúa cho chàng thanh niên giầu có cũng chính là câu trả lời căn bản cho đề tài của chúng ta và câu trả lời đó có hai vế. Vế thứ nhất là “Hãy tuân giữ các giới răn”, vế thứ hai là “Hãy theo Ta”. Để quảng diễn, chúng ta có thể đổi lộn thứ tự hai vế trong câu trả lời của Chúa.
2. “Hãy theo Ta”
“Làm thế nào nào để sống Đạo?” Khía cạnh đầu tiên câu hỏi đặt ra là vấn đề nguồn mạch và nền tảng của việc sống đạo. Hỏi “Làm thế nào để sống Đạo” cũng là hỏi “Tìm đâu được nguồn sinh lực để thực hành những đòi hỏi của cuộc sống Đức Tin?” Có khác chi một người đã mua được máy bay, vậy làm sao máy bay có thể bay lên được? Câu trả lời là phải có săng nhớt. Trong đề tài của chúng ta thì câu trả lời căn bản là: “Hãy theo Ta”. Điều này có nghĩa là hãy đón nhận Chúa và sống trong tình thân với Người. Lời mời “Hãy theo Ta” gợi lại một lời mời gọi khác trong sách Tin Mừng Thánh Gioan, giúp chúng ta hiểu ý nghĩa cách rõ ràng hơn: “Ai khát, hãy đến với Ta, ai tin vào Ta, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống. Chúa Giêsu muốn nói về Chúa Thánh Thần mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận.” (Jn 7:37-39).
Đón nhận Chúa và sống trong tình thân với Người cũng chính là múc nguồn sức sống từ chính Chúa. Người tín hữu Chúa Kitô được lãnh nhận một nguồn sống mới mà Chúa ban cho qua việc sống mật thiết với Người. Nguồn sống đó là chính Chúa Thánh Thần, Đấng chữa lành, tái tạo, đổi mới, soi sáng, hướng dẫn ( Jn 14:26; Jn 20:21-22). Chúa Thánh Thần mở lòng trí để người môn đệ hiểu được mầu nhiệm Chúa Giêsu và sống kết hiệp với Người, múc nguồn đời sống thần linh phát sinh từ Trái Tim cực thánh của Người (Jn 1:4-12; Jn 15:1-2) để thông phần mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Vậy, để sống đạo, trước tiên, chúng ra cần phải sống mật thiết với Chúa Giêsu và múc nguồn sức sống từ Người. Qua giáo huấn của Giáo Hội và kinh nghiệm sống của các Thánh, chúng ta có thể tìm ra nhiều yếu tố giúp sống thân tình với Chúa Giêsu, nhưng ở đây chúng ta cần để ý ít nhất đến hai điều.
a) Múc nguồn sức sống qua sự kết hiệp với Chúa trong các giờ cầu nguyện, đặc biệt qua việc suy niệm Lời Chúa và qua việc lãnh nhận các Bí Tích, nhất là bí tích Thánh Thể và bí tích Hòa Giải. Nói chung, người công giáo Việt Nam rất mộ đạo, chăm chỉ tham dự Thánh Lễ và lãnh nhận các Bí Tích và đọc kinh lần hạt, không những tại nhà thờ, mà còn trong gia đình. Đây là điểm son trong truyền thống sống đạo của người công giáo Việt Nam.
Tuy nhiên, vì có những tín hữu rất chăm chỉ đọc kinh, xem lễ và hăng hái trong công việc giáo xứ, cộng đoàn, nhưng trong cuộc sống và cách ăn nói, cư xử nhiều khi tính tình cộc cằn, tham lam, dèm pha, hằn thù không kém ai, nên có người chê trách giáo dân Việt Nam chỉ biết đọc kinh và rước sách. Những chỉ trích này đã gây ra mặc cảm làm nhiều người bỏ kinh, bỏ lễ. Đây cũng là một thực tại, nhưng không phải vì thế mà coi thường truyền thống sống đạo của người dân Việt, nhưng trái lại, phải phát huy và truyền đạt truyền thống này cho con cháu chúng ta. Trong các cuộc tiếp xúc với các Đấng Bản Quyền địa phương, luôn luôn tôi thấy các ngài vui mừng và cảm phục cách sống đạo của người công giáo Việt Nam vì các buổi kinh, buổi lễ của người công giáo Việt Nam phát ra một niềm vui, một sức sống tràn trề. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải bổ túc thêm cho truyền thống sống đạo của Cha Ong, đó là biết lấy sức mạnh và ánh sáng Đức Tin để thanh luyện tâm tư và tính tình của mình và để hướng dẫn mọi lựa chọn và hành động trong cuộc sống hằng ngày để không bị áp dụng lời chê trách Chúa đã nói trong Sách Thánh: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta.” (Mt 15:8-9).
b) Lắng nghe tiếng Chúa nói trong lương tâm. Chúa Giêsu, qua Thánh Thần của Người, vẫn tiếp tục nói vào lòng của mỗi môn đệ để khích lệ, an ủi, hướng dẫn, can ngăn, huấn luyện và dẫn đưa người môn đệ sống theo con đường của Người và đi vào thâm cung lòng Người. Trong hành trình lắng nghe và theo tiếng Chúa nói trong lương tâm, có hai điểm vô cùng hệ trọng. Đó là phân biệt tiếng Chúa và vâng phục theo ý Chúa. Trong nội tâm mỗi người, có nhiều tiếng nói: tiếng Chúa, tiếng nói của sự không ngoan theo tính toán loài người, tiếng dục vọng, tư lợi, danh vọng… và tiếng thần dữ lừa đảo để kéo người môn đệ ra khỏi con đường và tình yêu của Chúa. Trong sách Tin Mừng thánh Mathêu, ma quỉ đã trưng dẫn cả Sách Thánh để cám dỗ mong đánh lừa Chúa (Mt 4:1-11). Vì vậy, cần phải cẩn thận nhận diện mỗi tiếng nói và gọi chúng với chính tên của chúng để không đồng hóa tiếng của dục vọng, của tư lợi… với tiếng Chúa.
Điều quan trọng thứ hai là vâng phục theo ý Chúa. Khi đã lắng nghe được tiếng Chúa thì cần phải quảng đại vâng theo. Không bao giờ cố tình làm ngược lại tiếng lương tâm, nhất là tuy biết đó là tiếng Chúa nói trong lương tâm nhưng tìm lý nọ lẽ kia để bào chữa chính mình và để có thể làm điều mình thích. Trong trường hợp này, từ từ người môn đệ sẽ rơi vào tình trạng lương tâm đui mù. Lúc đó người ta sẽ không nghe được tiếng Chúa nữa (Rom 1:18-32). Đây là tình trạng nguy hiểm và tệ hại nhất một người có thể rơi xuống.
3. “Hãy tuân giữ các giới răn”
Khía cạnh thứ hai của đề tài là những áp dụng, những cách thức thực hiện hay những chiều hướng của việc sống đạo, nên câu hỏi “Làm thế nào để sống đạo?” cũng có thể diễn tả thành “Phải sống đạo như thế nào?” Câu trả lời là vế thứ hai trong lời đáp của Chúa Giêsu: “Hãy tuân giữ các giới răn”. Khi chàng thanh niên hỏi tiếp những giới răn đó là giới răn gì, Chúa Giêsu trích lại một số giới răn trong Mười Giới Răn gồm tóm các qui luật của Giao Ước Chúa đã thiết lập với Dân của Người (Ex 20:1-21). Đó chính là những áp dụng cụ thể của Đức Tin vào những khía cạnh cụ thể của cuộc sống. Nói theo đề tài của chúng ta thì sống đạo không phải chỉ coi trọng đời sống thờ phượng Chúa, đọc kinh cầu nguyện và lãnh nhận các Bí Tích, nhưng cũng phải đem đạo vào đời, lấy sức mạnh và ánh sáng nhận lãnh trong những giờ thờ phượng và cầu nguyện để chiếu soi mọi khía cạnh của cuộc đời theo nhiệm vụ và ơn gọi của mình.
Cuộc sống hôm nay rất phức tạp và các vấn đề cũng vô vàn, nhưng có 3 khía cạnh quan trọng không thể làm ngơ. Đó là hôn nhân, gia đình, xã hội và truyền giáo. Tôi chỉ xin trình bày hướng đi của các vấn đề vì ít nữa hai trong 3 vấn đề trên sẽ được Đức Ong Phạm Văn Phương trình bày cụ thể và chi tiết.
a) Hôn nhân, Gia đình
Có lẽ hôn nhân, gia đình là môi trường đang chịu đựng nhiều sóng gió nhất. Vấn đề về hôn nhân, gia đình trong thời đại mới không chỉ giới hạn trong các khó khăn về liên hệ giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái, nhưng đặt ra những vấn đề nền tảng về chính bản tính và sứ mệnh của hôn nhân, gia đình. Có những trào lưu muốn thay đổi bản tính của hôn nhân, gia đình, chẳng hạn, người ta đòi phải chấp nhận là hôn nhân liên hệ giữa hai người cùng phái tính, những cuộc sống chung giữa hai người năm nữ không mà không có ràng buộc vợ chồng, hoặc coi li dị, phá thai như quyền lợi. Đó là chỉ kể đến một vài vấn đề nóng bỏng hiện nay.
Trong bối cảnh này, Đức Tin thúc đẩy các môn đệ của Chúa không những phải sống ơn gọi hôn nhân và gia đình theo chương trình của Thiên Chúa, mà còn phải là những chứng nhân và tông đồ của hôn nhân và gia đình. Nhìn vào một gia đình công giáo, người đời phải cảm nghiệm được đó là một tổ ấm, chất chứa sự hiện diện linh thiêng của Thiên Chúa và nơi đó, người ta biết giúp đỡ, khích lệ hay can ngăn lẫn nhau để giữ lòng trung thành với Chúa.
Trong lịch sử sống đạo tại Việt Nam, có hạnh chú nhỏ chủng sinh Bột. Đứng trước những dụ dỗ của quan phủ và những hình ảnh rùng rợn của tra tấn, chú bé chủng sinh Bột đã chối Chúa, bỏ đạo. Khi về đến nhà, bà mẹ cương quyết sửa trị con: “Tôi đã cưu mang anh, sinh ra anh, đã nuôi nấng và đã dạy bảo anh kính Chúa yêu người, mà anh dám chối Chúa. Anh hãy bỏ nhà này ngay, anh không còn xứng đáng là con tôi nữa”. Nhờ những lời yêu thương nhưng cương quyết của bà mẹ, chủng sinh Bột đã ăn năn hối hận và trở lại tuyên xưng Đức Tin và đã được phúc tử đạo. Đây là một tấm gương quí báu cho giới trẻ, cho các bậc làm cha mẹ và cho những gia đình công giáo.
b) Xã hội
Xã hội là môi trường đặc thù thứ hai để người giáo dân thể hiện Đức Tin của mình. Mặc dù có rất nhiều điều tốt lành trong thế giới hôm nay, nhưng khi nói đến xã hội, xem ra các vấn đề cứ lối gót nhau diễn hành trong tâm trí chúng ta. Thử kể ra một số vấn đề được nói đến nhiều: những người đau yếu bệnh tật và những người già bị bỏ rơi và sống trong cô đơn, vấn đề người nghèo và các nước nghèo trên thế giới, vấn đề bất công, vấn đề nhân quyền, nhất là tự do ngôn luận và tự do tôn giáo, vấn đề chiến tranh và hoà bình, vấn đề các tệ nạn xã hội, chẳng hạn, vấn đề ma túy, mãi dâm, du lịch dục tình… Chúng ta không thể làm ngơ trước những vấn đề này vì hai lý do. Trước tiên, đàng sau các vấn đề là những con người đang chịu đau khổ, cần phải được thương yêu và cứu giúp. “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy.” (1Jn 4:20). Lý do thứ hai là sứ mệnh của Chúa, khi xuống thế không phải chỉ để cứu vớt loài người, nhưng cũng để làm mới tất cả vũ trụ vạn vật theo đúng chương trình của Thiên Chúa. Do đó, dấn thân chiếu soi các lãnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, kỹ thuật… với ánh sáng và sức mạnh của Tin Mừng cũng là bổn phận của người tín hữu Chúa Kitô.
Những vấn đề xã hội lớn lao nói trên của thế giới thôi thúc sự cộng tác của mọi người, nhưng trong một xã hội càng ngày càng được tổ chức theo chuyên môn, sự dấn thân của những giáo dân có khả năng chuyên môn như luật sư, bác sĩ, kỹ sư, chính trị gia, các nhà chuyên môn văn học, các chuyên viên truyền thông, các nhà kinh doanh, các chuyên viên kinh tế… càng cần thiết hơn. Môi trường xã hội là một cánh đồng mênh mông đang chờ đợi các giáo dân biết “sống đạo” như những chứng nhân tín trung và hăng say, biết lấy Tin Mừng và giáo huấn của Giáo Hội hướng dẫn hành động. Họ sẽ là môi giới quí báu để Tin Mừng của Chúa có thể tới được các hang cùng ngõ hẻm, thấm nhuần vào cả những nơi tăm tối, làm thay đổi bộ mặt của thế giới, có khác chi thửa đất khô cằn được tưới nước trong lành để cho các mầm non có thể đâm chồi, nẩy lộc và sinh hoa kết quả. Giáo Hội cần có nhiều giáo hữu dấn thân trong các lãnh vực chuyên môn như chính trị, kinh tế, truyền thông… với tinh thần Tin Mừng, đưa ra sáng kiến và dám lãnh trách nhiệm trong lãnh vực chuyên môn của mình, không đuợc chờ đợi “chỉ thị” của Giáo Quyền.
c) Truyền giáo
Môn đệ của Chúa là người đã gặp được Chúa và đã khám phá ra được chính Chúa là Đấng Cứu Thế muôn người trông chờ và Người là nguồn sống của mọi người. Từ một Đức Tin được xác nhận bằng kinh nghiệm sống, người môn đệ của Chúa ao ước được loan báo và chia sẻ với tất cả những người chưa biết Chúa niềm vui đã được gặp Chúa và sống thân thiết với Người. Lòng khao khát chia sẻ niềm vui được biết Chúa Giêsu càng tăng thêm trong lòng khi nhìn vào thống kê dân số trên thế giới.
Dân số năm 2000
- Dân số thế giới: 6.091.351.000
- Kitô hữu: 2.015.743.000
- Người ngoài kitô: 4.075.608.000
- Công giáo: 1.053.104.000
- Hồi giáo: 1.215.693.000
- An giáo : 786.532.000
- Phật giáo: 362.245.000
- Sikhs: 31.381.000
- Do thái: 16.864.000
- Đạo truyền thống: 324.068.000
- Tôn giáo mới: 118.049.000
- Vô tôn giáo: 774.693.000
- Vô thần: 160.193.000
- Dân số thế giới: 8.039.130.000
- Kitô hữu: 2.710.800.000
- Người ngoài kitô: 5.328.330.000
- Công giáo: 1.376.282.000
- Hồi giáo: 1.894.436.000
- An giáo : 1.020.666.000
- Phật giáo: 423.046.000
- Sikhs: 8.279.000
- Do thái: 2.557.000
- Đạo truyền thống: 68.118.000
- Tôn giáo mới: 15.875.000
- Vô tôn giáo: 878.669.000
- Vô thần: 8.763.000
- Dân số thế giới: 1.947.779.000
- Kitô hữu: 695.057.000
- Người ngoài kitô: 1.252.722.000
- Công giáo: 323.178.000
- Hồi giáo: 678.743.000
- An giáo : 234.134.000
- Phật giáo: 60.801.000
- Sikhs: 8.279.000
- Do thái: 2.557.000
- Đạo truyền thống: 68.118.000
- Tôn giáo mới: 15.875.000
- Vô tôn giáo:103.976.000
- Vô thần: 8.763.000
Theo sắc lệnh về truyền giáo của Công Đồng Vaticanô “Giáo Hội páht sinh từ sứ mệnh của Chúa Con và Chúa Thánh Thần thể hiện theo chương trình cứu độ phát sinh từ tình yêu tại chính ngọn nguồn, đó là đức ái của Thiên Chúa Cha” (AG 2). Như vậy, sứ mệnh truyền giáo gắn liền với đời sống thần linh của Thiên Chúa Ba Ngôi và với chính bản tính của Giáo Hội. Cuộc sống của Giáo Hội Chúa Kitô cũng giống như một dòng sông phát xuất từ nguồn nước, đón nhận mạch nước và để cho dòng nước tiếp tục chảy tràn lan sang các sông ngòi khác để tưới mát ruộng vườn cây cối. Chi nên, nếu một tín hữu không muốn và không dấn thân thông truyền cho người khác tình yêu của Thiên Chúa mình đã nhận được thì có khác chi một mạch nước bị nghẽn. Nước từ nguồn chảy đến đó thì ứ nghẹn.
Nếu lý do và nền tảng của công việc truyền giáo là chính tình yêu của Thiên Chúa Cha thì đặc tính của tất cả công cuộc truyền giáo không thể là gì khác hơn là tình yêu. Do đó, truyền giáo là loan báo, là thông truyền, là dâng tặng kho tàng quí báu đã lãnh nhận, với lòng quí mến, lòng kính trọng phẩm giá và tự do của người mình muốn dâng tặng.
Vì vậy, một đàng phải thành tâm kính trọng và quí mến mọi người, không những cá nhân những người đó, mà cả nền văn hóa của họ, tôn giáo của họ, cũng như những vị sáng lập các tôn giáo đó. Đàng khác, tình yêu cũng thúc đẩy các tín hữu của Chúa Kitô thông báo cho mọi người biết bí nhiệm cao cả của tình yêu Thiên Chúa Cha đã thương yêu nhân loại hết mình, đến độ đã ban chính Con Một yêu dấu của mình cho loài người.
Trong Chúa Kitô, Thiên Chúa không chỉ sai một thiên thần, một ngôn sứ, một siêu nhân hay thánh nhân để bảo vệ và giúp đỡ loài người, nhưng chính Ngài đích thân đến cứu chuộc nhân loại và kết hợp nhân loại với mình bằng một mối dây thương yêu mật thiết không gì có thể cắt đứt. Do đó, trong sứ mệnh truyền giáo, Giáo Hội tôn kính và qúi mến các vị sáng lập và các tín hữu của các tôn giáo mà không đánh mất giá trị cao cả duy nhất của Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người và do đó giá trị của đức tin Công Giáo; đàng khác, nhìn nhận giá trị duy nhất của Chúa Giêsu mà không hạ giá các vị sáng lập và các tín hữu các tôn giáo khác. Hai yếu tố không chống đối mả bổ túc cho nhau. Nói theo thư gửi tín hữu Do Thái thì “thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Con Một của Ngài. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật. Sau khi đã tẩy trừ tội lỗi, Người lên ngự bên hữu Đấng Cao Cả trên trời. Danh hiệu Người được thừa hưởng, cao cả hơn danh hiệu các thiên thần bao nhiêu, thì Người lại trổi vượt hơn họ bấy nhiêu.” (Dt 1,1-4)
Các ngôn sứ của Thiên Chúa không phải là Con Một Thiên Chúa, nhưng cũng không thù nghịch với Người, mà trái lại, qua nhiều nẻo đường khác nhau, dọn đường và giới thiệu Người cho loài người, có khác chi Gioan Tẩy Giả: "Tôi đến làm phép rửa để Ngài (Chúa Giêsu) được dân chúng biết đến" (Ga 1,31).
4. Sống đạo như người công giáo Việt Nam trong xã hội tân tiến của giáo hội địa phương
Việc sống đạo của người công giáo Việt Nam hải ngoại có những nét đặc thù, phát sinh do cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa nền văn hóa và sống đạo đã thừ hưởng từ Cha Ong và nền văn hóa, cách sống đạo cũng như hoàn cảnh xã hội tại địa phương nơi sinh sống.
Khía cạnh đầu tiên thách đố đời sống Đức Tin là hoàn cảnh của xã hội văn minh. Mặc dù không làm ngơ trước những giá trị lớn lao của thế giới văn minh, chúng ta cũng không thể nhắm mắt trước vô vàn khó khăn thế giới văn minh đang gây ra cho cuộc sống Đức Tin của người công giáo hôm nay. Một chuỗi các hiện tượng phát sinh từ một vài thế kỷ trước kết tụ lại và cấu tạo ra những lý thuyết đối nghịch lại chính những sứ điệp nền tảng của Tin Mừng và làm phát sinh ra những nếp sống đi ngược lại các giá trị và nếp sống kitô. Những luồng tư tưởng và những nếp sống mới này được các sức mạnh truyền thông phổ biến rộng rãi, gây ra một sức ép khiến nhiều kitô hữu không dám tỏ mình ra là kitô hữu và không dám nói lên lòng tin của mình vì sợ đám đông, sợ bị cô đơn, thiểu số… Hoàn cảnh của Giáo Hội ở thế kỷ XXI này cũng không khác hoàn cảnh Giáo Hội thời thánh Phaolô, được diễn tả trong thư gửi tín hữu Corintô: “Trong khi người Do thái đòi hỏi những dấu lạ, còn người Hy lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh, điều người Do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do thái hay Hy lạp, Chúa Kitô là sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì cái điên rồ của Thiên Chúa thì hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa thì hơn cái mạnh mẽ của loài người.” (1Cor 1:22-25). Như thánh Phaolô, người tín hữu của Chúa trong xã hội hôm nay phải có một lòng xác tín về Chúa, về giáo huấn của Người và một liều lượng lớn về lòng can đảm, dám chịu thiệt thòi vì Chúa, dám chấp nhận là thiểu số và dám bơi ngược dòng nước.
Khía cạnh thứ hai là sống đạo trong lòng giáo hội địa phương. Người công giáo Việt Nam cần phải hội nhập vào giáo hội địa phương, sống như những phần tử tích cực và học hỏi những điều hay, điều tốt của giáo hội địa phương, nhưng đồng thời, phải giữ lấy căn tính văn hóa và truyền thống sống đạo của mình. Một người đánh mất hay từ chối căn tính văn hóa của mình là một người chối bỏ chính mình, sẽ bơ vơ, có khác chi một căn nhà không có nền móng. Ngoài ra, cũng cần phải giữ các truyền thống tốt lành của người Việt Nam để đóng góp vào giáo hội địa phương, làm cho đời sống của giáo hội địa phương được phong phú hơn, tốt đẹp hơn. Những khía cạnh cụ thể sẽ được bàn đến trong nhiều bài tham luận của các chuyên viên. Vì vậy, tôi chỉ xin nhắc đến một khía cạnh tâm linh.
Để bảo tồn và phát huy truyền thống sống đạo của mình, đồng thời cũng có can đảm đ1on nhận những điều hay, điều tốt của nền văn hóa mình tiếp cận, người công giáo Việt Nam phải gây lên được niềm vui mừng và hãnh diện là người Việt Nam và là con cháu của các Thánh Tử Đạo. Niềm hãnh diện này không dính dáng gì đến tính tự kiêu tự đại, khinh chê người khác, gây ra thù hằn chia rẽ. Đây là tâm tình của những người đã khám phá được cái tốt, cái đẹp của gia tài cha ông để lại trong dòng máu của mình. Đây là cái tốt, cái đẹp của lòng tin yêu. Còn gì cao quí cho bằng tâm tình chung thủy cả khi nguy hiểm đến mạng sống của mình! Còn gì đẹp hơn tấm lòng của những người vẫn tiếp tục thương yêu và tha thứ đối với chính những người thù ghét mình và là căn nguyên những đau khổ dữ dằn mình phải chịu đựng. Đó chính là cái cao quí, cái đẹp của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, cha ông chúng ta mà Đức Thánh Cha đã nêu cao như tấm gương cho tất cả Giáo Hội trên thế giới noi theo. Truyền thống tốt đẹp của cha ông, chúng ta cần phải trân trọng noi gương và biết áp dụng vào những hoàn cảnh sống cụ thể của mình.
5. Sống đạo trong vị thế của Giới Chức
Tất cả được kêu gọi sống đạo, nhưng mỗi người sống đạo theo ơn gọi và vị thế của mình. Do đó, đề tài sống đạo cần phải được áp dụng cụ thể cho các Giới Chức. Có hai hệ luận đặc biệt cho đời sống Đức Tin của các Giới Chức: ý thức ơn gọi và tinh thần Giáo Hội.
a) Ý thức ơn gọi
Việc dấn thân phục vụ tông đồ của Giới Chức, nhìn vào tận nguồn gốc, là một đáp trả tiếng gọi của Chúa, chứ không phải vì một tham vọng, hay để làm vừa lòng ai, hoặc làm ơn huệ cho ai cả. Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II, khi nói về nhiệm vụ tông đồ của người giáo dân, đã trích lời mời của Chúa trong sách Tin Mừng: “Cả con nữa, hãy vào làm vườn nho cho Thầy” (Mt 20:4; x. ChL 2). Chúng ta cần nhìn công việc phục vụ của Giới Chức dưới ánh sáng ơn gọi: Ơn gọi Giới Chức.
Có nhiều ơn gọi giáo dân. Có những giáo dân được kêu gọi dấn thân đem Tin Mừng đến nhiều môi trường sống khác nhau trong xã hội, trong nghề nghiệp… On gọi Quí Chức là ơn gọi cộng tác với các chủ chăn trong cộng đoàn để xây đắp cộng đoàn trong hành trình sống Đức Tin và làm chứng cho Chúa. Đó chính là điểm đặc thù của ơn gọi Quí Chức, khác với các ơn gọi giáo dân khác.
Ý thức về ơn gọi của mình, các Qúi Chức sẽ coi công việc phục vụ của mình như một công tác thiêng liêng, sống trong tâm tình vui mừng và cảm tạ vì được Chúa kêu gọi cộng tác trong việc xây đắp Giáo Hội của Chúa, khích lệ anh chị em mình quảng đại theo Chúa và làm chứng cho Chúa. Cũng từ ý thức về ơn gọi, Quí Chức sẽ thi hành nhiệm vụ với tất cả tinh thần trách nhiệm trước mặt Chúa và Giáo Hội và phục vụ với tinh thần khiêm nhượng, hy sinh, quên mình và kiên trì trong thử thách và khó khăn mà công việc phục vụ cộng đoàn chắc chắn sẽ gây ra. Công việc phục vụ, khi vui cũng như khi buồn, lúc dễ dàng cũng như khi khó khăn, Lời của Chúa sẽ là sức mạnh hướng dẫn và nâng đỡ Quí Chức trong sứ mệnh phục vụ. Ở đây, chúng ta có thể nhắc đến một vài câu có thể dùng làm hành trang hướng dẫn cuộc sống phục vụ và cộng tác: “Khi các con đã làm tất cả những gì đã được truyền bảo phải làm, các con hãy nói: chúng tôi chỉ là đầy tớ vô dụng. Chúng tôi chỉ làm những gì chúng tôi phải làm” (Lk 17:10); “Tôi đã đến (phục vụ, cộng tác) để họ được sống và được sống sung mãn hơn” (Jn 10:10).
b) Tinh thần Giáo Hội
Khía cạnh thứ hai trong đời sống Đức Tin của Quí Chức là tình yêu và tinh thần Giáo Hội. Ơn gọi phục vụ Giáo Hội đòi hỏi trước tiên tình yêu đối với Giáo Hội, áp dụng cụ thể cho cộng đoàn, cho những người trong cộng đoàn mình phục vụ. Chỉ có tình yêu mới xây đắp. Không có tình yêu, người ta có thể làm nhiều truyện, nhưng không xây đắp tâm hồn người lãnh nhận. Tình yêu cần phải được diễn tả cụ thể.
- Trước tiên, tình yêu Giáo Hội được diễn tả qua sự quí mến và trân trọng Giáo Hội. Trong Giáo Hội chất chứa những kho tàng quí giá: các Bí Tích, Lời Chúa, giáo huấn của Giáo Hội, sự thánh thiện của nhiều phần tử trong Giáo Hội thuộc mọi thành phần, mọi ơn gọi: Đức Thánh Cha, các giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân, già trẻ, lớn bé. Trong những cuộc viếng thăm các cộng đoàn, tôi rất vui mừng chứng kiến tận mắt những tấm gương thánh thiện của rất nhiều người: các linh mục, tu sĩ, giáo dân gồm các cụ, các bậc cha mẹ, các bạn trẻ. Do đó, tôi nuôi trong lòng một niềm phấn khởi và hy vọng tràn trề, mặc dù cũng thấy nhiều hoàn cảnh khó khăn và những lấn cấn đây đó.
- Tình yêu được diễn tả qua lòng trung thành và lòng kính trọng đối với Giáo Hội theo bản tính của Giáo Hội. Là đoàn dân được Chúa qui tụ, nuôi dưỡng và thánh hóa, Giáo Hội cũng có những đặc tính xã hội, đoàn thể, nhưng bản tính, đời sống và sinh hoạt của Giáo Hội lại khác các tổ chức trần thế, nhắm một mục đích duy nhất là Nên Thánh diễn tả qua hai giới răn chính yếu: Mến Chúa và Yêu người. Để phục vụ và thúc đẩy cộng đoàn trong viễn tượng này, Quí Chức cần phải học hiểu bản tính của Giáo Hội và phải là những người đầu tiên hăm hở Nên Thánh và thực hành hai giới răn Mến Chúa và Yêu người. Khi không thương yêu thì tròn cũng có thể thành méo, và không thấy gì là tốt, là hay, nhưng khi thương yêu thì dễ nhận ra được những điểm tốt, điểm hay của người mình thương yêu, và khi có những lỗi lầm, thì dễ chín bỏ làm mười, tuy vẫn tôn trọng sự công bằng. Nhưng thực hiện công bằng với một con tim biết thương yêu thì rất khác với sự công bằng trừu tượng, thể hiện bằng một con tim thờ ơ, hay tệ hơn nữa, con tim thù hằn, chai đá.
- Trong Giáo Hội có nhiều ơn gọi và trách nhiệm khác nhau. Tình yêu đòi mỗi phần tử phải ý thức và chấp nhận trách nhiệm theo ơn gọi và vị thế của mình, đồng thời chấp nhận, kính trọng và khích lệ các phần tử khác trong trách nhiệm theo ơn gọi và vị thế của họ. Nếu không có sự hiểu biết và kính trọng nhau theo ơn gọi và trách nhiệm của mỗi phần tử theo bản tính của Giáo Hội, nhiều khi chính lòng nhiệt thành sẽ là căn cớ gây ra khó khăn, tranh chấp và chia rẽ. Trong tinh thần này, ơn gọi còn đòi hỏi Quí Chức biết cộng tác với các chủ chăn trong việc nối kết các sự khác biệt trong cộng đoàn để gây tình hiệp thông và sự hiệp nhất. Điều này đòi hỏi phải có những chương trình học hỏi và trao đổi, đối thoại về các ơn gọi và trách nhiệm khác nhau trong Giáo Hội trên nhiều khía cạnh: giáo luật, thần học, tu đức, văn hóa.
- Giáo Hội có nguồn gốc thần linh, nhưng được cấu tạo bởi các phần tử là những con người tội lỗi, đang trên đường thanh tẩy để nên thánh. Mỗi tội lỗi và khuyết điểm đều gây ra những đau khổ cho người khác, nhất là những người gần gũi trong việc sống chung và cộng tác phục vụ. Do đó, tình yêu Giáo Hội đòi một khả năng chấp nhận và chịu đựng đau khổ do những khuyết điểm và tội lỗi của các phần tử khác trong Giáo Hội gây ra. Chấp nhận và chịu đựng với tinh thần đức tin và lòng thương yêu để biến đau khổ thành của lễ và lời kinh dâng lên Chúa, khẩn cầu ơn tha thứ và cứu độ cho Giáo Hội, đặc biệt những người là nguồn gốc những đau khổ mình phải hứng chịu. Làm như thế, Quí Chức sẽ trở nên giống Thầy Chí Thánh của mình là Chúa Giêsu, Đấng “đã yêu thương Giáo Hội và đã hiến mình vì Giáo Hội để thánh hoá và thanh tẩy Giáo Hội bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền.” (Eph 5:35-37).
Kết luận
Việc sống đạo trong thế giới hôm nay, đặc biệt đối với Quí Chức là những người có ơn gọi cộng tác gần gũi với các chủ chăn để xây đắp Cộng Đoàn và thúc đẩy anh chị em mình trên hành trình theo Chúa: nên thánh và làm chứng cho Người, có nhiều đòi hỏi và gặp nhiều khó khăn. Cái khó khăn lớn nhất không phải là ngoại cảnh, nhưng là chính con người của mình. Để có thể cộng tác, xây đắp tâm hồn người anh chị em và làm chứng cho Chúa, trước tiên người môn đệ phải được thanh luyện trong tâm hồn để trở nên giống Chúa. Cái khác nhau căn bản không phải là việc làm, nhưng là lý do, mục đích và tinh thần hướng dẫn việc làm. Đó chính là cái tâm, cái hồn của con người trong công việc làm. Nhiều người có thể cùng làm một công việc, nhưng lý do và tinh thần hướng dẫn có thể khác nhau và do đó, hậu quả cũng rất khác nhau. Đúng là phải “tu thân” rồi mới “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Hành trình tu thân tuy vất vả và cực nhọc, nhưng cũng chất chứa hy vọng và ủi an vì biết rằng khi con người của mình được thăng tiến theo tinh thần của Chúa thì mình cũng giúp cho anh chị em và cộng đoàn được thăng tiến và những ai trung thành phục vụ Chúa, cuối cuộc hành trình sẽ được nghe những lời đầy âu yếm của Người: “Các con là những đầy tớ tín trung, đã kiên trung với Thầy trong thử thách, gian chuân, hãy vào ngồi ăn cùng bàn với Thầy và hưởng niềm vui trong Nước Thầy” (x. Lk 22:28-30).
Giám Đốc Văn Phòng Phối Kết