Đôi dòng ghi nhớ (1)
Một người Việt Nan vừa ra đi đã được rất nhiều người và nhiều giới trên khắp thế giới tiển đưa với lòng thương tiếc, trong đó có 174 phái đoàn ngoại giao các nước, đó là Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Từ trước đến nay, chưa một người Việt Nam nào được vinh dự như vậy. Tại sao?
Cha lại đi thêm một quảng đường,
Chông gai, mịt mù và vô định.
Trên đường cha gặp lắm lữ khách,
Cha đã xem tất cả là bạn,
Xem mọi biến cố là kinh nghiệm quý báu,
Vì tất cả là hồng ân...
Đó là những lời Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã viết cách đây 26 năm, lúc ngài bị nhà cầm quyền Cộng Sản bắt từ Sàigòn đưa ra quản thúc tại giáo xứ Cây Vong, Nha Trang. Phải chăng đây là những lời tiên tri về cuộc đời của ngài và hướng sống mà ngài đã chọn?
1.- BƯỚC GẬP GHỀNH VÀO ĐỜI
Tôi gặp Linh mục Nguyễn Văn Thuận lần đầu tiên vào tháng 8 năm 1953 khi ngài đến nhận chức Phó xứ giáo xứ Tam Tòa thuộc thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, sau khi ngài vừa chịu chức linh mục tại Huế vào tháng 6. Lúc đó, chúng tôi đang về nghĩ hè tại đây. Giáo xứ Tam Tòa là một giáo xứ lớn nhất ở Đồng Hới, thường có 3 linh mục coi sóc. Tôi nhớ năm 1953, tại giáo xứ này đã có các linh mục sau đây: Lm. Nguyễn Văn Tâm: Chính xứ; Lm. Trần văn Cần, Phó xứ I; và Lm. Đỗ Bá Ái: Phó xứ II. Ngoài ra, còn có thêm một linh mục người Pháp làm tuyên úy quân đội, đó là linh mục Georges Neyroud. Hình ảnh của linh mục Nguyễn Văn Thuận hồi đó là hình ảnh của một người cao và gầy, ốm yếu, ăn nói nhỏ nhẹ và hay nói đùa. Ngài ở trong một căn nhà ngang, nằm ngoài dãy lầu chính dành cho các linh mục khác. Nhìn hình ảnh của ngài lúc đó, không ai nghĩ rằng con người này ngày sau sẽ trở thành một Hồng Y, giữ một chức vụ quan trọng tại Tòa Thánh Vatican.
Khuôn viên nhà cha xứ Tam Tòa là một khu vườn tuyệt đẹp và rộng mênh mong, nằm ngay trên bờ sông Nhật Lệ, nhìn về phía đàng xa kia là biển. Chúng tôi thường tới sinh hoạt hướng đạo tại đó. Vào những buổi chiều trăng lên, nhất là vào mùa Hạ và mùa Thu, chúng tôi hay đến ngồi quanh cái bàn đá sát bờ sông để thưởng trăng. Đôi khi Linh mục Nguyễn Văn Thuận ra trò chuyện với chúng tôi. Bây giờ khung cảnh đó chỉ còn trong trí nhờ, vì toàn thể thành phố Đồng Hới đã bị máy bay Mỹ san bằng trong chiến tranh. Sau khi đi tù về, tôi trở lại Đồng Hới năm 1987, không thấy còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào. Tôi không thể tưởng tượng được ngôi trường mà tôi đã học lúc còn nhỏ nằm ở khu nào.
Trong các sinh hoạt, Linh mục Nguyễn Văn Thuận luôn cố gắng đi theo chúng tôi, nhưng hình như ngài không thể theo kịp vì sức khỏe quá yếu. Chỉ khoảng 8 tháng sau, ngài phải rời Tam Tòa để vào Huế chữa bệnh.
Sau cuộc di cư vào tháng 8 năm 1954, tôi vào Huế tìm thăm ngài thì ngài đang nằm trong bệnh viện, trông rất xanh xao và gầy yếu. Nhưng rồi nhờ một “phương thuốc nhiệm mầu”, sức khỏe của ngài bổng nhiên phục hồi lại, tướng mạo phương phi hẵn lên. Ngài được cử làm Phó xứ Thánh Francois Xavier, thường được gọi là nhà thờ Nhà Nước, lúc đó đang do linh mục Darbon người Pháp làm chánh xứ. Năm 1956 ngài được đi Roma học và đến năm 1959 ngài đậu Tiến Sĩ Luật Khoa về Giáo Luật. Từ đó, cuộc đời của ngài đi lên, nhưng chông gai cũng quá nhiều.
2.- NHỮNG KÝ ỨC VỀ QUẢNG BÌNH
Tuy ở Quảng Bình chỉ có 8 tháng và sau đó hiệp định Genève được ký kết ngày 20.7.1954 phân chia đất nước, Quảng Bình thuộc về miền Bắc, nhưng ngài nói với tôi rằng Quảng Bình luôn in sâu trong tâm khảm của ngài. Điều này cũng dễ hiểu. Quê ngoại của ngài ở làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, một làng quê chỉ cách thành phố Đồng Hới khoảng 30 cây số. Nơi đây, gia đình cụ Ngô Đình Khả đã sinh ra, lớn lên và gặp biến cố kinh hoàng năm Ất Dậu (1885) do Văn Thân gây ra. Những người sống sót, một phần chạy về Đồng Hới kết hợp với các giáo dân chạy loạn khác, thành lập giáo xứ Tam Tòa, một phần chạy vào Huế lập cư ở vùng Bãi Dâu.
Sở dĩ gọi là Tam Tòa, vì nơi đây trước kia có Tam Pháp Tòa do Nhà Nguyễn thành lập. Tam Pháp Tòa là một tòa án cao nhất gồm có đại diện Bộ Hình, Đô Sát Viện và Đại Lý Tự, xét xử các vụ án quan trọng. Ở trong thành nội Huế cũng có một Tam Tòa gióng hệt như thế.
Khi Linh mục Nguyễn Văn Thuận đến Tam Tòa thì gia đình cụ Ngô Đình Quyền, anh của cụ Ngô Đình Khả, đang sinh sống tại đó, và bà Ngô Đình Thị Tiến, em của cụ Ngô Đình Khả, đang làm Bề Trên Dòng Mến Thánh Giá tại đây. Thân mẫu của ngài là bà Ngô Đình Thị Hiệp, em của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, năm nay vừa mừng thọ 100 tuổi, hiện đang sống ở Úc, đã kể cho ngài nghe nhiều lần về biến cố năm Ất Dậu tại làng Đại Phong, nên ngài khó quên được.
Sau này, khi in xong cuốn “Những bí ẩn đàng sau cuộc chiến Việt Nam”, Quyển I, trong đó có nói về dòng họ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tôi có gởi biếu ngài. Khi đến Orange County, thấy tôi đứng ở xa, ngài đã chạy tới ôm chầm lấy tôi và hỏi: “Chú mi lấy tài liệu ở mô mà viết đầy đủ như rứa?” Hồi còn nhỏ, ngài thường gọi tôi bằng “chú mi”. Khi tôi có chút địa vị trong xã hội, ngài không gọi bằng “chú mi” nữa mà gọi bằng tên, nhưng thỉnh thoảng cũng quen miệng kêu “chú mi”!
Đối với tôi, viết về gia đình họ Ngô không khó lắm. Hồi nhỏ, tôi thường nghe những người lớn trong làng kể nhiều lần về biến cố kinh hoàng xẩy ra năm Ất Dậu cho các giáo xứ tại Quảng Bình, trong đó có làng Đại Phong và gia đình cụ Ngô Đình Khả. Vì thế, sau khi tham khảo tài liệu trong các văn khố, tôi hỏi lại một số người lớn tuổi trong làng còn sống sót, họ đã kể thêm cho tôi nghe nhiều chi tiết hữu ích và thích thú. Sau này, Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận có kể cho tôi thêm nhiều chi tiết quan trọng mà thân mẫu ngài đã kể lại, để tôi có thể viết đầy đủ hơn.
3.- BƯỚC ĐƯỜNG ĐI LÊN
Dưới chế độ Ngô Đình Diệm, Linh mục Nguyễn Văn Thuận tuy thuộc dòng họ Ngô, có bằng tiến sĩ luật, làm giáo sư rồi giám đốc chủng viện ở Huế, nhưng ít ai chú ý đến ngài, vì ngài thuộc về bên ngoại và trên ngài còn có nhiều vị quyền thế khác. Lúc đó tôi cũng đang là một sinh viên luật khoa, nên chưa có cơ hội tham gia vào đời sống chính trị. Sau này, khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, những biến loạn liên tiếp xẩy ra tại miền Trung, vai trò của ngài bổng trở nên quan trọng.
Ngày 9.4.1966 Tướng Tôn Thất Đính được cử làm Tư Lệnh Vùng I thay thế Tướng Nguyễn Văn Chuân với nhiệm vụ giải quyết các vụ biến loạn miền Trung. Nhưng khi đến Huế, Tướng Đính chẳng những không giải quyết được gì mà còn đứng về phe Thượng Tọa Thích Trí Quang, làm cho tình hình rối loạn tăng thêm. Nhóm “Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng” do Việt Cộng tổ chức và lãnh đạo, đã nấp dưới danh nghĩa Phật Giáo, lộng hành tại Huế và Đà Nẵng, muốn bắt ai thì bắt, muốn giết ai thì giết, chẳng coi chính quyền và luật pháp ra gì cả. Giữa các giáo xứ tại Huế và Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng đang dàn trận để đánh nhau. Lực Lượng đã đánh chiếm giáo xứ Giạ Lê (Phù Lương). Nhưng nhờ sự dàn xếp khéo léo giữa Linh mục Nguyễn Văn Thuận, lúc đó đang giữa chức Tổng Đại Diện Giáo Phận Huế, với Thượng Tọa Thích Trí Quang, cuộc chiến đẩm máu giữa hai bên đã không xẩy ra. Từ đó, uy tín của ngài cứ lên dần. Khi nghe tin quân đội và cảnh sát từ Đà Nẵng đang tiến ra Huế, Tướng Đính vào nấp trong chủng viện Hoan Thiện và nhờ Linh mục Nguyễn Văn Thuận che chở.
Ngày 24.6.1967, Linh mục Nguyễn Văn Thuận được Tòa Thánh chọn làm Giám Mục Nha Trang. Lúc đó tôi đã có chút địa vị trong xã hội, có quan hệ chặt chẽ với nhiều cơ quan, và được nhiều người biết tên qua những bài nhận định và bình luận trên tờ Thẳng Tiến. Do đó, khi có biến cố gì quan trọng, Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận thường vào Saigòn, cư ngụ ở Dòng Chúa Cứu Thế hay nhà của thân phụ ngài ở đường Phan Thanh Giản, ngay sát bên cạnh nhà của ông già vợ tôi, và gọi tôi đến trao đổi tin tức. Có khi tôi ra Nha Trang thông báo cho ngài những tin quan trọng mà tôi nhận được.
4.- BIẾN CỐ LÀM THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI
Một biến cố trong tháng 4 năm 1975 đã đưa Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận vào những ngày bi thảm nhất của cuộc đời ngài, nhưng cũng từ đó ngài đã bước lên những địa vị quan trọng sau này trong Giáo Hội. Đây là một biến cố mà chính tôi là người đã chứng kiến và theo dõi rất sát.
Khi đoán biết miền Nam sẽ rơi vào tay Cộng Sản, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình đã 5 lần đề nghị Đức Khâm Sứ Tòa Thánh tại Việt Nam, Henri Lemaitre, xin Tòa Thánh cử Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận làm Phó Tổng Giám Mục Saigon với hy vọng sự khôn ngoan của ngài có thể đưa Giáo Hội Việt Nam vượt qua những cơn khó khăn sắp đến, nhưng khi được Tòa Khâm Sứ hỏi ý kiến, Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận luôn từ chối. Tuy nhiên, khi tình hình trở nên nghiêm trọng, chiếu theo đế nghị của Đức Khâm Sứ, ngày 25.4.1975 Tòa Thánh đã phong ngài làm Tổng Giám Mục hiệu tòa thành Vadesitana, giữ chức Phó Tổng Giám Mục Giáo Phận Saigon với năng quyền kế vị. Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình nghĩ rằng nếu tình hình quá khó khăn, ngài sẽ từ chức và trao quyền lại cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận.
Sau khi Việt Cộng chiếm Sài Gòn, ngày 8.5.1975, một nhóm Linh mục đã gởi đến Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình một kiến nghị yêu cầu hoãn không cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận nhận chức Tổng Giám Mục Phó. Kiến nghị này do các Linh mục sau đây ký tên: Trương Bá Cần, Trần Viết Thọ, Vương Đình Bích, Phan Khắc Từ, Thanh Lãng, Nguyễn Quang Lãm, Hoàng Kim, Huỳnh Công Minh, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Đinh Bình Định, Nguyễn Thiện Toàn, Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Văn Huệ và Nguyễn Nghị.
Mặc dầu có sự phản đối nói trên, ngày 12.5.1975 Tòa Giám Mục Saigon vẫn thông báo cho các giáo xứ trong Giáo Phận biết, Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, Giám Mục Nha Trang, đã được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục Phó Giáo Phận Saigon với quyền kế vị và ngài đã đến nhận nhiệm vụ mới ngày 12.5.1975.
Nhận được thông báo này, các linh mục Trương Bá Cần, Trần Viết Thọ, Vương Đình Bích, Phan Khắc Từ, Thanh Lãng, Nguyễn Quang Lãm và Hoàng Kim đã đến Chủng Viện Thánh Giuse ở đường Cường Để chất vấn Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình và yêu cầu Đức Phó Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận từ chức.
Ngày 13.5.1975, một nhóm sinh viên công giáo đã xâm nhập Tòa Giám Mục Saigon, căng lên những biểu ngữ sau đây:
- Nguyễn Văn Thuận, Giám Mục của ai?
- Vì quyền lợi của Giáo Hội Việt Nam, yêu cầu Nguyễn Văn Thuận từ chức.
- Không có hòa giải, Nguyễn Văn Thuận phải rút lui.
Ngoài ra, nhóm này cũng gởi đến Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre một văn thư nói rằng “Mỹ - Thiệu và tay sai đã dẫm lên nhau chạy trốn, sự bổ nhiệm một Giám Mục chống Cộng tại Saigon là một điều nguy hiểm không những cho Giáo Hội mà cho cả dân tộc Việt Nam”. Họ yêu cầu Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận phải từ chức để “tránh cho Giáo Hội và dân tộc Việt Nam những phiêu lưu vô vọng và nguy hiểm”.
Ngày 14.5.1975, một đoàn biểu tình do Đoàn Phú Khánh cầm đầu, đã xâm nhập Tòa Khâm Sứ của Tòa Thánh ở đường Hai Bà Trưng, trèo lên nóc nhà hạ cờ Tòa Thánh xuống và căng biểu ngữ đòi Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre phải cút đi. Họ đẩy một linh mục người Ba Lan và linh mục Trần Ngọc Thụ ra khỏi Tòa Khâm Sứ. Trong khi đó, Linh mục Huỳnh Công Minh đứng chụp hình và Linh mục Thanh Lãnh phát bản tuyên cáo. Ngày 3.6.1975, họ đến phá Tòa Khâm Sứ một lần nữa. Được tin này, các thanh niên công giáo thuộc giáo xứ Bùi Phát ở đường Trương Minh Giảng đã kéo lên. Nhưng khi các toán thanh niên này mới đến đầu cầu Trương Minh Giảng thì bộ đội xả súng bắn vào họ, một người bị chết và nhiều người bị thương. Linh mục Vũ Bình Định, Phó xứ Bùi Phát đã bị bắt ngay sau đó.
Trước sự chống đối này, ngày 7.6.1975 Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình đã gởi cho các linh mục và giáo dân một văn thư, trong đó có những đoạn như sau:
“Tôi đã hết sức ôn hòa, lắng nghe và thông cảm đồng thời giải thích trực tiếp hoặc gián tiếp cho những ai muốn đối thoại với tôi về những sự việc trên. Nhưng tình trạng ấy chưa khả quan hơn.”
Sau đó, ngài kêu gọi:
“Tôi kêu gọi tất cả quý cha, các tu sĩ nam nữ và toàn thể giáo dân sẵn sàng tuân phục hoàn toàn quyết định của Tòa Thánh La Mã”.
Ngày 18.6.1975, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình đã gởi cho Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một văn thư yêu cầu ba điểm sau đây:
1) Triệt để thi hành Sắc Lệnh Tự Do Tín Ngưỡng và chính sách 10 điểm của chính phủ để gây tin tưởng và phấn khởi nơi toàn dân đối với chính phủ.
2) Chấm dứt chiến dịch tuyên truyền bôi nhọ, vu cáo các chức sắc của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.
3) Chấm dứt ngay chiến dịch vận động phi pháp trục xuất Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, vì việc trục xuất phi pháp này vi phạm trầm trọng Sắc Lệnh Tự Do Tín Ngưỡng và chính sách 10 điểm của chính phủ, sẽ gây nguy hại cực kỳ lớn lao không lường được, về đối nội cũng như đối ngoại, cho Quốc Gia Dân Tộc.
5.- BẮT ĐẦU NHỮNG NGÀY GIAN TRUÂN
Mặc dầu có thư phản kháng của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, ngày 27.6.1975, Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Saigon - Gia Định công bố quyết định không cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận được hoạt động tại nhiệm sở mới. Ngày 1.7.1975 Ủy Ban Quân Quản gởi cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận một văn thư yêu cầu ngài phải trở lại nơi cư trú trước ngày 30.4.1975.
Chiều 15.8.1975, Ủy Ban Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Thành Phố Hồ Chí Minh mở cuộc họp tại Nhà Hát Thành Phố (trụ sở Hạ Nghị Viện cũ) để trình bày trường hợp của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận. Có khoảng 350 giáo sĩ, tu sĩ và đại diện các giáo xứ được công an “mời” đến nghe trình bày. Ông Mai Chí Thọ, đại diện chính quyền, tuyên bố rằng chính phủ quyết định đưa ông Nguyễn Văn Thuận trở về Nha Trang, nơi đương sự cư ngụ trước ngày 30.4.1975, vì sự hiện diện của ông Nguyễn Văn Thuận gây trở ngại cho sự đoàn kết dân tộc.
Cũng trong ngày 15.8.1975, công an đến bắt Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận đưa ra Nha Trang, nhưng không phải đến Tòa Giám Mục Nha Trang mà đến giáo xứ Cây Vông thuộc xã Diên Sơn, Huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Chính Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận đã kể lại câu chuyện này như sau:
“Ngày 15 tháng 8 năm 1975, lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên trời, tôi được mời đến Phủ Tổng Thống, “Dinh Độc Lập”, vào lúc 14 giờ. Tại đó, tôi bị bắt và đem đi trên một xe hơi có hai công an đi kèm. Và đó là khởi đầu cuộc phiêu lưu của tôi.
“Trong lúc ấy, tất cả các linh mục, tu sĩ nam nữ bị gọi tới Nhà Hát, với mục đích tránh mọi phản ứng của dân chúng đối vụ bắt tôi.
“Trong cuộc hành trình, tôi bắt đầu ý thức rằng mình đang mất tất cả. Tôi ra đi, với chiếc áo chùng thâm trong túi có một cỗ tràng hạt. Tôi chỉ còn biết phó thác cho Chúa Quan Phòng. Nhưng giữa bao nhiêu lo âu ấy, tôi vẫn thấy có một niềm vui lớn: “Hôm nay là lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên trời...”
“Từ lúc đó, người ta cấm gọi tôi là “Đức Cha...”. Tôi là ông Nguyễn Văn Thuận. Tôi không được phép mang dấu hiệu gì vể chức vị của tôi. Không hề báo trước chút nào. Chúa yêu cầu tôi hãy trở về với điều cốt yếu.
“Trên đường dài 450 cây số, không có một ai. Tôi thực sự bị bỏ rơi.
“Và trong sự xúc động trước hoàn cảnh mới, diện đối diện với Chúa, tôi nghe thấy Chúa Giesu hỏi Simon: “Simon, con bảo Thầy là ai?” (cf MT 16,15)”
(Chứng Nhân Hy Vọng, Hoa Kỳ 2000, tr. 37 - 38)
Giáo xứ Cây Vong lúc đó có khoảng 1200 giáo dân do Linh mục Vũ Văn Như, 70 tuổi, làm chánh xứ. Trong thời gian bị quản chế tại đây, ngài được Linh mục chính xứ và giáo dân mộ mến và giúp đỡ tận tình. Bổng nhiên, vào 8 giờ tối ngày 18.3.1976, công an đã đưa xe bịt bùng đến và thông báo cho ngài biết ngài phải dời đến một nơi cư trú mới. Trong khi đó, họ nói với dân chúng rằng ông Nguyễn Văn Thuận có dính líu đến vụ Vinh Sơn ở Sài Gòn nên đang bị diều tra, mặc dầu khi xẩy ra vụ Vinh Sơn, ngài đang bị quản thúc tại Cây Vong, ngày đêm đều có công an theo dõi. Nghe tin này, giáo dân trong giáo xứ đã đến rất đông để xem chuyện gì sẽ xẩy ra. Ai cũng lo sợ những chuyện không may sẽ đến cho ngài. Khi ngài bị đẩy lên xe, mọi người đều chảy nước mắt và ai cũng âm thần đọc kinh cầu nguyện cho ngài. Tối hôm đó, ngài bị đưa vào giam ở trại Phú Khánh. Ngài đã mô tả lại thời gian bị giam tại trại này như sau:
“Nhà tù nơi tôi bị giam trong những tháng đầu tiên tọa lạc tại khu vực có nhiều tín hữu nhất trong thành phố Nha Trang, nơi tôi đã làm giám mục trong 8 năm.
“Từ phòng giam, sáng tối tôi đều nghe thấy tiếng chuông nhà thờ ngân vang, và suốt ngày, tôi nghe những tiếng chuông của bao nhiêu giáo xứ và nhà dòng. Tôi ước mong được dời đi thật xa, lên miền núi để khỏi phải nghe những tiếng chuông ấy.
“Ban đêm, trong cái thinh lặng của thành phố, tôi nghe lại tiếng sóng Thái Bình Dương mà tôi đã từng nghe thấy từ văn phòng tòa giám mục của tôi. Không ai biết tôi ở đâu, mặc dù nhà tù chỉ cách nhà tôi vài cây số. Tôi sống tình trạng thật vô lý!”
(Chứng Nhân Hy Vọng, Hoa Kỳ 2000, tr. 141 - 142)
6.- TRÊN ĐƯỜNG RA BẮC
Ngày 29.11.1976, xe công an lại đến trại Phú Khánh đưa ngài vào trại Thủ Đức. Ngày 1.12.1976, ngài cùng nhiều tù nhân chính trị khác đang bị giam ở miền Nam, được đưa xuống tàu Trường Xuân đi ra Bắc. Khi ra đi, vì không có gì để đựng các đồ tùy thân, ngài phải lấy cái quần cột hai ống lại và dồn đồ vào trong rồi mang đi. Tôi cùng khoảng 150 tù nhân chính trị khác cũng được đưa từ trại Long Thành đến Tân Cảng để đi ra Bắc trong chuyến tàu này. Tôi có gặp ngài trên tàu, chào hỏi mấy câu, sau đó bị đưa vào một khoang khác. Chúng ta hãy nghe chính ngài kể lại các diễn biến này:
“Ngày mồng 1 tháng 12 năm 1976, lúc 9 giờ tối, bất thình lình tôi bị gọi cùng với vài tù nhân khác. Chúng tôi bị xích người này với người kia từng hai người một và được đẩy lên một xe cam nhông. Cuộc hành trình ngắn đưa chúng tôi tới Tân Cảng, là hải cảng quân sự mới do người Mỹ mở mấy năm trước đó. Chúng tôi trông thấy một con tàu trước mặt, hoàn toàn chìm trong bóng tối để dân chúng khỏi để ý. Chúng tôi bị đưa lên tàu đi ra Bắc - một cuộc hải hành dài 1.700 cây số.”
“Tối hôm ấy, trong khi chờ đợi, họ bắt chúng tôi ngồi xuống đất. Xa xa, cách đó 3 cây số, tôi thấy ánh đèn của thành phố Saigon, trọng tâm của giáo phận mà tôi được bổ nhiệm làm Giám Mục Phó ngày 24 tháng 4 năm 1975. Tôi biết rằng mình sắp bị đưa đi xa khỏi nơi này. Đau khổ ấy làm tôi rùng nình. Tôi nghĩ đến Thánh Phaolô Tông Đồ lúc giả từ các kỳ mục thành Epheso tại Mileto, khi biết rằng sẽ không bao giờ còn được nhìn lại họ nữa. Còn tôi thì không được giả từ những người thân của tôi. Tôi cũng không thể an ủi hoặc để lại cho họ lời khuyên nào. Trong thâm tâm, tôi giả từ họ, nhất là Đức Tổng Giám Mục cao niên Phaolô Nguyễn Văn Bình tốt lành của tôi. Tâm hồn tôi đau đớn, khi nghĩ mình sẽ không bao giờ còn được nhìn lại họ nữa. Cho đến nay, tôi vẫn chưa gặp lại họ.
“Tôi cảm thấy niềm đau khổ mục tử sâu xa trong tất cả những điều đó, nhưng tôi có thể làm chứng rằng Chúa Cha không hề bỏ rơi tôi và Ngài đã ban sức mạnh cho tôi.”
“Cùng với các tù nhân khác, tôi bị đem xuống hầm tàu, nơi chứa than. Chỉ có một ngọn đèn nhỏ leo lét cháy. Còn lại là hoàn toàn tối om. Chúng tôi tất cả là 1.500 người, trong tình cảnh không thể tả được. Một cơn bảo nổi dậy trong tâm trí tôi. Cho tới nay tôi còn ở trong giáo phận của tôi, nhưng từ giờ phút này trở đi không biết tôi sẽ phiêu bạt tới chân trời gốc bể nào. Tôi suy niệm lời thánh Phaolô nói: “Tôi đi Giêrusalem mà không biết điều gì sẽ xẩy ra cho tôi ở đó. Tôi chỉ biết rằng Chúa Thánh Thần khuyến cáo tôi rằng tại mọi thành tôi tới, xiềng xích và gian truân đang chờ đợi tôi.” (Cv 20,22,23). Tôi đã sống trong lo âu suốt đêm hôm ấy.
“Ngày hôm sau, khi một chút ánh sáng mặt trời lọt vào hầm tàu, tôi nhận ra chung quanh tôi những gương mặt buồn sầu và tuyệt vọng của các tù nhân khác. Bầu khí sầu thảm như đám tang. Một trong các tù nhân đã tìm cách treo cổ tự tử với một sợi dây thép. Những người khác gọi tôi. Tôi đến nói chuyện với anh. Sau cùng anh lắng nghe lời tôi. Cách đây hai năm, trong một cuộc họp liên tôn tại California, tôi đã gặp lại anh. Mặt mừng rỡ, anh tiến tới gặp tôi và cám ơn tôi. Anh đã cho mọi người xem các vết thẹo còn hằn trên cổ.
“Trong cuộc hành trình, khi các tù nhân biết có Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, họ đến với tôi để kể lể các nổi lo âu của họ. Tôi đã chia sẻ các đau khổ của họ và an ủi họ hàng giờ và suốt cả ngày. Trong ba ngày trên tàu, tôi an ủi các tù nhân khác và tôi suy niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Đêm thứ hai, giữa cái lạnh của Thái Bình Dương trong tháng 12, tôi bắt đầu hiểu rằng ơn gọi của tôi bắt đầu một giai đoạn mới. Trong giáo phận, tôi đã đưa ra các sáng kiến khác nhau cho công tác rao truyền Tin Mừng cho người bên lương. Giờ đây phải cùng Chúa Giêsu đi về nguồn gốc của việc loan báo Tin Mừng. Phải cùng Ngài đi chết “bên ngoài tường thành”, “bên ngoài tường thánh.”
(Chứng Nhân Hy Vọng, Hoa Kỳ 2000, tr. 126 - 128 và 141 - 142)
Ngày 5.12.1976 tàu cập bến Hải Phòng. Công an chia các tù nhân thành ba toán khác nhau theo dấu hiệu họ đã gắn ở mỗi người và đưa mỗi toán đến một trại cải tạo khác nhau: Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Quang và Thanh Hóa. Riêng ngài bị đưa lên trại Vĩnh Quang ở Vĩnh Phú (Vĩnh Phúc và Phú Thọ cũ), nằm sát chân núi Tam Đảo.
(Còn tiếp)