Làm trai cho xứng thân trai
LTS: Bài này được viết bởi tác giả Tim Gray cho trang web của Tổng Giáo Phận Quân Đội Hoa Kỳ
Đức hạnh/đạo đức (virtues) như là một bản kế thiết kế chi tiết để mỗi một người nam biết sống làm sao cho xứng với thân trai. Thực ra, từ ngữ “virtue” có nguồn gốc từ tiếng La Tinh để chỉ về người đàn ông “vir.” Trong suốt nhiều thập kỷ cổ xưa, cụm từ “xứng thân trai” cũng có nghĩa là mỗi một người nam phải biết cách sống sao có đức độ, có chính nghĩa. Từ “virtue” trong tiếng La Tinh (là virtus) là nhằm để ám chỉ đến quyền lực, sức mạnh và khả năng. Chính vì thế, những đức tính đó phải trở nên như là những thói quen trao cho chúng ta quyền lực để chúng ta biết cách ra tay hành động một điều gì đó anh dũng, cũng như giúp chúng ta có được sức mạnh cần thiết để thực thi những gì là đúng đắn và tốt đẹp. Không có đạo đức, chúng ta rồi cũng sẽ chẳng là những người ngoan đạo lẫn những người đàn ông thật sự. Đạo đức như là những khối đá xây dựng nền tảng của chí khí, và nếu như không có nó, thì đời sống luân lý của chúng ta cũng chẳng bao lâu sẽ bị sụp đổ trước sức ép của thế giới.
Đạo đức rất cần thiết để giúp chúng ta biết sống sao cho xứng, và quan trọng hơn nữa, là biết cách sống một đời sống Kitô giáo gương mẫu. Thánh Phêrô đã hô hào những người Kitô giáo thời sơ khai về vai trò chính yếu của đức hạnh, Ngài nói: “Và cũng vì lẽ ấy, anh em hãy gia tăng tất cả nhiêt thành và lo sao để nhờ đức tin thì đạt thêm đức độ, nhờ đức độ lại thêm giác ngộ.” (Thư Thứ II của Thánh Phêrô, chương 1, câu 5). Và một vài đoạn Kinh Thánh sau đó, Ngài đã khuyên răn rằng: “Vì các điều kiện ấy, một khi đã có được và có cách dồi dào, tất không để anh em ở dưng, vô hiệu trên đường trí tri về Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô.” (Thư Thứ II của Thánh Phêrô, chương 1, câu 8). Hay nói cách khác, cuộc sống của chúng ta sẽ chỉ có lý nghĩa, hiệu quả, và sinh hoa kết trái nếu như chúng ta là những người có đức độ. Đó là lý do tại sao mà Thánh Phêrô luôn nhắc nhở chúng ta là hãy cố gắng để biết cách sống sao có đức độ.
Xã hội của chúng ta giả định rằng các giá trị chính là nền tảng của luân lý. Những chương trình giáo dục dựa trên căn bản của luân lý minh họa cho điều mà thế giới hiện đại tin rằng luân lý chính là cái gì đó giống hệt như việc biết cách đưa ra những chọn lựa đúng đắn vậy. Và nếu đúng như thế, thì sẽ có người chỉ trích về cách thức tiếp cận này dựa trên phương diện của luân lý triết học, thế nhưng chỉ trích của tôi rất là giản đơn và đi thẳng vào vấn đề. Mục đích cuối cùng chính là: các giá trị không thể nào làm cho những người nam trở thành những người sống có đạo đức, có luân lý. Điều này trông có vẽ cực đoan, thế nhưng mời quý vị hãy cùng tôi nhìn lại một số ví dụ điển sau:
Tôi coi trọng việc chèo thuyền, nhưng việc đó không thể nào biến tôi thành một thủy thủ được. Cũng tương tự như vậy, rất nhiều người đàn ông coi trọng sự trung thành trong hôn nhân, thế nhưng việc đó không có nghĩa là biến họ trở nên những người đàn ông chuy thủy. Thực tế mà nói, hầu hết mọi người đàn ông nào có phạm tội ngoại tình, cũng đều đánh giá cao sự trung thành trong hôn nhân, thế nhưng mặc cho sự đánh giá đó, họ vẫn cứ bội ước lời thệ hứa của họ. Việc có được những giá trị tốt là một điều đáng biểu dương, thế nhưng trận chiến về luân lý không những phải biết những gì là đúng đắn mà còn phải biết hành động sao cho đúng đắn. Sự khác biệt giữa việc muốn làm một điều gì đó tốt đẹp và việc thực sự làm những điều đó thật là lớn.
Lấy ví dụ như tôi coi trọng việc đi máy bay, sẵn sàng bỏ ra hàng giờ với tư cách là một hành khách, và trở nên một người hâm mộ về hàng không, nhưng điều đó không thể nào giúp tôi trở thành một phi công để lái máy bay được. Để lái được máy bay, ai đó phải có những kỹ năng của một người phi công. Rất nhiều người đi máy bay, nhưng lại có rất ít người có khả năng để lái máy bay. Và nếu như cuộc sống luân lý của chúng ta bị xói mòn, thì chúng ta phải biết cách để đạt được những kỹ năng cần thiết để biết bay lên.
Rất nhiều người đàn ông muốn trở thành những người chồng tốt và những người cha gương mẫu, thế nhưng việc mong muốn này vẫn chưa đủ để trở thành người đức độ, vì chưng nó phải cần đến những kỹ năng cần thiết để có một đời sống luân lý lành mạnh, thành công, và sau đó là việc biết cách đáp máy bay xuống một cách an toàn nữa. Để hướng đời sống luân lý của chúng ta đến đúng bến bờ, chúng ta phải là những người đàn ông dày dạn trong đức độ, cũng như có được những thói quen để giúp chúng ta biết sống đúng với những giá trị mà chúng ta đeo đuổi. Những giá trị không thôi, cũng vẫn chưa đủ, để trở thành những người đàn ông đức độ.
Trong lớp học hỏi về Kinh Thánh sắp tới của chúng tôi về đức độ, Curtis Martin và tôi đưa ra một lời giải thích chi tiết về đạo đức chính là gì và làm sao để đạt được chúng. Sau đó, chúng tôi cùng nghiên cứu đến bốn đức tính cơ bản (cardinal virtues) đó là: tính khôn ngoan (prudence), tính công bằng (justice), tính anh dũng (fortitude) và tính ôn hòa (temperance); cũng như ba đức tính về thần học (theological virtues) đó là: đức tin, hy vọng và tình yêu. Đối với bài viết này, chúng ta hãy cùng nghiên cứu chi tiết về đức tính anh dũng. Thánh Tôma thành Aquinas hiểu rằng anh dũng chính là hình thái chung của tất cả mọi đức tính, để liên lũy thực thi bất kỳ một đức tính gì cũng đòi hỏi chúng ta phải có một chí khí kiên vững cùng với lòng gan dạ. Lấy ví dụ như, để trở nên thật thà, thì nó đòi hỏi phải có sự anh dũng, đặc biệt là khi phải nói lên sự thật, vì đó không phải là điều dễ làm tí nào.
Trong tất cả mọi đức tính, thì đức tính anh dũng được dùng để ám chỉ đến nam giới. Những người nam buộc phải cứng rắn và mạnh mẽ, và vì thế, phải anh dũng. Tuy nhiên, vẫn thường khi khái niệm này lại đưa chúng ta đến một bức tranh thu hẹp về lòng anh dũng, vì chúng ta chỉ đơn giản nghĩ rằng: anh dũng chính là việc đấm đá tầm thường. Rõ ràng là, những người binh sĩ cần phải biết cũng cố lòng dũng cảm của họ, thế nhưng lòng dũng cảm thì cao hơn cả bất kỳ một chiến trường nào. Lòng anh dũng được đòi hỏi qua rất nhiều cách mà chúng ta rất ít khi nhận ra. Lấy ví dụ như, bạn có hay biết rằng để rộng lượng với tiền của và tất cả các vật dụng đem cho người nghèo, thì đòi hỏi phải có lòng anh dũng không? Tất cả mọi việc đều đòi hỏi đến đức tín anh dũng, từ việc chăm sóc ai đó bị đau ốm nghiệt ngã, việc đi máy bay, hay chỉ đơn giản là việc học hành không thôi. Thực ra, thì đức tín anh dũng là một đức tín cơ bản để có thể có được những đức tín khác.
Thế anh dũng có nghĩa là gì? Anh dũng có nghĩa là sức mạnh của ý chí để cho phép ta chinh phục mọi sợ hãi. Đôi lúc chúng ta cần phải hành động, ra tay, nhưng vì lại e ngại chỉ vì mọi hậu quả có thể gây ra. Sợ hãi khiến cho ý chí của chúng ta bị trùn bước trước lý trí vì sự khó khăn nào đó. Anh dũng, can trường nhằm bảo đảm rằng chúng ta sẽ có được một trí óc rắn chắc, cương nghị để giúp chúng ta khắc phục mọi sợ hãi và biết hành động đúng đắn, cho dẫu khó khăn có thế nào đi chăng nữa. Chính vì thế mà Thánh Tôma thành Aquinas đã từng nói rằng: “Linh hồn anh dũng phải là linh hồn biết đối diện với quỷ dữ bằng một lý trí sắt đá.” (Theo Summa Theologiae IIa Iiae q. 123, art.4).
Kinh Thánh đưa ra cho chúng ta rất nhiều ví dụ về việc những người nam đã để cho nổi sợ hãi khống chế mọi hành động của họ. Hãy cùng quan sát những đoạn trích dẫn Kinh Thánh sau đây:
Trong sách Sáng Thế, chương 3 câu 10: Adam đã trốn khi Thiên Chúa xuất hiện chỉ vì sự sợ hãi.
Trong sách Dân Số, chương 13 câu 1 cho đến chương 14 câu 10: Mười trong số 12 chủng loài mang lại một báo cáo của ma quỷ về việc sợ rằng Thiên Chúa sẽ không ở bên họ trong cuộc chiến dành lại Miền Đất Hứa.
Trong Thư Thứ Nhất của Samuel, chương 17 câu 10: Những người đàn ông của Israel chạy trốn khỏi trận chiến giữa Goliah và Philistines vì sợ rằng, trước sau gì họ cũng sẽ bị nhuộm máu trong cuộc chiến đó.
Trong sách Máthêu, chương 14 từ câu 3 đến câu 12: Vua Herôđê trước tiên không giết chết Gioan Làm Phép Rửa vì sợ dân chúng, và sau này đã chặt đầu Gioan vì sợ đã bội thề trước đám khách của mình.
Trong sách Gioan, chương 19 câu 38: Giuse thành Arimathea là một vị môn đệ bí mật vì sợ người Do Thái.
Không Đau Đớn Thì Chẳng Được Gì Cả
Sự sợ hãi khiến chúng ta rút lui khỏi mọi cạm bẫy, khó khăn. Chúng ta sợ rằng chúng ta sẽ phải đón nhận sự đau khổ của ma quỷ hay sợ mất đi điều gì đó mà chúng ta mong muốn, và vì thế, chúng ta đã để cho nổi sợ hãi khống chế mọi hành động của chúng ta, hơn là chúng ta phải biết làm theo những gì là lẽ phải theo đúng như những lề luật và ý chỉ của Thiên Chúa.
Sự sợ hãi đôi lúc quá lớn để cản ngăn mọi người hành động vì sự đe dọa hay vì những trắc trở. Chính vì thế, một số người sợ đi máy bay, và như vậy sẽ cản ngăn họ khỏi đi du lịch, hay đi công tác, hay di vì gia đình hay vì đức tin. Hãy tưởng tượng rằng nếu như Thánh Phaolô bị nổi sợ hãi chế ngự khi phải chèo thuyền (vì lẽ, di chuyển bằng thuyền trong thời của vị Thánh còn nguy hiểm hơn cả việc đi bằng máy bay trong thời đại của chúng ta ngày nay), và rồi sẽ quyết định từ bỏ việc đi rao giảng cho cả Vương Triều La Mã thời đó hay sao? Hoặc, giống như Beethoven, vì nếu để nổi sợ hãi lấn chiếm thì ông sẽ không viết ra những bản nhạc hòa tấu sau khi ông bị điếc hay sao? Rất nhiều điều tốt đẹp, thiện hảo sẽ bị mất đi, chỉ vì sự sợ hãi.
Những thách đố hằng ngày trong đời sống của chúng ta đòi hỏi sự cương nghị về tâm và ý chí mà đức tín anh dũng cung cấp. Một sinh viên có thể vì sợ nên không dám lấy môn học hay nhất theo chuyên ngành của mình, chỉ vì vị giáo sư đòi hỏi. Một người đàn ông không dám rao giảng về Thiên Chúa cho người bạn đồng nghiệp của mình, chỉ vì sợ rằng, mình không thể đón nhận những lời phản đối. Một số khác thì lại e ngại sử dụng máy điện toán hay phải học biết thêm một kỹ năng mới bởi vì nó quá phức tạp đối với họ. Chúng ta sợ phải trả lời “không”, vì chúng ta muốn họ yêu thích chúng ta. Ở nhà, có bao nhiêu người cha đã không biết kỷ luật các con cái của họ vì sợ rằng những đứa trẻ đó rồi chúng sẽ không thích họ? Con người sợ phải thành thật, vì lẽ, khi chúng ta nói dối cũng chính là lúc chúng ta sợ hải, vì nói lên sự thật sẽ gây ra nổi đau trong chúng ta.
Sự sợ hãi cản ngăn chúng ta trở thành những người đàn ông biết hành động, vì chưng, sẽ an toàn hơn nếu như chúng ta là một người khan giả hay là một người bên lề, bang quan với cuộc sống. Không mạo hiểm, thì chẳng đạt được gì cả. Bí quyết để trở thành một người đàn ông biết hành động chính là trở nên một người đàn ông dũng cảm. Đức tín này sẽ giúp chúng ta chống lại những cám dỗ, khắc phục được trở ngại, khúc trở trong đời sống luân lý (theo Giáo Lý Công Giáo, số 1808). Nếu đem so sánh với tất cả những người khác, thì người Kitô giáo phải là người can đảm, vì Thiên Chúa của chúng ta chính là Chúa của tất cả mọi tạo vật, đã xuống cứu chuộc chúng ta, và đã giải thoát chúng ta khỏi vòng vây của tội lỗi, của ma quỷ. Trong sách Josuê, chương 1 câu 9, Thiên Chúa nói với Josuê rằng: “Hãy mạnh mẽ và can đảm! Đừng khíp vía, đừng nhát gan, vì Giavê Thiên Chúa của ngươi ở với ngươi bất cứ ngươi đi đâu.” Cũng giống như Josuê, chúng ta cũng được trao phó với một sứ mạng, và nếu chúng ta biết gọi mời Thiên Chúa là Đấng luôn hiện hữu với chúng ta, thì chúng ta sẽ thành công. Tất cả mọi trở ngại của chúng ta rồi sẽ qua đi giống như là những bức tường của thành Jerichô đã ngã lăn trước Josuê.
Phải Biết Anh Dũng Cho Đến Cùng
Anh dũng cũng có nghĩa là chúng ta sẳn sàng để chết cho lẽ phải. Đức tin Kitô giáo của chúng ta đã dạy cho chúng ta biết rõ rằng chúng ta thà chết hơn là phạm tội. Đó là điều mà các vị tử đạo đã thực hiện bằng cách chết cho Chúa Kitô.
Một thí dụ cổ điển về sự anh dũng cho đến cùng được tìm thấy trong câu chuyện của Eleazar. Trong suốt cuộc hành quyết của những kẻ ngoại giáo đối với những người Do Thái, một người đàn ông đứng tuổi có tên là Eleazar bị buộc phải chối bỏ Thiên Chúa và ăn thịt heo, vốn là điều cấm kỵ đối với người Do Thái. Chuyện kể rằng Eleazar lấy hết mọi can đảm như là một đấng trượng phu và đã từ chối phá lề luật của Thiên Chúa, ngay cả khi bị đe dọa chết và tra tấn. Một số các quan tổng trấn đã đưa cho Eleazar giải pháp là giả bộ thờ kính Thiên Chúa, nhưng ông đã trả lời là: “Dẫu rằng lúc này, tôi có thể tránh được hình phạt của người đời, thì trước sau gì, khi về sau, tôi cũng sẽ phải lãnh án phạt của Thiên Chúa. Vì thế, bằng việc từ chối cuộc sống tầm thường con người của tôi bây giờ, thì tôi sẽ tự chứng tỏ cho thấy người đàn ông già nua này đã biết sống xứng đáng, để làm gương cho những người trai trẻ, để họ biết sống có chí khí, có chính nghĩa trong việc gìn giữ và tôn trọng các luật lệ của Thiên Chúa.”
Để lèo lái thành công qua những bão giông của cuộc sống, chúng ta cần phải có một chí khí kiên nghị, cương dũng của đức tín gan dạ, can trường. Không có sự gan dạ, anh dũng, chúng ta sẽ bị trùn bước trong hành động, và nỗi sợ hãi của chúng ta về cơn gió và những dòng thủy triều của cuộc đời sẽ giữ chúng ta tránh xa cuộc hãi trình đầy gian khổ. Các giá trị sẽ không giữ cho tâm trí và trái tim của chúng ta trở nên thành lũy chắc thép để chống lại bảo tố, nhưng thói quen của lòng anh dũng sẽ cho chúng ta thêm sức mạnh để chèo thuyền, ra khơi hướng về phía trước, để biết tiến lên với sự trợ giúp của Thiên Chúa.
Sự sợ hãi tạo ra những người nhát gan, chính là những người đàn ông nào từ bỏ sự thật hay một số điều tốt đẹp vì sợ phải đau khổ. Lòng anh dũng, mặc khác, lại làm cho chúng ta có khả năng để đón nhận lấy những thách đố của cuộc đời, để giúp chúng ta trở nên những con người rắn chắc, có chí khí. Để minh họa cho điều đó, giờ đây chúng ta hãy đọc lại những đoạn Kinh Thánh sau:
Thư Thứ Nhất của Tiên Tri Samuel, chương 17 từ câu 32 đến câu 49: David mạnh dạn chống lại người khổng lồ Goliath, vì tin tưởng vào sự giải thoát của Thiên Chúa.
Sách Tiên Tri Daniel, chương 3 từ câu 8 đến câu 28: Shadrach, Meshach và Abednego từ chối việc chối bỏ đức tin của họ để thờ ngẫu tượng.
Sách Máthêu, chương 14 từ câu 3 đến câu 4: Gioan làm Phép Rửa mạnh dạn nói lên sự thật cho dẫu biết rằng mình sẽ bị bỏ tù và mất mạng.
Sách Marcô, chương 15 câu 43: Giuse thành Arimathea làm chứng về Chúa Giêsu trước công chúng bằng việc nhờ Ngài chăm sóc cho thân thể của mình.
LTS: Bài này được viết bởi tác giả Tim Gray cho trang web của Tổng Giáo Phận Quân Đội Hoa Kỳ
Đức hạnh/đạo đức (virtues) như là một bản kế thiết kế chi tiết để mỗi một người nam biết sống làm sao cho xứng với thân trai. Thực ra, từ ngữ “virtue” có nguồn gốc từ tiếng La Tinh để chỉ về người đàn ông “vir.” Trong suốt nhiều thập kỷ cổ xưa, cụm từ “xứng thân trai” cũng có nghĩa là mỗi một người nam phải biết cách sống sao có đức độ, có chính nghĩa. Từ “virtue” trong tiếng La Tinh (là virtus) là nhằm để ám chỉ đến quyền lực, sức mạnh và khả năng. Chính vì thế, những đức tính đó phải trở nên như là những thói quen trao cho chúng ta quyền lực để chúng ta biết cách ra tay hành động một điều gì đó anh dũng, cũng như giúp chúng ta có được sức mạnh cần thiết để thực thi những gì là đúng đắn và tốt đẹp. Không có đạo đức, chúng ta rồi cũng sẽ chẳng là những người ngoan đạo lẫn những người đàn ông thật sự. Đạo đức như là những khối đá xây dựng nền tảng của chí khí, và nếu như không có nó, thì đời sống luân lý của chúng ta cũng chẳng bao lâu sẽ bị sụp đổ trước sức ép của thế giới.
Đạo đức rất cần thiết để giúp chúng ta biết sống sao cho xứng, và quan trọng hơn nữa, là biết cách sống một đời sống Kitô giáo gương mẫu. Thánh Phêrô đã hô hào những người Kitô giáo thời sơ khai về vai trò chính yếu của đức hạnh, Ngài nói: “Và cũng vì lẽ ấy, anh em hãy gia tăng tất cả nhiêt thành và lo sao để nhờ đức tin thì đạt thêm đức độ, nhờ đức độ lại thêm giác ngộ.” (Thư Thứ II của Thánh Phêrô, chương 1, câu 5). Và một vài đoạn Kinh Thánh sau đó, Ngài đã khuyên răn rằng: “Vì các điều kiện ấy, một khi đã có được và có cách dồi dào, tất không để anh em ở dưng, vô hiệu trên đường trí tri về Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô.” (Thư Thứ II của Thánh Phêrô, chương 1, câu 8). Hay nói cách khác, cuộc sống của chúng ta sẽ chỉ có lý nghĩa, hiệu quả, và sinh hoa kết trái nếu như chúng ta là những người có đức độ. Đó là lý do tại sao mà Thánh Phêrô luôn nhắc nhở chúng ta là hãy cố gắng để biết cách sống sao có đức độ.
Xã hội của chúng ta giả định rằng các giá trị chính là nền tảng của luân lý. Những chương trình giáo dục dựa trên căn bản của luân lý minh họa cho điều mà thế giới hiện đại tin rằng luân lý chính là cái gì đó giống hệt như việc biết cách đưa ra những chọn lựa đúng đắn vậy. Và nếu đúng như thế, thì sẽ có người chỉ trích về cách thức tiếp cận này dựa trên phương diện của luân lý triết học, thế nhưng chỉ trích của tôi rất là giản đơn và đi thẳng vào vấn đề. Mục đích cuối cùng chính là: các giá trị không thể nào làm cho những người nam trở thành những người sống có đạo đức, có luân lý. Điều này trông có vẽ cực đoan, thế nhưng mời quý vị hãy cùng tôi nhìn lại một số ví dụ điển sau:
Tôi coi trọng việc chèo thuyền, nhưng việc đó không thể nào biến tôi thành một thủy thủ được. Cũng tương tự như vậy, rất nhiều người đàn ông coi trọng sự trung thành trong hôn nhân, thế nhưng việc đó không có nghĩa là biến họ trở nên những người đàn ông chuy thủy. Thực tế mà nói, hầu hết mọi người đàn ông nào có phạm tội ngoại tình, cũng đều đánh giá cao sự trung thành trong hôn nhân, thế nhưng mặc cho sự đánh giá đó, họ vẫn cứ bội ước lời thệ hứa của họ. Việc có được những giá trị tốt là một điều đáng biểu dương, thế nhưng trận chiến về luân lý không những phải biết những gì là đúng đắn mà còn phải biết hành động sao cho đúng đắn. Sự khác biệt giữa việc muốn làm một điều gì đó tốt đẹp và việc thực sự làm những điều đó thật là lớn.
Lấy ví dụ như tôi coi trọng việc đi máy bay, sẵn sàng bỏ ra hàng giờ với tư cách là một hành khách, và trở nên một người hâm mộ về hàng không, nhưng điều đó không thể nào giúp tôi trở thành một phi công để lái máy bay được. Để lái được máy bay, ai đó phải có những kỹ năng của một người phi công. Rất nhiều người đi máy bay, nhưng lại có rất ít người có khả năng để lái máy bay. Và nếu như cuộc sống luân lý của chúng ta bị xói mòn, thì chúng ta phải biết cách để đạt được những kỹ năng cần thiết để biết bay lên.
Rất nhiều người đàn ông muốn trở thành những người chồng tốt và những người cha gương mẫu, thế nhưng việc mong muốn này vẫn chưa đủ để trở thành người đức độ, vì chưng nó phải cần đến những kỹ năng cần thiết để có một đời sống luân lý lành mạnh, thành công, và sau đó là việc biết cách đáp máy bay xuống một cách an toàn nữa. Để hướng đời sống luân lý của chúng ta đến đúng bến bờ, chúng ta phải là những người đàn ông dày dạn trong đức độ, cũng như có được những thói quen để giúp chúng ta biết sống đúng với những giá trị mà chúng ta đeo đuổi. Những giá trị không thôi, cũng vẫn chưa đủ, để trở thành những người đàn ông đức độ.
Trong lớp học hỏi về Kinh Thánh sắp tới của chúng tôi về đức độ, Curtis Martin và tôi đưa ra một lời giải thích chi tiết về đạo đức chính là gì và làm sao để đạt được chúng. Sau đó, chúng tôi cùng nghiên cứu đến bốn đức tính cơ bản (cardinal virtues) đó là: tính khôn ngoan (prudence), tính công bằng (justice), tính anh dũng (fortitude) và tính ôn hòa (temperance); cũng như ba đức tính về thần học (theological virtues) đó là: đức tin, hy vọng và tình yêu. Đối với bài viết này, chúng ta hãy cùng nghiên cứu chi tiết về đức tính anh dũng. Thánh Tôma thành Aquinas hiểu rằng anh dũng chính là hình thái chung của tất cả mọi đức tính, để liên lũy thực thi bất kỳ một đức tính gì cũng đòi hỏi chúng ta phải có một chí khí kiên vững cùng với lòng gan dạ. Lấy ví dụ như, để trở nên thật thà, thì nó đòi hỏi phải có sự anh dũng, đặc biệt là khi phải nói lên sự thật, vì đó không phải là điều dễ làm tí nào.
Trong tất cả mọi đức tính, thì đức tính anh dũng được dùng để ám chỉ đến nam giới. Những người nam buộc phải cứng rắn và mạnh mẽ, và vì thế, phải anh dũng. Tuy nhiên, vẫn thường khi khái niệm này lại đưa chúng ta đến một bức tranh thu hẹp về lòng anh dũng, vì chúng ta chỉ đơn giản nghĩ rằng: anh dũng chính là việc đấm đá tầm thường. Rõ ràng là, những người binh sĩ cần phải biết cũng cố lòng dũng cảm của họ, thế nhưng lòng dũng cảm thì cao hơn cả bất kỳ một chiến trường nào. Lòng anh dũng được đòi hỏi qua rất nhiều cách mà chúng ta rất ít khi nhận ra. Lấy ví dụ như, bạn có hay biết rằng để rộng lượng với tiền của và tất cả các vật dụng đem cho người nghèo, thì đòi hỏi phải có lòng anh dũng không? Tất cả mọi việc đều đòi hỏi đến đức tín anh dũng, từ việc chăm sóc ai đó bị đau ốm nghiệt ngã, việc đi máy bay, hay chỉ đơn giản là việc học hành không thôi. Thực ra, thì đức tín anh dũng là một đức tín cơ bản để có thể có được những đức tín khác.
Thế anh dũng có nghĩa là gì? Anh dũng có nghĩa là sức mạnh của ý chí để cho phép ta chinh phục mọi sợ hãi. Đôi lúc chúng ta cần phải hành động, ra tay, nhưng vì lại e ngại chỉ vì mọi hậu quả có thể gây ra. Sợ hãi khiến cho ý chí của chúng ta bị trùn bước trước lý trí vì sự khó khăn nào đó. Anh dũng, can trường nhằm bảo đảm rằng chúng ta sẽ có được một trí óc rắn chắc, cương nghị để giúp chúng ta khắc phục mọi sợ hãi và biết hành động đúng đắn, cho dẫu khó khăn có thế nào đi chăng nữa. Chính vì thế mà Thánh Tôma thành Aquinas đã từng nói rằng: “Linh hồn anh dũng phải là linh hồn biết đối diện với quỷ dữ bằng một lý trí sắt đá.” (Theo Summa Theologiae IIa Iiae q. 123, art.4).
Kinh Thánh đưa ra cho chúng ta rất nhiều ví dụ về việc những người nam đã để cho nổi sợ hãi khống chế mọi hành động của họ. Hãy cùng quan sát những đoạn trích dẫn Kinh Thánh sau đây:
Trong sách Sáng Thế, chương 3 câu 10: Adam đã trốn khi Thiên Chúa xuất hiện chỉ vì sự sợ hãi.
Trong sách Dân Số, chương 13 câu 1 cho đến chương 14 câu 10: Mười trong số 12 chủng loài mang lại một báo cáo của ma quỷ về việc sợ rằng Thiên Chúa sẽ không ở bên họ trong cuộc chiến dành lại Miền Đất Hứa.
Trong Thư Thứ Nhất của Samuel, chương 17 câu 10: Những người đàn ông của Israel chạy trốn khỏi trận chiến giữa Goliah và Philistines vì sợ rằng, trước sau gì họ cũng sẽ bị nhuộm máu trong cuộc chiến đó.
Trong sách Máthêu, chương 14 từ câu 3 đến câu 12: Vua Herôđê trước tiên không giết chết Gioan Làm Phép Rửa vì sợ dân chúng, và sau này đã chặt đầu Gioan vì sợ đã bội thề trước đám khách của mình.
Trong sách Gioan, chương 19 câu 38: Giuse thành Arimathea là một vị môn đệ bí mật vì sợ người Do Thái.
Không Đau Đớn Thì Chẳng Được Gì Cả
Sự sợ hãi khiến chúng ta rút lui khỏi mọi cạm bẫy, khó khăn. Chúng ta sợ rằng chúng ta sẽ phải đón nhận sự đau khổ của ma quỷ hay sợ mất đi điều gì đó mà chúng ta mong muốn, và vì thế, chúng ta đã để cho nổi sợ hãi khống chế mọi hành động của chúng ta, hơn là chúng ta phải biết làm theo những gì là lẽ phải theo đúng như những lề luật và ý chỉ của Thiên Chúa.
Sự sợ hãi đôi lúc quá lớn để cản ngăn mọi người hành động vì sự đe dọa hay vì những trắc trở. Chính vì thế, một số người sợ đi máy bay, và như vậy sẽ cản ngăn họ khỏi đi du lịch, hay đi công tác, hay di vì gia đình hay vì đức tin. Hãy tưởng tượng rằng nếu như Thánh Phaolô bị nổi sợ hãi chế ngự khi phải chèo thuyền (vì lẽ, di chuyển bằng thuyền trong thời của vị Thánh còn nguy hiểm hơn cả việc đi bằng máy bay trong thời đại của chúng ta ngày nay), và rồi sẽ quyết định từ bỏ việc đi rao giảng cho cả Vương Triều La Mã thời đó hay sao? Hoặc, giống như Beethoven, vì nếu để nổi sợ hãi lấn chiếm thì ông sẽ không viết ra những bản nhạc hòa tấu sau khi ông bị điếc hay sao? Rất nhiều điều tốt đẹp, thiện hảo sẽ bị mất đi, chỉ vì sự sợ hãi.
Những thách đố hằng ngày trong đời sống của chúng ta đòi hỏi sự cương nghị về tâm và ý chí mà đức tín anh dũng cung cấp. Một sinh viên có thể vì sợ nên không dám lấy môn học hay nhất theo chuyên ngành của mình, chỉ vì vị giáo sư đòi hỏi. Một người đàn ông không dám rao giảng về Thiên Chúa cho người bạn đồng nghiệp của mình, chỉ vì sợ rằng, mình không thể đón nhận những lời phản đối. Một số khác thì lại e ngại sử dụng máy điện toán hay phải học biết thêm một kỹ năng mới bởi vì nó quá phức tạp đối với họ. Chúng ta sợ phải trả lời “không”, vì chúng ta muốn họ yêu thích chúng ta. Ở nhà, có bao nhiêu người cha đã không biết kỷ luật các con cái của họ vì sợ rằng những đứa trẻ đó rồi chúng sẽ không thích họ? Con người sợ phải thành thật, vì lẽ, khi chúng ta nói dối cũng chính là lúc chúng ta sợ hải, vì nói lên sự thật sẽ gây ra nổi đau trong chúng ta.
Sự sợ hãi cản ngăn chúng ta trở thành những người đàn ông biết hành động, vì chưng, sẽ an toàn hơn nếu như chúng ta là một người khan giả hay là một người bên lề, bang quan với cuộc sống. Không mạo hiểm, thì chẳng đạt được gì cả. Bí quyết để trở thành một người đàn ông biết hành động chính là trở nên một người đàn ông dũng cảm. Đức tín này sẽ giúp chúng ta chống lại những cám dỗ, khắc phục được trở ngại, khúc trở trong đời sống luân lý (theo Giáo Lý Công Giáo, số 1808). Nếu đem so sánh với tất cả những người khác, thì người Kitô giáo phải là người can đảm, vì Thiên Chúa của chúng ta chính là Chúa của tất cả mọi tạo vật, đã xuống cứu chuộc chúng ta, và đã giải thoát chúng ta khỏi vòng vây của tội lỗi, của ma quỷ. Trong sách Josuê, chương 1 câu 9, Thiên Chúa nói với Josuê rằng: “Hãy mạnh mẽ và can đảm! Đừng khíp vía, đừng nhát gan, vì Giavê Thiên Chúa của ngươi ở với ngươi bất cứ ngươi đi đâu.” Cũng giống như Josuê, chúng ta cũng được trao phó với một sứ mạng, và nếu chúng ta biết gọi mời Thiên Chúa là Đấng luôn hiện hữu với chúng ta, thì chúng ta sẽ thành công. Tất cả mọi trở ngại của chúng ta rồi sẽ qua đi giống như là những bức tường của thành Jerichô đã ngã lăn trước Josuê.
Phải Biết Anh Dũng Cho Đến Cùng
Anh dũng cũng có nghĩa là chúng ta sẳn sàng để chết cho lẽ phải. Đức tin Kitô giáo của chúng ta đã dạy cho chúng ta biết rõ rằng chúng ta thà chết hơn là phạm tội. Đó là điều mà các vị tử đạo đã thực hiện bằng cách chết cho Chúa Kitô.
Một thí dụ cổ điển về sự anh dũng cho đến cùng được tìm thấy trong câu chuyện của Eleazar. Trong suốt cuộc hành quyết của những kẻ ngoại giáo đối với những người Do Thái, một người đàn ông đứng tuổi có tên là Eleazar bị buộc phải chối bỏ Thiên Chúa và ăn thịt heo, vốn là điều cấm kỵ đối với người Do Thái. Chuyện kể rằng Eleazar lấy hết mọi can đảm như là một đấng trượng phu và đã từ chối phá lề luật của Thiên Chúa, ngay cả khi bị đe dọa chết và tra tấn. Một số các quan tổng trấn đã đưa cho Eleazar giải pháp là giả bộ thờ kính Thiên Chúa, nhưng ông đã trả lời là: “Dẫu rằng lúc này, tôi có thể tránh được hình phạt của người đời, thì trước sau gì, khi về sau, tôi cũng sẽ phải lãnh án phạt của Thiên Chúa. Vì thế, bằng việc từ chối cuộc sống tầm thường con người của tôi bây giờ, thì tôi sẽ tự chứng tỏ cho thấy người đàn ông già nua này đã biết sống xứng đáng, để làm gương cho những người trai trẻ, để họ biết sống có chí khí, có chính nghĩa trong việc gìn giữ và tôn trọng các luật lệ của Thiên Chúa.”
Để lèo lái thành công qua những bão giông của cuộc sống, chúng ta cần phải có một chí khí kiên nghị, cương dũng của đức tín gan dạ, can trường. Không có sự gan dạ, anh dũng, chúng ta sẽ bị trùn bước trong hành động, và nỗi sợ hãi của chúng ta về cơn gió và những dòng thủy triều của cuộc đời sẽ giữ chúng ta tránh xa cuộc hãi trình đầy gian khổ. Các giá trị sẽ không giữ cho tâm trí và trái tim của chúng ta trở nên thành lũy chắc thép để chống lại bảo tố, nhưng thói quen của lòng anh dũng sẽ cho chúng ta thêm sức mạnh để chèo thuyền, ra khơi hướng về phía trước, để biết tiến lên với sự trợ giúp của Thiên Chúa.
Sự sợ hãi tạo ra những người nhát gan, chính là những người đàn ông nào từ bỏ sự thật hay một số điều tốt đẹp vì sợ phải đau khổ. Lòng anh dũng, mặc khác, lại làm cho chúng ta có khả năng để đón nhận lấy những thách đố của cuộc đời, để giúp chúng ta trở nên những con người rắn chắc, có chí khí. Để minh họa cho điều đó, giờ đây chúng ta hãy đọc lại những đoạn Kinh Thánh sau:
Thư Thứ Nhất của Tiên Tri Samuel, chương 17 từ câu 32 đến câu 49: David mạnh dạn chống lại người khổng lồ Goliath, vì tin tưởng vào sự giải thoát của Thiên Chúa.
Sách Tiên Tri Daniel, chương 3 từ câu 8 đến câu 28: Shadrach, Meshach và Abednego từ chối việc chối bỏ đức tin của họ để thờ ngẫu tượng.
Sách Máthêu, chương 14 từ câu 3 đến câu 4: Gioan làm Phép Rửa mạnh dạn nói lên sự thật cho dẫu biết rằng mình sẽ bị bỏ tù và mất mạng.
Sách Marcô, chương 15 câu 43: Giuse thành Arimathea làm chứng về Chúa Giêsu trước công chúng bằng việc nhờ Ngài chăm sóc cho thân thể của mình.