CHÚA NHẬT XXI CHÚA BAN ƠN CỨU ĐỘ CHO MỌI NGƯỜI

A. Tìm hiểu sứ điệp Lời Chúa hôm nay

Một ý tưởng xuyên suốt qua bài đọc I, đáp ca và Bài Tin Mừng hôm nay là Thiên Chúa ban ơn cứu độ cho muôn dân.

- Bài đọc I : "Ta sẽ đến tập họp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ; họ sẽ đến va được thấy vinh quang của Ta”.

- Đáp ca : "Muôn nước hỡi nào ca ngợi Chúa, ngàn dân ơi hãy chúc tụng Người"

- Tin Mừng : "Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa"

Như vậy sứ điệp chính của Lời Chúa hôm nay là : Chúa ban ơn cứu độ cho mọi người.

B. Tìm hiểu sứ điệp

1. Bài đọc I (Is 66,18-21)

Đây là đoạn kết của sách Isaia, qua đó Thiên Chúa tỏ cho biết giai đoạn cuối của chương trình cứu độ của Ngài là tất cả mọi dân tộc (chứ không riêng gì dân do thái) sẽ tin vào Ngài, đến với Ngài và hưởng hạnh phúc muôn đời với Ngài.

2. Đáp ca (Tv 116)

Thánh vịnh này nhấn mạnh lại ý tưởng của bài đọc I : kêu mời mọi nước mọi dân hãy ca ngợi và chúc tụng Chúa.

3. Tin Mừng (Lc 13,22-30)

Hai câu trong đoạn Tin Mừng này đáng chú ý nhất :

c.23 : Câu hỏi mà một người kia đặt ra cho Chúa Giêsu phản ánh quan tâm của người Do Thái đương thời về số lượng những kẻ được cứu.

Khi đặt vấn đề dựa theo số lượng, người ta sẽ có thái độ không thích hợp : nếu mọi người đều được cứu thì thái độ sẽ là ỷ lại; còn nếu có một số nhỏ được cứu thì thái độ sẽ là chán nản, cố gắng làm chi cho uổng công.

c.24 : Chúa Giêsu không trả lời thẳng câu hỏi. Người ta hỏi về số lượng. Ngài trả lời về cách thức làm sao cho mình được ở trong số lượng những kẻ được cứu ấy, đó là phải cố gắng, diễn tả bằng hình ảnh "đi qua cửa hẹp".

- "Đi qua" : Động từ "qua" diễn ta sự thay đổi cách sống. Có rất nhiều người đứng trước cái cửa hẹp ấy, nhưng chỉ những ai biết "đi qua" (thay đổi cách sống) thì mới vào nhà được.

- "Cửa hẹp" diễn ta sự cố gắng. Muốn vào Nước Trời thì phải cố gắng nhiều (và khó khăn như lạc đà chui qua lỗ kim : xem Mt 19,24, Mc 10,25, Lc 18,25).

Như thế, số lượng những kẻ vào Nước Trời (nhiều hay ít), và lý lịch của những người ấy (do thái hay dân ngoại) đều không quan trọng. Vấn đề quan trọng là phải cố gắng đi qua cửa hẹp mà vào.

4. Bài đọc II (Dt 12,5-7.11-13)

Đoạn thư Do thái này bàn đến những gian truân khốn khó.

Như chúng ta đã biết, các kitô hữu gốc do thái phải chịu nhiều khốn khó từ phía đế quốc Rôma lẫn phía Do thái giáo.

Tác giả cho họ biết rằng những gian nan khốn khó đó là những việc Chúa cho phép xảy ra để thử thách và sửa dạy họ. Mà Chúa thương ai thì mới thử thách và sửa dạy người ấy. Vì thế, họ đừng ngã lòng, trái lại hãy vui mừng vì biết mình được Chúa thương, và kiên trì chịu đựng.

C. Rao giảng sứ điệp

I. GỢI Ý GIẢNG

1. Số lượng và phẩm chất

Thời Chúa Giêsu nhiều người Do thái tưởng rằng ơn cứu rỗi chỉ dành riêng cho dân tộc họ mà thôi. Vì thế khi họ hỏi Chúa Giêsu "Thưa Thầy, phải chăng chỉ có một số ít người sẽ được cứu rỗi ?" thì họ thầm mong Chúa Giêsu sẽ trả lời "Phải" để xác nhận quan điểm của họ.

Nhưng Chúa Giêsu đâu có muốn xác nhận một quan điểm hẹp hòi như vậy, và Chúa Giêsu cũng không muốn trả lời thẳng câu hỏi của họ. Nếu Chúa đáp "Phải" chỉ có một ít người sẽ được cứu rỗi" thì sẽ sinh hậu quả là những người Do thái thành ra kiêu căng tự mãn vì nắm chắc phần rỗi : vì tự mãn như thế họ không cần cố gắng gì thêm nữa. Và những người khác không phải là Do thái thì sẽ nản lòng, tự nhủ "Ơn cứu rỗi không thuộc về mình, thôi thì cố gắng làm chi cũng vô ích". Ngược lại nếu Chúa Giêsu đáp "Ơn cứu rỗi được ban cho số đông" thì cũng làm cho mọi người ỷ lại, không cố gắng, bởi vì cố gắng làm chi vì mình chắc chắn sẽ được rồi mà.

Chính vì những lý do nêu trên mà Chúa Giêsu không trả lời thẳng câu hỏi dựa trên số lượng, Chúa nhắm đến phẩm chất : Ơn cứu rỗi không phải là đặc quyền của một số người nào, của một dân tộc nào, của một phe nhóm nào cả, mà thuộc về bất cứ ai biết sống theo Lời Chúa dạy. Vì thế mà sẽ có những cảnh trớ trêu :

- Những kẻ trước hết sẽ có thể nên sau hết; ngược lại những kẻ sau hết có thể thành trước hết. Dân tộc Do thái dù được biết Chúa sớm hơn hết nhưng nếu không sống theo Lời Chúa thì có thể đi sau các dân khác tuy biết Chúa muộn hơn nhưng đã biết sống theo Lời Chúa.

- Chúa còn nói :"Nhiều người từ đông sang tây nam bắc sẽ được mời vào nước Chúa đang khi con cái trong nhà bị đuổi ra", nghĩa là có thể các dân tộc khác sẽ vào chiếm chỗ dân Do thái vì các dân tộc ấy đã biết sống theo Lời Chúa.

Trên đây là ý nghĩa trực tiếp của đoạn Tin mừng, áp dụng cho dân Do thái và các dân khác thời Chúa Giêsu. Còn ý nghĩa hiện thực áp dụng cho thời đại chúng ta ngày nay là : không phải hễ có rửa tội, có đạo, có dự lễ, rước lễ, xưng tội, đọc kinh, nghe giảng v.v. thì đương nhiên sẽ được cứu rỗi đâu. Nhưng ơn cứu rỗi được ban cho bất cứ kẻ nào sống theo Lời Chúa, cho dù người đó có đạo hay là không có đạo. Thực vậy, có đạo mà không sống theo Lời Chúa thì không bằng người tuy không có đạo, không biết Chúa nhưng cuộc sống của họ lại theo đúng những điều Chúa dạy. Giáo thuyết này đưa đến hai quan niệm mới trong nền thần học ngày nay : (1) Thứ nhất là quan niệm về những người Kitô hữu vô danh : đó là những người tuy không có đạo, nhưng vì cuộc sống của họ phù hợp với tinh thần Tin mừng nên vẫn được coi là Kitô hữu mặc dù họ không có danh hiệu Kitô hữu. (2) Còn quan niệm thứ hai là về những người "Kitô hữu ngoại đạo", nghĩa là những người tuy có đạo nhưng lại không sống theo tinh thần Tin mừng nên bị coi là ngoại đạo mặc dù họ có danh hiệu Kitô hữu.

Nếu danh hiệu không làm nên thực chất của người Kitô hữu, thì là cái gì ? Thưa là cuộc sống được thể hiện qua những phản ứng của mình trước mọi tình huống trong đời.

Một nữ tu già ngồi sau một chiếc xe đạp, rồi có một chiếc xe hơi trên đó có một số cán bộ chạy lướt qua. Chiếc he hơi lái hơi ẩu nên chạm chiếc xe đạp làm cho bà sơ già té ngửa xuống, dập đầu xuống đường. Những cán bộ trên xe hơi vội vã xuống đỡ bà dậy. Mặc dầu đau lắm nhưng bà cố gắng nói "Không sao đâu các con, xin Chúa chúc lành cho các con". Câu nói đột ngột đó làm cho các ông cán bộ kia vừa tức cười vừa nghĩ ngợi : tức cười vì các ông ấy đâu có tin Chúa mà cần tới phúc lành của Chúa, nhưng các ông phải nghĩ ngợi vì phản ứng đầy bác ái và đầy đức tin của bà sơ : chỉ có kẻ nào quá quen với tha thứ và lúc nào cũng luôn nhớ tới Chúa mới có thể thốt ra một câu như vậy". Và sau đó những ông cán bộ ấy hay tới lui chăm sóc và thăm viếng vị nữ tu ấy, lòng rất mến phục.

Đó là phản ứng. Phản ứng thì lẹ làng, bất ngờ nhưng rất trung thực. Trước một tình huống xảy ra, trong lòng mình thế nào thì mình sẽ phản ứng đúng như vậy. Người nào chỉ có đạo trên danh nghĩa nhưng không quen sống theo Lời Chúa thì không thể nào có được phản ứng mang tính chất Kitô giáo đích thực. Như thế, thước đo của lòng đạo chúng ta chính là những phản ứng của chúng ta.

Thí dụ như khi bị trộm mất đồ, không ít người có đạo đã đi coi thầy bói để đoán xem ai đã lấy đồ của mình. Đây rõ ràng là phản ứng của người không đạo.

Ông Gióp bị tai ương dồn dập : nhà cửa bị cháy rụi, các đoàn vật bị cướp đi, con cháu bị chết hết, bản thân mang chứng phong cùi gớm ghiếc… Gióp đã biết nói "Xưa Chúa đã ban, nay Chúa lấy lại, xin ngợi khen Chúa". Ông còn khuyên người khác "Mình biết lãnh nhận những ơn lành của Chúa thì sao không biết chịu đựng những thử thách của Chúa,. Đó mới là phản ứng của người có lòng đạo thực.

Thế nhưng không thiếu người cho rằng : sống giữa một xã hội đầy tráo trở mà phản ứng theo tinh thần Tin mừng thì là khờ dại quá. Xin hỏi lại : Thế thì đạo không có ăn nhập gì với cuộc đời sao ? Con người chúng ta phải chia ra làm hai sao : một con người hiền lành lúc ở nhà thờ đọc kinh dự lễ và một con người tráo trở gian manh khi cư xử với người đời sao ! Không được, con người chúng ta phải là một ở nhà thờ cũng vậy mà ở giữa chợ đời cũng vậy. Đạo chúng ta là đạo nhập thể vào đời chứ không phải chỉ là đạo ở nhà thờ.

Qua bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn nói rằng không phải hễ mang danh nghĩa là người Do thái ngày xưa, hay người Công giáo ngày nay là đương nhiên được ơn cứu rỗi; không phải hễ có rửa tội, hễ có thường xuyên đọc kinh rước lễ là đương nhiên được ơn cứu rỗi. Nhưng ơn cứu rỗi là dành cho bất cứ ai biết sống theo Lời Chúa và có những phản ứng hợp với tinh thần Tin mừng trong mọi tình huống cuộc đời.

Xin Chúa giúp chúng ta không chỉ là những người Kitô hữu trên danh nghĩa nhưng thấm nhuần tinh thần Kitô hữu trong cả cuộc sống, trong mọi cách suy nghĩ, lời nói, việc làm của mình.

2. Qua cửa hẹp

Trong bài Tin Mừng này, Chúa Giêsu so sánh Nước Thiên Chúa như một phòng tiệc. Phòng tiệc thì vui, được ở trong phòng tiệc thì hạnh phúc. Nhưng muốn vào phòng tiệc thì phải qua một cửa hẹp.

- Động từ “qua” chỉ một sự thay đổi : từ cuộc sống cũ đổi sang cuộc sống mới.

- Hình ảnh “qua cửa hẹp” chỉ một sự cố gắng, chịu cực chịu khó. Thay đổi cách sống không phải là chuyện dễ dàng nhưng rất khó khăn, không phải là chuyện mau chóng nhưng rất lâu dài.

Có một câu chữ nho mang ý nghĩa tương tự : “Nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân”, nghĩa là mỗi ngày mỗi đổi mới, đổi mới và lại đổi mới.

Lời Chúa dạy hôm nay khiến chúng ta phải bỏ đi những ảo tưởng về những giải pháp nhanh chóng và dễ dàng :

- Đừng cho rằng cứ sống đều đều theo một thời khóa biểu đọc kinh, dự lễ, xưng tội… thì chắc mẩm sẽ vào được nước thiên đàng.

- Đừng nghĩ rằng miễn là không phạm phải tội nào được liệt kê trong bảng 10 điều răn Chúa và 6 điều răn Hội Thánh thì không thể nào sa hỏa ngục.

Bạn hãy trung thành với thời khóa biểu ấy và hãy nghiêm túc tuân thủ các điều răn, nhưng đừng để cho những việc ấy ru ngủ bạn. Điều quan trọng nhất là hằng ngày phải luôn cố gắng đổi mới cuộc sống mình : mỗi ngày một gần Chúa hơn, mỗi ngày một giống Chúa hơn.

II. ĐỂ THAM KHẢO THÊM

1. Thử thách giúp nên người (Dựa trên Bài đọc II, trích thư Do thái)

Ở một số bộ lạc da đỏ, có tục lệ sau đây : khi một trẻ trai đến tuổi thành niên, người cha của nó sẽ dẫn nó vào rừng, giao cho nó một cây giáo, sau đó người cha rút lui để lại nó một mình trong rừng suốt đêm hôm ấy. Trong đêm đó, nó sẽ phải một mình ở trong rừng, đối diện với nhiều nỗi sợ hãi : sợ cô đơn, sợ bóng tối, sợ thú dữ… Nếu nó hèn nhát đòi theo cha về nhà thì nó vẫn bị coi là trẻ con. Nhưng nếu nó chịu đựng được tất cả và sáng hôm sau rời khỏi khu rừng trở về với gia đình thì nó được chính thức công nhận là người một trưởng thành.

Nếu nói theo bài Tin Mừng hôm nay thì cái đêm khó khăn trong rừng ấy là cái "cửa hẹp"; còn nếu nói theo bài đọc II thì đó là "thử thách". Có qua thử thách hay cửa hẹp đó thì chàng thiếu niên mới trở thành người.

Tại sao gian nan cực khổ giúp ta nên người ?

- Vì nó thanh luyện tâm hồn

- Vì nó rèn luyện đức tính

- Và vì nó sinh nhiều hoa trái tốt

Chẳng những giúp ra nên người, gian nan cực khổ còn giúp ta nên người kitô hữu tốt :

- Sở dĩ Chúa cho phép gian nan cực khổ xảy đến với ta là vì Chúa biết nó có thể làm ích cho chúng ta. Nói ngược lại, nếu nó chỉ có hại thì Chúa đã không cho nó xảy đến với ta.

- Nó khiến ta tìm đến Chúa

- Nó giúp ta cảm nghiệm được quyền phép Chúa

- Nó giúp ta cảm nhận được tình thương của Chúa

- Và nó khiến ta biết thương xót những người gặp hoàn cảnh gian nan cực khổ như ta.

2. Chuyện minh họa

a/ Cửa hẹp

Một cặp vợ chồng trẻ nọ chia sẻ cho nhau nghe ước muốn có được một ngôi nhà khang trang. Một nhà tỉ phú tình cờ theo dõi câu chuyện. Với tất cả nghiêm chỉnh, ông đề nghị với họ : nếu cô vợ chịu ngủ với ông một đêm, ông sẽ tặng họ một triệu mỹ kim. Hai vợ chồng đồng ý. Nhưng khi người vợ lên đường đến với nhà tỉ phú thì người chồng cũng bắt đầu hối hận. Nhưng đã quá muộn. Sau một đêm để có một triệu mỹ kim, hai vợ chồng đã tan vỡ (...) Con đường dễ dãi là con đường dẫn tới hư mất. Sự thành đạt thường không đến cách ngẫu nhiên, mà là kết quả của những cố gắng và kiên nhẫn lâu dài (Sưu tầm).

b/ Tiếng Chúa

Thiên Chúa nói thì thầm trong cơn vui sướng của chúng ta; Ngài nói đủ nghe trong lương tâm của chúng ta; nhưng Ngài hô lớn trong những cơn đau của chúng ta (C.S. Lewis).