Con đường tự hạ của Đức Ki-tô

Đức Ki-tô là gương mẫu về sự từ bỏ và tự hạ. Từ bỏ là cho đi, không nhận, không giữ lấy. Tự hạ là đang ở chỗ cao nay kéo mình xuống chỗ thấp. Những điểm này Đức Ki-tô đã thực hiện ở nơi Người. Tôi dựa vào những câu đầu trong chương II thư gửi giáo đoàn Phi-líp để làm chứng điều này, phỏng theo phần chú giải trong TOB, ấn bản 1988 trg. 2840.

1. Từ bỏ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa (2,6)

Đức Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa

Câu này dịch sát chữ là mang hình thể Thiên Chúa. Hình thể ở đây không phải là cái vẻ hay dáng dấp bên ngoài mà chính là khuôn mặt hữu hình của con người sâu xa, hay nói theo sách Sáng thế (1,27 và 5,1) là hình ảnh của Thiên Chúa, nghĩa là chính hữu thể của Thiên Chúa.

Mà không nghĩ nhất quyết phải duy trì
Địa vị ngang hàng với Thiên Chúa.


Không nhất quyết duy trì nghĩa là từ bỏ. Từ bỏ cái gì ? Từ bỏ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Con người của Thiên Chúa được biểu lộ nơi Đức Ki-tô. Đây là hình thức tự hạ thứ nhất. Trong trường hợp này, địa vị ngang hàng không phải là đối tượng tranh thủ, vì đã có rồi, mà chỉ còn là thực tại phải duy trì và bảo vệ.Thế mà Đức Ki-tô đã không duy trì. Ở đây cũng có ý liên tưởng đến ông A-đam, người đã tìm cách trở nên ngang hàng với Thiên Chúa (St 3,5.22). Khác hẳn với ông A-đam, Đức Ki-tô đang ở địa vị ngang hàng với Thiên Chúa lại tình nguyện từ bỏ địa vị đó để sống như một phàm nhân.

2. Mặc lấy thân nô lệ (2,7)

Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang

Trút bỏ là nghĩa của chữ ékénôsen. Ékénôsen là dốc cạn, rút hết ra, làm cho ra không hay hủy đi. Nhưng hủy đi không đúng và có nghĩa tiêu cực. Nếu dịch là hủy mình đi thì có nghĩa là tự sát. Đức Ki-tô không tự sát. Người có đầy đủ vinh quang, nhưng đã tự mình dốc cạn, rút hết cả đi. Nhưng như vậy cũng không có nghĩa là Người hết ở địa vị ngang hàng với Thiên Chúa và không còn là hình ảnh của Thiên Chúa nữa. Chính khi từ bỏ và tự hạ là lúc Đức Ki-tô bày tỏ con người và tình yêu của Thiên Chúa. Các động từ dùng trong đoạn này đều diễn tả thái độ tự hạ của Đức Ki-tô như mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, hạ mình, vâng lời, chết trên cây thập tự.

Trở nên giống phàm nhân

Đức Ki-tô đồng hóa với toàn thể nhân loại, hoàn toàn như mọi người chỉ trừ không có tội.

Sống như người trần thế
chứng tỏ Đức Ki-tô là người thật, có nhân tính thật sự.
2,8 Người lại còn hạ mình


Nhận mặc xác người phàm đã là một hình thức từ bỏ, tự hạ. Bây giờ lại còn hạ mình xuống nữa thì đó lại là một hình thức tự hạ thứ hai. Cũng như người tôi trung của Đức Chúa trong Is 53, ở đây Đức Ki-tô cũng đã chọn hạ mình xuống bằng cách vâng theo ý Chúa Cha đến nỗi bằng lòng chịu chết, mà chết ô nhục trên cây thập tự.

3. Được siêu tôn

2,9 Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người

nghĩa là cho Người sống lại, lên trời. Nhưng không phải sự phục sinh làm cho Người trở thành Con Thiên Chúa, nghĩa là không phải trong ngày phục sinh Người mới được như vậy, mà chính là trong ngày ấy, Thiên Chúa đưa Người lên thật cao và ban cho vinh dự và quyền năng tột đỉnh.

Và ban danh hiệu
Trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu


Nghĩa là không những cho một tước hiệu mà lại còn cho một phẩm tước thực sự. Thiên Chúa đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện mà cả trong thế giới tương lai (Ep 1, 21). Danh hiệu Đức Ki-tô được thừa hưởng, cao cả hơn danh hiệu các thiên thần bao nhiêu, thì Người lại càng trổi vượt hơn bấy nhiêu (Dt 1,4)

2,10 Như vậy khi vừa nghe danh thánh Giê-su
Cả trên trời dưới đất
Và trong cõi âm ty
Muôn vật phải bái quì


Danh Đức Ki-tô vang vọng khắp nơi : trên trời dưới đất cũng như trong lòng đất, (nơi ở của những người đã qua đời). Muôn vật phải bái quì là một cử chỉ tôn thờ ngưỡng mộ. Chỉ mình Thiên Chúa mới được như thế. Nay cử chỉ ấy cũng được biểu lộ đối với Đức Ki-tô, điều ấy có nghĩa là Thiên Chúa tỏ mình ra và hành động nơi Đức Giê-su Ki-tô.

Đoạn thư này hay được trích dẫn khi nói về đức vâng phục. Ngoài ra, nó cũng còn được trưng dẫn để nói về giá trị của sự từ bỏ và tự hạ theo gương tự nguyện của Đức Ki-tô, đồng thời ngụ ý nói tới sự điên rồ và xem ra như nghịch lý của thập giá, sự hạ thấp rồi được nâng cao, bị xỉ nhục rồi được vinh hiển. Đó chính là con đường người Ki-tô hữu phải noi theo, nếu muốn bước theo Thày mình.