‘Huyền nhiệm’, theo tôi nghĩ, mang ý nghĩa một điều gì đó tốt đẹp và cao cả thuộc về Thiên Chúa, hoặc một điều gì đó tốt đẹp và cao cả Thiên Chúa làm cho loài người, mà loài người không thể giải thích được. Trong bài này, tôi dùng hai tiếng huyền nhiệm theo ý nghĩa đó.
Nơi trang 34 trong cuốn Những Người Lữ Hành Trên đường Hy Vọng của Đức Cố HY Nguyễn văn Thuận, tôi gặp mẩu truyện chị Celine “Được gọi để gọi”. Tôi xin ghi lại trọn mẩu truyện này để chúng ta có thể thấy rằng cách viết của Đức Cố HY rất linh động, dễ lay động lòng người, không văn hoa bóng bẩy nhưng mộc mạc chân tình, không khô khan mà rất ‘ướt át’ vì chúng ta có thể khóc được.
“ Thưa ông bà muốn gặp ai ạ?
Chị Celine đã nói câu ấy lần đầu tiên cách đây 40 năm. Từ đó ngôi nhà khách với chùm chìa khóa, cái chổi, chiếc ghế đã trở thành giang sơn của chị.
Bổn phận của một chị giữ nhà khách là gọi người khác. Trong suốt 40 năm trường, chị Celine chỉ làm ngần ấy công việc! Câu hỏi trên kia chị phải lặp đi lặp lại đến hơn 10 lần mỗi ngày. Với thời gian, phương thế đó có đôi phần thay đổi: từ cái kẻng đến chuông điện, rồi điện thoại, sau đó lại trở về chuông kéo, kẻng sắt… nhưng công việc vẫn luôn luôn là gọi người khác.
Ôi chao! biết bao khuôn mặt đã xuất hiện tại nhà khách, bao giọng nói đã vang rền trong điện thoại! Nhưng có một điều chị Celine hằng đoán chắc: người ta đang gọi, đang xin gặp một người nào đó… trừ ra chị. Vì thế chị thường nói đùa: “Tôi chỉ được Chúa gọi một lần duy nhất và từ dạo ấy, tôi đã luôn luôn gọi người khác: tôi được gọi để gọi”.
Một ngày của chị bị cắt vụn thành từng miếng, công việc của chị bị chẻ thành từng mảnh, luôn luôn là gián đoạn. Khi cầm chuỗi lần hạt, chị biết mình sẽ không đọc được quá 10 kinh, khi xem sách chị đoán sẽ thưởng thức không quá 10 giòng; trong nhà nguyện, chị quỳ ở ghế cuối cùng, gần cửa ra vào, luôn thấp thỏm đợi chờ chuông reo… Luôn bị gián đoạn, nhưng chỉ với “sự gián đoạn” này của mình, chị mới có thể tạo nên “sự liên lạc” của người khác. Chị bao giờ cũng nhanh nhẹn đối với một khách sang cũng như một bà lão nhà quê. Tất cả mọi người đều ăn cắp giờ của chị. Không ai cần gặp chị… Với thời gian, da mặt chị nhợt nhạt hơn, người chị tiều tụy hơn, nhưng nụ cười vẫn tươi nở như thuở nào, lời kinh dâng Chúa mỗi ngày lại càng thêm sốt sắng hơn.
Và rồi một hôm, trong lúc vội vã đi gọi người khác, chi Celine đã ngã quỵ trong hành lang nhà dòng! thổ huyết! chị bập bẹ: “Chúa đến gọi tôi lần thứ hai” (và cũng là lần cuối cùng). Đôi tay chị run run ôm lấy lồng ngực khiến chùm chìa khóa rơi trên nền gạch hoa. Đàng kia, chiếc ghế vẫn vô tình không biết từ nay mình sẽ là đồ vô chủ…
Chi Celine đã suốt đời trung thành với tiếng gọi của Chúa và với công việc bổn phận hằng ngày của chị: được gọi để gọi người khác. Giá trị và sự cao cả của chị không phải là ở chỗ đó sao?”
Đọc xong mẩu truyện trên đây, tôi tin rằng ai trong chúng ta cũng có suy nghĩ. Cách viết của Đức Cố HY quả thật nhẹ nhàng, đơn giản…., nếu có những ngụ ý thì cũng gần gũi với tình cảm của chúng ta. Cá nhân tôi, tôi ‘mê’ cách viết của Ngài. Tôi không nói quá lời, hầu như bài nào mở ra tôi đều đọc đi đọc lại vài lần, và suy nghĩ ‘sâu’. Với cách viết này, tôi tin rằng khi mọi người đọc sẽ cảm thấy gần với nhau hơn, gần với Giáo hội hơn, muốn tìm hiểu về Giáo hội nhiều hơn, nhất là muốn đi tìm những gương sáng trong Giáo hội nhiều hơn. Tôi tin rằng Ngài đã viết với trái tim của Ngài, không gò bó, không uốn ép, không khuôn sáo mà rất thực. Ở câu “Đàng kia, chiếc ghế vẫn vô tình không biết từ nay mình sẽ là đồ vô chủ”, theo tôi nghĩ, Đức Cố HY chỉ ngụ ý một tình cảm đau đớn thể hiện ngay cả ở một vật vô tri, bởi vì sẽ có người khác thay thế chị Celine tiếp tục công việc của chị thôi, dù không được như chị. Sách của Đức Cố HY quả thực là sự nhắc nhở chân tình, hướng chúng ta đến cách hành xử tốt hơn, cho Chúa và cho tha nhân
“Chị Celine được Chúa gọi để gọi”. Đó là ‘ơn gọi’. Khi nói đến ‘ơn gọi’, chúng ta thường nghĩ đến một người nam được Chúa gọi đi tu làm linh mục, hay một người nữ được Chúa gọi đi tu làm ma sơ, hoặc như trường hợp chị Celine, một người nam hay nữ được Chúa gọi để làm một công việc nào đó có liên quan đến Giáo hội Chúa, dù là một công việc nhỏ mọn. Chị Celine đã được Chúa gọi, hay được Chúa phân công để làm một công việc rất khiêm nhường, rất nhỏ mọn, một công việc nhàm chán, nhưng chị đã làm tròn việc Chúa giao một cách tuyệt vời. Trong cuộc sống đời thường, ai trong chúng ta không muốn vươn lên những địa vị cao hơn? Nhưng vì yêu Chúa hết mình, vì phó dâng hết mình, chị Celine đã ‘xin vâng’ trong công việc khiêm nhường ấy. Tôi nghĩ chị Celine đã ý thức được rằng Giáo hội Chúa cũng là một ‘guồng máy’, cũng có những bánh xe lớn, bánh xe nhỏ, cũng có những con ốc, con tán, cần phải có tất cả để gắn chặt guồng máy và giữ cho guồng máy hoạt động đều đặn. Chị đã nhận sự phân công làm một con ốc nhỏ nhất, nhưng không thể thiếu được. Tôi tin rằng Giáo hội Chúa hoạt động theo chiều hướng ấy, chiều hướng được Chúa phân công nhịp nhàng để cải tiến guồng máy ngày một tốt đẹp hơn.
Từ những suy nghĩ trên đây, tôi lạc quan tin rằng ‘các đấng chăn chiên’, những người được ơn gọi, hay được Chúa phân công để chăn dắt đàn chiên Chúa và mở rộng Nước Chúa đều làm việc theo tinh thần ‘xin vâng’ này. Nếu các vị có nỗ lực vươn lên cũng chỉ là tạo cho cá nhân mình có năng lực tốt hơn để thực hiện ‘xin vâng’ tốt hơn, chứ không nhằm tạo cho mình một địa vị cao hơn để được vẻ vang hơn. Tôi tin rằng khi các vị được ơn gọi của Chúa, hay được Chúa phân công lên địa vị cao hơn, thì đó cũng chỉ có nghĩa là trách nhiệm của các vị nặng hơn, thánh giá Chúa trao cho các vị vác nặng hơn mà thôi, và đương nhiên đó là một vinh dự.
Vậy chứ giáo dân chúng ta có bao giờ ý thức được rằng Chúa cũng gọi chúng ta một cách huyền nhiệm bao giờ hay chưa?
Nơi trang 34 trong cuốn Những Người Lữ Hành Trên đường Hy Vọng của Đức Cố HY Nguyễn văn Thuận, tôi gặp mẩu truyện chị Celine “Được gọi để gọi”. Tôi xin ghi lại trọn mẩu truyện này để chúng ta có thể thấy rằng cách viết của Đức Cố HY rất linh động, dễ lay động lòng người, không văn hoa bóng bẩy nhưng mộc mạc chân tình, không khô khan mà rất ‘ướt át’ vì chúng ta có thể khóc được.
“ Thưa ông bà muốn gặp ai ạ?
Chị Celine đã nói câu ấy lần đầu tiên cách đây 40 năm. Từ đó ngôi nhà khách với chùm chìa khóa, cái chổi, chiếc ghế đã trở thành giang sơn của chị.
Bổn phận của một chị giữ nhà khách là gọi người khác. Trong suốt 40 năm trường, chị Celine chỉ làm ngần ấy công việc! Câu hỏi trên kia chị phải lặp đi lặp lại đến hơn 10 lần mỗi ngày. Với thời gian, phương thế đó có đôi phần thay đổi: từ cái kẻng đến chuông điện, rồi điện thoại, sau đó lại trở về chuông kéo, kẻng sắt… nhưng công việc vẫn luôn luôn là gọi người khác.
Ôi chao! biết bao khuôn mặt đã xuất hiện tại nhà khách, bao giọng nói đã vang rền trong điện thoại! Nhưng có một điều chị Celine hằng đoán chắc: người ta đang gọi, đang xin gặp một người nào đó… trừ ra chị. Vì thế chị thường nói đùa: “Tôi chỉ được Chúa gọi một lần duy nhất và từ dạo ấy, tôi đã luôn luôn gọi người khác: tôi được gọi để gọi”.
Một ngày của chị bị cắt vụn thành từng miếng, công việc của chị bị chẻ thành từng mảnh, luôn luôn là gián đoạn. Khi cầm chuỗi lần hạt, chị biết mình sẽ không đọc được quá 10 kinh, khi xem sách chị đoán sẽ thưởng thức không quá 10 giòng; trong nhà nguyện, chị quỳ ở ghế cuối cùng, gần cửa ra vào, luôn thấp thỏm đợi chờ chuông reo… Luôn bị gián đoạn, nhưng chỉ với “sự gián đoạn” này của mình, chị mới có thể tạo nên “sự liên lạc” của người khác. Chị bao giờ cũng nhanh nhẹn đối với một khách sang cũng như một bà lão nhà quê. Tất cả mọi người đều ăn cắp giờ của chị. Không ai cần gặp chị… Với thời gian, da mặt chị nhợt nhạt hơn, người chị tiều tụy hơn, nhưng nụ cười vẫn tươi nở như thuở nào, lời kinh dâng Chúa mỗi ngày lại càng thêm sốt sắng hơn.
Và rồi một hôm, trong lúc vội vã đi gọi người khác, chi Celine đã ngã quỵ trong hành lang nhà dòng! thổ huyết! chị bập bẹ: “Chúa đến gọi tôi lần thứ hai” (và cũng là lần cuối cùng). Đôi tay chị run run ôm lấy lồng ngực khiến chùm chìa khóa rơi trên nền gạch hoa. Đàng kia, chiếc ghế vẫn vô tình không biết từ nay mình sẽ là đồ vô chủ…
Chi Celine đã suốt đời trung thành với tiếng gọi của Chúa và với công việc bổn phận hằng ngày của chị: được gọi để gọi người khác. Giá trị và sự cao cả của chị không phải là ở chỗ đó sao?”
Đọc xong mẩu truyện trên đây, tôi tin rằng ai trong chúng ta cũng có suy nghĩ. Cách viết của Đức Cố HY quả thật nhẹ nhàng, đơn giản…., nếu có những ngụ ý thì cũng gần gũi với tình cảm của chúng ta. Cá nhân tôi, tôi ‘mê’ cách viết của Ngài. Tôi không nói quá lời, hầu như bài nào mở ra tôi đều đọc đi đọc lại vài lần, và suy nghĩ ‘sâu’. Với cách viết này, tôi tin rằng khi mọi người đọc sẽ cảm thấy gần với nhau hơn, gần với Giáo hội hơn, muốn tìm hiểu về Giáo hội nhiều hơn, nhất là muốn đi tìm những gương sáng trong Giáo hội nhiều hơn. Tôi tin rằng Ngài đã viết với trái tim của Ngài, không gò bó, không uốn ép, không khuôn sáo mà rất thực. Ở câu “Đàng kia, chiếc ghế vẫn vô tình không biết từ nay mình sẽ là đồ vô chủ”, theo tôi nghĩ, Đức Cố HY chỉ ngụ ý một tình cảm đau đớn thể hiện ngay cả ở một vật vô tri, bởi vì sẽ có người khác thay thế chị Celine tiếp tục công việc của chị thôi, dù không được như chị. Sách của Đức Cố HY quả thực là sự nhắc nhở chân tình, hướng chúng ta đến cách hành xử tốt hơn, cho Chúa và cho tha nhân
“Chị Celine được Chúa gọi để gọi”. Đó là ‘ơn gọi’. Khi nói đến ‘ơn gọi’, chúng ta thường nghĩ đến một người nam được Chúa gọi đi tu làm linh mục, hay một người nữ được Chúa gọi đi tu làm ma sơ, hoặc như trường hợp chị Celine, một người nam hay nữ được Chúa gọi để làm một công việc nào đó có liên quan đến Giáo hội Chúa, dù là một công việc nhỏ mọn. Chị Celine đã được Chúa gọi, hay được Chúa phân công để làm một công việc rất khiêm nhường, rất nhỏ mọn, một công việc nhàm chán, nhưng chị đã làm tròn việc Chúa giao một cách tuyệt vời. Trong cuộc sống đời thường, ai trong chúng ta không muốn vươn lên những địa vị cao hơn? Nhưng vì yêu Chúa hết mình, vì phó dâng hết mình, chị Celine đã ‘xin vâng’ trong công việc khiêm nhường ấy. Tôi nghĩ chị Celine đã ý thức được rằng Giáo hội Chúa cũng là một ‘guồng máy’, cũng có những bánh xe lớn, bánh xe nhỏ, cũng có những con ốc, con tán, cần phải có tất cả để gắn chặt guồng máy và giữ cho guồng máy hoạt động đều đặn. Chị đã nhận sự phân công làm một con ốc nhỏ nhất, nhưng không thể thiếu được. Tôi tin rằng Giáo hội Chúa hoạt động theo chiều hướng ấy, chiều hướng được Chúa phân công nhịp nhàng để cải tiến guồng máy ngày một tốt đẹp hơn.
Từ những suy nghĩ trên đây, tôi lạc quan tin rằng ‘các đấng chăn chiên’, những người được ơn gọi, hay được Chúa phân công để chăn dắt đàn chiên Chúa và mở rộng Nước Chúa đều làm việc theo tinh thần ‘xin vâng’ này. Nếu các vị có nỗ lực vươn lên cũng chỉ là tạo cho cá nhân mình có năng lực tốt hơn để thực hiện ‘xin vâng’ tốt hơn, chứ không nhằm tạo cho mình một địa vị cao hơn để được vẻ vang hơn. Tôi tin rằng khi các vị được ơn gọi của Chúa, hay được Chúa phân công lên địa vị cao hơn, thì đó cũng chỉ có nghĩa là trách nhiệm của các vị nặng hơn, thánh giá Chúa trao cho các vị vác nặng hơn mà thôi, và đương nhiên đó là một vinh dự.
Vậy chứ giáo dân chúng ta có bao giờ ý thức được rằng Chúa cũng gọi chúng ta một cách huyền nhiệm bao giờ hay chưa?