LTS: Giáo phận Quy Nhơn đang chuẩn bị mừng sinh nhật Á Thánh Anrê Phú Yên được tổ chức vào các ngày 25 và 26 tháng 7, VietCatholic xin chia sẻ tâm tình vui mừng này bằng cách trân trọng giới thiệu bản Trường Ca Anrê Phú Yên do Linh Mục Phêrô Võ Tá Khánh tức nhà thơ Trăng Thập Tự sáng tác.

TRƯỜNG CA ANRÊ PHÚ YÊN (tiếp theo và hết)

LỄ HY SINH TÌNH YÊU

Gió chiều phơn phớt lạnh

Lặng cả tiếng thì thầm

Rừng người đứng trầm ngâm

Nghe lý hình than thở :

"Lạy Trời, xin tha thứ

Tôi là kẻ thừa hành

Có đổ máu người lành

Xin Trời Xanh tha tội".

Than rồi, ông bước tới

Cố nén tiếng thương đau

Lấy ngọn giáo đâm thâu

Xuyên từ sau ra trước.

Thầy An-rê vẫn ngước

Nhìn trời mắt đăm đăm

Rồi quay lại chăm chăm

Thầy chào cha Đắc-Lộ.

Lòng cha bao đau khổ

Vẫn gắng ngỏ một lời :

"Con ơi hãy nhìn trời

Giê-su Ngài đang đợi !"

Thầy nghe lời cha nói

Vội nhìn trời bao la

"Giê-su ! Ma-ri-a !"

Lời thốt ra luôn miệng.

Người lý hình tê điếng

Rút lại ngọn giáo dài

Đâm một nhát thứ hai

Rồi đâm thêm nhát nữa.

Thầy vẫn chưa gục ngã

Kiên vững cả xác hồn

Trên đôi môi như son

Vẫn kêu giòn danh Chúa.

Thấy cực hình lâu quá

Một người lính đứng gần

Tuốt ra lưỡi gươm trần

Nhắm chém ngay vào cổ.

Nhưng thầy vẫn quỳ đó

Danh Chúa thầy vẫn kêu

Thêm một nhát gươm vèo

Mới đứt ngang cuống họng :

Vọt lên dòng máu nóng

Cùng hai tiếng "Giê-su !"

Từ đáy lòng khiêm nhu

Của con người yêu Chúa.

Chúa yêu thương thầy quá

Cho giống Chúa mọi đường

Với năm dấu yêu thương

Với máu tuôn như suối.

Chết năm mười chín tuổi

Út đã trở nên đầu

Giục kẻ trước người sau

Nối tiếp nhau làm chứng.



Ý NGHĨA MỘT CÁI CHẾT

Mây chiều bay lờ lững

Đồi cao gió vân vê

Lính tráng đã ra về

Đám đông còn lưu luyến :

Kẻ lặng thinh cầu nguyện

Kẻ bịn rịn xót xa

Mấy người Bồ Đào Nha

Đem lụa đào lau thấm

Quý từng giọt máu thắm

Của một bậc hiền nhân

Tín hữu cũng chen chân

Nhặt nhánh cây cọng cỏ

Hốt lớp đất ướt đỏ

Có dính máu người hiền

Khiến lương dân đứng nhìn

Rất ngạc nhiên sửng sốt.

Không bỏ qua dịp tốt

Cha Đắc-Lộ đứng lên

Cha ứng khẩu giảng liền

Mấy lời khuyên tha thiết

Về ý nghĩa cái chết

Của thầy giảng An-rê

Về ơn phúc tràn trề

Của tình thương Thiên Chúa.

Đoàn giáo dân lệ ứa

Có mang sẵn quan tài

Họ tẩm liệm thi hài

Và máu đào quý giá

Rồi lời kinh cảm tạ

Vang trong gió chiều hôm

Như hương trầm ngát thơm

Bay về tôn nhan Chúa

Đêm trùm lên ruộng lúa

Thuyền xuôi ngả Hội An

Nhưng An-rê Phú Yên

Đã thắp lên ánh sáng.

Ôi người thật xứng đáng

Con của Mẹ Việt Nam

Từ đây đến ngàn năm

Sẽ không quên ngày ấy

Hai mươi sáu tháng bảy

Năm một sáu bốn tư (1644)

Dâng tiến Chúa nhân từ

Lễ đầu mùa nước Việt.

II. MỘT SỐ VIỆC XẢY RA SAU KHI THẦY AN-RÊ CHẾT (17)

LỬA CHÁY THÀNH CHIÊM

Thầy An-rê bị giết

Đã nên việc động trời

Dân chúng ở khắp nơi

Đều lắm lời kháo láo.

Việc càng thêm huyên náo

Vì liên tiếp ba ngày

Sau cái chết của thầy

Xảy ba lần hỏa hoạn.

Lửa tràn lan thị trấn

Lửa cháy chợ, cháy đình,

Cháy ngục thất, tư dinh,

Cháy phố phường, nhà cửa.

Từ đâu mà nổi lửa

Chẳng ai rõ, ai hay,

Có người bảo rằng đây

Giáo dân bày phù phép.

Nhưng phần đông miệng chép

Đây là việc trời làm

Oán trách lão quan tham

Đã giết người vô tội.

Lửa cháy thiêu, cháy rụi,

Lửa cháy vội, cháy mau,

Cháy sạch đường thương đau

Đã điệu người đi xử.

Lửa cháy hung, cháy dữ,

Cháy sạch đường hôm qua.

Chỉ trừ lại một nhà

Lại là nhà người lính

Rất hung hăng nóng tính

Thật ngạo ngược quá tay

Đã muốn đòi phanh thây

Sau khi thầy giảng chết.

Bây giờ lửa đốt hết

Anh mới biết tội mình

Tức khắc anh van xin

Người mà anh giết hại.

Thật lạ lùng ngang trái

Giữa đám cháy điêu tàn

Nhà anh được bình an

Như lời anh cầu khẩn.

NGƯỜI HOA TIÊU VÔ HÌNH

Còn thi hài thầy giảng

Cha Đắc-Lộ giữ nguyên

Cha vẫn để trong thuyền

Đợi ngày đem gởi gắm.

Sang đến đầu tháng tám

Có tàu Bồ Đào Nha

Sắp nhổ neo đi xa

Vội vàng cha nhờ họ

Chở giùm quan tài đó

Về dòng Tên Áo-môn.

Sẵn có lòng kính tôn

Các thương gia hoan hỷ.

Còn riêng phần giáo sĩ

Giữ thủ cấp An-rê

Mong sớm hôm cận kề

Thoả tấm lòng quý mến.

Khi tàu ra giữa biển

Được gió thuận buồm xuôi

Người hoa tiêu mừng vui

Cho tàu đi đúng hướng.

Nhưng tàu như trở chứng

Tự định hướng tìm phương

Theo hẳn một con đường

Chẳng ai tường, ai rõ.

Tàu bất chấp ngược gió

Vẫn cứ đi dễ dàng.

Về tới bến bình an

Mới hay rằng dạo ấy

Trên đường tàu quen chạy

Có bọn cướp ngang tàng

Những chiếc tàu đi ngang

Có gì thường mất sạch

Chủ tàu và hành khách

Nghe vậy hết sức mừng

Ai nấy đều nghĩ rằng

Thầy An-rê phù hộ.

ĐƯỢC ĐÓN TIẾP TẠI ÁO-MÔN

Tin này loan khắp phố

Người trăm họ xôn xao

Càng thêm lòng ước ao

Đón thi hài thầy giảng.

Khắp Áo-môn bừng sáng

Đèn hoa kết đầy đường

Chuông rộn rã du dương

Chào mừng thi thể ấy.

Cuộc khải hoàn lộng lẫy

Đón rước thật chỉnh tề

Đưa thi thể An-rê

Về nhà thờ Đức Mẹ.

CHẾ NGỰ THÁI BÌNH DƯƠNG

Trong khi đó giáo sĩ

Còn liên lỉ âm thầm

Làm việc tại Việt Nam

Được một năm trôi chảy.

Năm sau đầu tháng bảy

Ngậm ngùi cảnh biệt ly

Cha bị đuổi ra đi

Phải xuống tàu thật gấp.

Tay cha ôm thủ cấp

Của thầy giảng An-rê

Mà đôi mắt trông về

Việt Nam rất yêu dấu.

Bỗng Thái Bình nổi bão

Dậy sóng gió kinh hồn

Như chấn động càn khôn

Các cột buồm gãy mất.

Người hoa tiêu hoa mắt

Các thủy thủ ngã lòng

Nhưng giáo sĩ cậy trông

Xin An-rê cứu chữa

Thủ cấp thầy để giữa

Chung quanh mọi người quỳ

Miệng khấn hứa thầm thì

Rồi cầu kinh Đức Mẹ.

Kinh cầu còn đang kể

Sóng gió đã yên hàn

Ai nấy được bình an

Lòng tạ ơn khôn xiết.

Về Áo-môn mới biết

Lúc họ thoát hiểm nguy

Cũng gần chỗ họ đi

Hai chiếc tàu bị đắm :

Bão nhận chìm thê thảm

Cuốn mất cả tăm hơi,

Chỉ sống sót mấy người

Về ngậm ngùi kể lại.

ĐỤC ĐÁ VÁ TÀU

Qua những ngày chờ đợi

Đến tháng hai năm sau (1646)

Cha Đắc-Lộ đáp tàu

Đi Rô-ma báo cáo

Về công việc truyền giáo

Phát triển ở nước ta

Để xin Đức Thánh Cha

Gởi các vị Giám mục

Tới chăm nom coi sóc

Và tiếp tục công trình.

Tàu cha đang lênh đênh

Theo gió lành biển lặng

Bỗng dưng đâm thật mạnh

Vào một núi đá ngầm

Bị lủng cả dưới hầm

Gỗ nổi lên mặt nước.

Tàu kẹt không ra được

Mọi người mặt tái xanh

Cuống quýt lo dọn mình

Xin chết lành trong Chúa.

Giáo sĩ khuyên vững dạ

Cầm thủ cấp An-rê

Cha nói nhỏ thầy nghe

Xin cứu nguy thoát chết.

Tức khắc tàu khỏi kẹt

Và lại tiếp tục đi

Bình an chẳng việc gì

Cứ theo lời thủy thủ

Ván đóng tàu đã cũ

Có ghép gỗ thêm nhiều

Phần gỗ nổi lều bều

Chắc chỉ là lớp vỏ.

Lúc tàu về bến đỗ

Kéo lên cạn sửa sang

Ai nấy mới bàng hoàng :

Lủng tang hoang dưới đáy.

Xưa nay chưa từng thấy :

Đá đục lấy ván tàu

Rồi tách khối đá đầu

Vá chặt đâu vào đấy.

Ai ai nhìn thấy vậy

Cũng rất đỗi ngạc nhiên

Riêng hành khách được yên

Kể rằng trong nguy biến

Họ đã cùng cầu nguyện

Với thầy giảng An-rê.

TẠI CHÂU ÂU

Hành trình dài lê thê

Sau bảy năm đằng đẵng

Thủ cấp của thầy giảng

Mới về tới Rô-ma (1652)

Được giữ như ngọc ngà

Tại nhà Bề trên Cả. (18)

Cha Đắc-Lộ cũng đã

Nhờ người họa hình thầy

Kèm tiểu sử in ngay

Trình bày cho thế giới.

Cho đến khi cha tới

Thủ đô Pháp : Ba-lê (1653)

Danh thầy giảng An-rê

Đã được nhiều người biết.

Có những người ốm liệt

Chữa chạy đã lâu ngày

Họ cầm ảnh của thầy

Cầu xin và khỏi bệnh.

Hồ sơ xin phong thánh

Cho thầy giảng An-rê

Từ Áo-môn gởi về

Đang chờ Tòa Thánh xét. (19)

CÁC BẠN CỦA ANRÊ TẠI VIỆT NAM

Dưới bầu trời nước Việt

Sau cái chết của thầy

Đoàn thầy giảng mọi ngày

Đã đầy mười hai vị.

Cùng một lòng một ý

Làm chứng cho Giê-su

Bảy vị bị ở tù

Bị chặt chân một ngón.

Còn hai người anh lớn

Là I-nhã thuở nào

Và Vinh-sơn anh hào

Đúng một năm sau đó (20)

Cũng bị quan xử tử.

TỪ ĐÓ HỘI THÁNH VIỆT NAM PHÁT TRIỂN MẠNH

Máu đổ vì Phúc Âm

Cho hạt giống nảy mầm

Khắp trời nam nước Việt.

Bao nhiêu người oanh liệt

Sống chết vì đức tin :

Một trăm ba chục nghìn

Đã hy sinh vì đạo.

Từ nhi đồng, phụ lão,

Từ thầy giáo, học trò,

Đến thợ thuyền, nông phu,

Thương gia và y sĩ,

Cả các bà, các chị,

Cả cụ lý, thầy cai,

Cả bà mẹ mang thai,

Quan quân và lính ngục,

Cả thầy dòng, Giám mục,

Cả cha xứ, ông trùm,

Người giúp việc nhà chung,

Nữ tu và thầy giảng,

Tất cả đều xứng đáng

Những nhân chứng tình yêu.

Người hy sinh càng nhiều

Người tin theo càng lắm

Cho quê hương tươi thắm

Cho Hội Thánh vững bền

Bốn trăm năm xây trên

Máu anh hùng tử đạo

Từ một miền truyền giáo

Nay Hội Thánh Việt Nam

Đã cùng nghĩ cùng làm

Với anh em thế giới.

LỜI KẾT

ta đi phấn khởi

Mở lối bởi tiền nhân

Nén hương lòng tri ân

Tấm bia lòng ghi khắc.

Sau Phan-sinh xứ Bắc (21)

Đây An-rê Phú Yên

Là người Việt đầu tiên

Đã trung kiên làm chứng

Cho lòng ta tin vững

Cho hy vọng ta vươn

Cho đậm nét yêu thương

Cho quê hương ngời sáng.

Nguyện tiếp tay xứng đáng

Với sự nghiệp người hiền

Gương mẫu thanh thiếu niên

Và giảng viên giáo lý

Xin thành tâm quyết chí

Noi gương người khiêm nhu

Yêu mến Chúa Giê-su

Đến hiến dâng đời sống.

CHÚ THÍCH

(1) Các vị vua cuối thời nhà Lê bị hai dòng tộc lấn quyền, nước ta bị chia làm hai miền ở hai phía sông Gianh, mỗi bên thuộc một gia tộc được phong tước "vương"(quen gọi là "chúa"), miền Bắc thuộc quyền Chúa Trịnh, miền Nam thuộc quyền Chúa Nguyễn, hai bên đánh nhau nhiều lần. Về mặt đạo, miền Bắc được gọi là Xứ Bắc hay Đàng Ngoài, miền Nam được gọi là Xứ Nam hay Đàng Trong.

(2) Mằng Lăng : Một giáo xứ thuộc giáo phận Qui Nhơn. Nhà thờ Mằng Lăng nằm ở phía bắc thị xã Tuy Hòa (Phú Yên) 30 km, cách quốc lộ 2 km về phía đông, bên hữu ngạn sông Cái.

(3) Sơn Chà : Một ngọn núi ở Mằng Lăng.

(4) Văn Thánh : Chỗ đất trống trên sườn núi A-mang tại Mằng Lăng trước kia có đền thờ Đức Khổng Tử. Cánh đồng rộng phía đó được gọi là cánh đồng Văn Thánh.

(5) Cha A-lịch-sơn Đắc-Lộ (1591-1660) : Giáo sĩ dòng Tên, quê ở lãnh địa A-vi-nhông của Tòa Thánh (lãnh địa này nằm trên đất Pháp), truyền giáo tại Việt Nam từ 1624-1645. Cha đã giúp hoàn thành chữ quốc ngữ. Cuối đời, cha đi truyền giáo tại BaTư và chết ở đó.

(6) Dinh Trấn biên : Quân ta tới đâu đều lập đồn trấn giữ biên giới, dinh quan Trấn thủ gọi là dinh Trấn biên.

(7) Dinh Trấn biên của vùng Phú Yên lúc đó được đặt tại thôn Hội Phú, cách nhà thờ Mằng Lăng chừng 1 km, chỗ xây thành quách xưa, nay được gọi là Thành cũ.

(8) Mấy tháng sau thánh lễ rửa tội của An-rê, cha Đắc-Lộ đi Phi-líp-pin và Áo-môn một thời gian. Áo-môn (hay Ma-cao) là một thành phố trên bờ biển Trung Quốc, lúc đó thuộc quyền người Bồ Đào Nha, có nhà thờ chánh tòa và nhiều cơ sở tôn giáo.

(9) Cha Đắc-Lộ đặt trụ sở hoạt động tại Đà Nẵng và Hội An, mỗi nơi đều có nhà thờ chung cho giáo dân và nhà riêng cho các cha và các thầy.

(10) Trưởng đoàn thầy giảng là I-nhã, một người học thức cao, xin thôi làm quan để theo cha Đắc-Lộ và thầy I-nhã hướng dẫn các thầy theo tinh thần tu đức của thánh I-nhã Lô-dô-la, là vị thánh sáng lập dòng Chúa Giêsu (dòng Tên).

(11) Công Thượng Vương còn gọi là Chúa Thượng, tên thật là Nguyễn Phúc Lan. Ông là vị vương thứ ba của nhà Nguyễn, sau Tiên vương Nguyễn Hoàng và Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên. Ông cai trị từ năm 1635-1648.

(12) Tống thị, hay "Người đàn bà họ Tống" tức là bà Tống Thị Toại, vợ của ông Nguyễn Phúc Kỳ là anh ruột Nguyễn Phúc Lan. Sau khi ông Kỳ chết, bà lén lút sống như vợ của ông Lan là em chồng bà. Để tránh khỏi bị phanh phui những chuyện mờ ám, bà đã gây ra một cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ tư (1648) và gây náo loạn phủ Công Thượng Vương. (xem "Người chứng thứ nhất", trang 109-113, báo Văn Đàn số 48, trang 8).

(13) Tức là Cha A-lịch-sơn Đắc-Lộ.

(14) Ông Nghè Bộ hay Ông Bộ là tiếng người bình dân dùng để gọi chức cai bạ (Cai bộ). Ông Cai bạ tỉnh Quảng Nam này tên gì sách không ghi lại. Tuy ông chỉ giữ một chức nhỏ dưới quyền quan Trấn thủ nhưng có lẽ quan Trấn thủ quá bận việc quân sự nên ông ta được dịp lộng hành. (Người chứng thứ nhất, 116-117).

(15) Thanh Chiêm là dinh Trấn biên của tỉnh Quảng Nam, cách Hội An chừng 10 km ngược dòng sông.(Người chứng thứ nhất, 121-124).

(16) Gia-tô : tức là "Giê-su", theo cách đọc hồi xưa.

(17) Chỉ có những sự kiện được Tòa Thánh công nhận là một phép lạ, ta mới được gọi là phép lạ đúng nghĩa. Những sự kiện sau cái chết của thầy An-rê chưa được Tòa Thánh công nhận, chúng ta chỉ nhắc lại như những kỷ niệm trìu mến về thầy An-rê.

(18) Nhà Bề trên Cả dòng Tên. (Người chứng thứ nhất, 190-192).

(19) Hồ sơ xin phong thánh cho thầy giảng An-rê đã được thiết lập từ 1645, được tổng kết năm 1901 (Người chứng thứ nhất, 207-215). Sắc lệnh của ĐGH Urbanô VIII cấm chỉ mọi việc tôn sùng công cộng đối với những nhân vật không được phong chân phước hay phong hiển thánh. Đối với một tôi tớ Chúa, đang được điều tra để phong thánh cũng thế, không được tôn sùng công cộng. Tôn sùng công cộng nghĩa là có người nhân danh Hội Thánh (như linh mục v.v…) đứng ra tổ chức các việc : cầu kinh, rước, trưng bày ảnh tượng trong nhà thờ v.v… Còn những việc các giáo dân tự động có sáng kiến tỏ lòng tôn kính đối với một tôi tớ Chúa, dù là tụ tập đông người, mà không có sự tham dự của giáo quyền, thì không phải là tôn sùng công cộng. (Xem các chi tiết giáo luật trích lại trong Người chứng thứ nhất, 215-216).

(20) Ngày 26-7-1645

(21) Phan-sinh, tức Phanxicô, là một giáo dân ở Đàng Ngoài, giúp việc cho một vị quan lớn trong phủ Chúa Trịnh. Vì Phan-sinh nhất quyết tin thờ Chúa Giêsu nên bị vị quan ấy giết chết năm 1630. Tiếc rằng ta không biết được gì nhiều về Phan-sinh. (Người chứng thứ nhất, 24 và 223).