LTS: Giáo phận Quy Nhơn đang chuẩn bị mừng sinh nhật Á Thánh Anrê Phú Yên được tổ chức vào các ngày 25 và 26 tháng 7, VietCatholic xin chia sẻ tâm tình vui mừng này bằng cách trân trọng giới thiệu bản Trường Ca Anrê Phú Yên do Linh Mục Phêrô Võ Tá Khánh tức nhà thơ Trăng Thập Tự sáng tác.
TRƯỜNG CA ANRÊ PHÚ YÊN (tiếp theo và hết)
LỄ HY SINH TÌNH YÊU
Gió chiều phơn phớt lạnh
Lặng cả tiếng thì thầm
Rừng người đứng trầm ngâm
Nghe lý hình than thở :
"Lạy Trời, xin tha thứ
Tôi là kẻ thừa hành
Có đổ máu người lành
Xin Trời Xanh tha tội".
Than rồi, ông bước tới
Cố nén tiếng thương đau
Lấy ngọn giáo đâm thâu
Xuyên từ sau ra trước.
Thầy An-rê vẫn ngước
Nhìn trời mắt đăm đăm
Rồi quay lại chăm chăm
Thầy chào cha Đắc-Lộ.
Lòng cha bao đau khổ
Vẫn gắng ngỏ một lời :
"Con ơi hãy nhìn trời
Giê-su Ngài đang đợi !"
Thầy nghe lời cha nói
Vội nhìn trời bao la
"Giê-su ! Ma-ri-a !"
Lời thốt ra luôn miệng.
Người lý hình tê điếng
Rút lại ngọn giáo dài
Đâm một nhát thứ hai
Rồi đâm thêm nhát nữa.
Thầy vẫn chưa gục ngã
Kiên vững cả xác hồn
Trên đôi môi như son
Vẫn kêu giòn danh Chúa.
Thấy cực hình lâu quá
Một người lính đứng gần
Tuốt ra lưỡi gươm trần
Nhắm chém ngay vào cổ.
Nhưng thầy vẫn quỳ đó
Danh Chúa thầy vẫn kêu
Thêm một nhát gươm vèo
Mới đứt ngang cuống họng :
Vọt lên dòng máu nóng
Cùng hai tiếng "Giê-su !"
Từ đáy lòng khiêm nhu
Của con người yêu Chúa.
Chúa yêu thương thầy quá
Cho giống Chúa mọi đường
Với năm dấu yêu thương
Với máu tuôn như suối.
Chết năm mười chín tuổi
Út đã trở nên đầu
Giục kẻ trước người sau
Nối tiếp nhau làm chứng.
Ý NGHĨA MỘT CÁI CHẾT
Mây chiều bay lờ lững
Đồi cao gió vân vê
Lính tráng đã ra về
Đám đông còn lưu luyến :
Kẻ lặng thinh cầu nguyện
Kẻ bịn rịn xót xa
Mấy người Bồ Đào Nha
Đem lụa đào lau thấm
Quý từng giọt máu thắm
Của một bậc hiền nhân
Tín hữu cũng chen chân
Nhặt nhánh cây cọng cỏ
Hốt lớp đất ướt đỏ
Có dính máu người hiền
Khiến lương dân đứng nhìn
Rất ngạc nhiên sửng sốt.
Không bỏ qua dịp tốt
Cha Đắc-Lộ đứng lên
Cha ứng khẩu giảng liền
Mấy lời khuyên tha thiết
Về ý nghĩa cái chết
Của thầy giảng An-rê
Về ơn phúc tràn trề
Của tình thương Thiên Chúa.
Đoàn giáo dân lệ ứa
Có mang sẵn quan tài
Họ tẩm liệm thi hài
Và máu đào quý giá
Rồi lời kinh cảm tạ
Vang trong gió chiều hôm
Như hương trầm ngát thơm
Bay về tôn nhan Chúa
Đêm trùm lên ruộng lúa
Thuyền xuôi ngả Hội An
Nhưng An-rê Phú Yên
Đã thắp lên ánh sáng.
Ôi người thật xứng đáng
Con của Mẹ Việt Nam
Từ đây đến ngàn năm
Sẽ không quên ngày ấy
Hai mươi sáu tháng bảy
Năm một sáu bốn tư (1644)
Dâng tiến Chúa nhân từ
Lễ đầu mùa nước Việt.
II. MỘT SỐ VIỆC XẢY RA SAU KHI THẦY AN-RÊ CHẾT (17)
LỬA CHÁY THÀNH CHIÊM
Thầy An-rê bị giết
Đã nên việc động trời
Dân chúng ở khắp nơi
Đều lắm lời kháo láo.
Việc càng thêm huyên náo
Vì liên tiếp ba ngày
Sau cái chết của thầy
Xảy ba lần hỏa hoạn.
Lửa tràn lan thị trấn
Lửa cháy chợ, cháy đình,
Cháy ngục thất, tư dinh,
Cháy phố phường, nhà cửa.
Từ đâu mà nổi lửa
Chẳng ai rõ, ai hay,
Có người bảo rằng đây
Giáo dân bày phù phép.
Nhưng phần đông miệng chép
Đây là việc trời làm
Oán trách lão quan tham
Đã giết người vô tội.
Lửa cháy thiêu, cháy rụi,
Lửa cháy vội, cháy mau,
Cháy sạch đường thương đau
Đã điệu người đi xử.
Lửa cháy hung, cháy dữ,
Cháy sạch đường hôm qua.
Chỉ trừ lại một nhà
Lại là nhà người lính
Rất hung hăng nóng tính
Thật ngạo ngược quá tay
Đã muốn đòi phanh thây
Sau khi thầy giảng chết.
Bây giờ lửa đốt hết
Anh mới biết tội mình
Tức khắc anh van xin
Người mà anh giết hại.
Thật lạ lùng ngang trái
Giữa đám cháy điêu tàn
Nhà anh được bình an
Như lời anh cầu khẩn.
NGƯỜI HOA TIÊU VÔ HÌNH
Còn thi hài thầy giảng
Cha Đắc-Lộ giữ nguyên
Cha vẫn để trong thuyền
Đợi ngày đem gởi gắm.
Sang đến đầu tháng tám
Có tàu Bồ Đào Nha
Sắp nhổ neo đi xa
Vội vàng cha nhờ họ
Chở giùm quan tài đó
Về dòng Tên Áo-môn.
Sẵn có lòng kính tôn
Các thương gia hoan hỷ.
Còn riêng phần giáo sĩ
Giữ thủ cấp An-rê
Mong sớm hôm cận kề
Thoả tấm lòng quý mến.
Khi tàu ra giữa biển
Được gió thuận buồm xuôi
Người hoa tiêu mừng vui
Cho tàu đi đúng hướng.
Nhưng tàu như trở chứng
Tự định hướng tìm phương
Theo hẳn một con đường
Chẳng ai tường, ai rõ.
Tàu bất chấp ngược gió
Vẫn cứ đi dễ dàng.
Về tới bến bình an
Mới hay rằng dạo ấy
Trên đường tàu quen chạy
Có bọn cướp ngang tàng
Những chiếc tàu đi ngang
Có gì thường mất sạch
Chủ tàu và hành khách
Nghe vậy hết sức mừng
Ai nấy đều nghĩ rằng
Thầy An-rê phù hộ.
ĐƯỢC ĐÓN TIẾP TẠI ÁO-MÔN
Tin này loan khắp phố
Người trăm họ xôn xao
Càng thêm lòng ước ao
Đón thi hài thầy giảng.
Khắp Áo-môn bừng sáng
Đèn hoa kết đầy đường
Chuông rộn rã du dương
Chào mừng thi thể ấy.
Cuộc khải hoàn lộng lẫy
Đón rước thật chỉnh tề
Đưa thi thể An-rê
Về nhà thờ Đức Mẹ.
CHẾ NGỰ THÁI BÌNH DƯƠNG
Trong khi đó giáo sĩ
Còn liên lỉ âm thầm
Làm việc tại Việt Nam
Được một năm trôi chảy.
Năm sau đầu tháng bảy
Ngậm ngùi cảnh biệt ly
Cha bị đuổi ra đi
Phải xuống tàu thật gấp.
Tay cha ôm thủ cấp
Của thầy giảng An-rê
Mà đôi mắt trông về
Việt Nam rất yêu dấu.
Bỗng Thái Bình nổi bão
Dậy sóng gió kinh hồn
Như chấn động càn khôn
Các cột buồm gãy mất.
Người hoa tiêu hoa mắt
Các thủy thủ ngã lòng
Nhưng giáo sĩ cậy trông
Xin An-rê cứu chữa
Thủ cấp thầy để giữa
Chung quanh mọi người quỳ
Miệng khấn hứa thầm thì
Rồi cầu kinh Đức Mẹ.
Kinh cầu còn đang kể
Sóng gió đã yên hàn
Ai nấy được bình an
Lòng tạ ơn khôn xiết.
Về Áo-môn mới biết
Lúc họ thoát hiểm nguy
Cũng gần chỗ họ đi
Hai chiếc tàu bị đắm :
Bão nhận chìm thê thảm
Cuốn mất cả tăm hơi,
Chỉ sống sót mấy người
Về ngậm ngùi kể lại.
ĐỤC ĐÁ VÁ TÀU
Qua những ngày chờ đợi
Đến tháng hai năm sau (1646)
Cha Đắc-Lộ đáp tàu
Đi Rô-ma báo cáo
Về công việc truyền giáo
Phát triển ở nước ta
Để xin Đức Thánh Cha
Gởi các vị Giám mục
Tới chăm nom coi sóc
Và tiếp tục công trình.
Tàu cha đang lênh đênh
Theo gió lành biển lặng
Bỗng dưng đâm thật mạnh
Vào một núi đá ngầm
Bị lủng cả dưới hầm
Gỗ nổi lên mặt nước.
Tàu kẹt không ra được
Mọi người mặt tái xanh
Cuống quýt lo dọn mình
Xin chết lành trong Chúa.
Giáo sĩ khuyên vững dạ
Cầm thủ cấp An-rê
Cha nói nhỏ thầy nghe
Xin cứu nguy thoát chết.
Tức khắc tàu khỏi kẹt
Và lại tiếp tục đi
Bình an chẳng việc gì
Cứ theo lời thủy thủ
Ván đóng tàu đã cũ
Có ghép gỗ thêm nhiều
Phần gỗ nổi lều bều
Chắc chỉ là lớp vỏ.
Lúc tàu về bến đỗ
Kéo lên cạn sửa sang
Ai nấy mới bàng hoàng :
Lủng tang hoang dưới đáy.
Xưa nay chưa từng thấy :
Đá đục lấy ván tàu
Rồi tách khối đá đầu
Vá chặt đâu vào đấy.
Ai ai nhìn thấy vậy
Cũng rất đỗi ngạc nhiên
Riêng hành khách được yên
Kể rằng trong nguy biến
Họ đã cùng cầu nguyện
Với thầy giảng An-rê.
TẠI CHÂU ÂU
Hành trình dài lê thê
Sau bảy năm đằng đẵng
Thủ cấp của thầy giảng
Mới về tới Rô-ma (1652)
Được giữ như ngọc ngà
Tại nhà Bề trên Cả. (18)
Cha Đắc-Lộ cũng đã
Nhờ người họa hình thầy
Kèm tiểu sử in ngay
Trình bày cho thế giới.
Cho đến khi cha tới
Thủ đô Pháp : Ba-lê (1653)
Danh thầy giảng An-rê
Đã được nhiều người biết.
Có những người ốm liệt
Chữa chạy đã lâu ngày
Họ cầm ảnh của thầy
Cầu xin và khỏi bệnh.
Hồ sơ xin phong thánh
Cho thầy giảng An-rê
Từ Áo-môn gởi về
Đang chờ Tòa Thánh xét. (19)
CÁC BẠN CỦA ANRÊ TẠI VIỆT NAM
Dưới bầu trời nước Việt
Sau cái chết của thầy
Đoàn thầy giảng mọi ngày
Đã đầy mười hai vị.
Cùng một lòng một ý
Làm chứng cho Giê-su
Bảy vị bị ở tù
Bị chặt chân một ngón.
Còn hai người anh lớn
Là I-nhã thuở nào
Và Vinh-sơn anh hào
Đúng một năm sau đó (20)
Cũng bị quan xử tử.
TỪ ĐÓ HỘI THÁNH VIỆT NAM PHÁT TRIỂN MẠNH
Máu đổ vì Phúc Âm
Cho hạt giống nảy mầm
Khắp trời nam nước Việt.
Bao nhiêu người oanh liệt
Sống chết vì đức tin :
Một trăm ba chục nghìn
Đã hy sinh vì đạo.
Từ nhi đồng, phụ lão,
Từ thầy giáo, học trò,
Đến thợ thuyền, nông phu,
Thương gia và y sĩ,
Cả các bà, các chị,
Cả cụ lý, thầy cai,
Cả bà mẹ mang thai,
Quan quân và lính ngục,
Cả thầy dòng, Giám mục,
Cả cha xứ, ông trùm,
Người giúp việc nhà chung,
Nữ tu và thầy giảng,
Tất cả đều xứng đáng
Những nhân chứng tình yêu.
Người hy sinh càng nhiều
Người tin theo càng lắm
Cho quê hương tươi thắm
Cho Hội Thánh vững bền
Bốn trăm năm xây trên
Máu anh hùng tử đạo
Từ một miền truyền giáo
Nay Hội Thánh Việt Nam
Đã cùng nghĩ cùng làm
Với anh em thế giới.
LỜI KẾT
ta đi phấn khởi
Mở lối bởi tiền nhân
Nén hương lòng tri ân
Tấm bia lòng ghi khắc.
Sau Phan-sinh xứ Bắc (21)
Đây An-rê Phú Yên
Là người Việt đầu tiên
Đã trung kiên làm chứng
Cho lòng ta tin vững
Cho hy vọng ta vươn
Cho đậm nét yêu thương
Cho quê hương ngời sáng.
Nguyện tiếp tay xứng đáng
Với sự nghiệp người hiền
Gương mẫu thanh thiếu niên
Và giảng viên giáo lý
Xin thành tâm quyết chí
Noi gương người khiêm nhu
Yêu mến Chúa Giê-su
Đến hiến dâng đời sống.
CHÚ THÍCH
(1) Các vị vua cuối thời nhà Lê bị hai dòng tộc lấn quyền, nước ta bị chia làm hai miền ở hai phía sông Gianh, mỗi bên thuộc một gia tộc được phong tước "vương"(quen gọi là "chúa"), miền Bắc thuộc quyền Chúa Trịnh, miền Nam thuộc quyền Chúa Nguyễn, hai bên đánh nhau nhiều lần. Về mặt đạo, miền Bắc được gọi là Xứ Bắc hay Đàng Ngoài, miền Nam được gọi là Xứ Nam hay Đàng Trong.
(2) Mằng Lăng : Một giáo xứ thuộc giáo phận Qui Nhơn. Nhà thờ Mằng Lăng nằm ở phía bắc thị xã Tuy Hòa (Phú Yên) 30 km, cách quốc lộ 2 km về phía đông, bên hữu ngạn sông Cái.
(3) Sơn Chà : Một ngọn núi ở Mằng Lăng.
(4) Văn Thánh : Chỗ đất trống trên sườn núi A-mang tại Mằng Lăng trước kia có đền thờ Đức Khổng Tử. Cánh đồng rộng phía đó được gọi là cánh đồng Văn Thánh.
(5) Cha A-lịch-sơn Đắc-Lộ (1591-1660) : Giáo sĩ dòng Tên, quê ở lãnh địa A-vi-nhông của Tòa Thánh (lãnh địa này nằm trên đất Pháp), truyền giáo tại Việt Nam từ 1624-1645. Cha đã giúp hoàn thành chữ quốc ngữ. Cuối đời, cha đi truyền giáo tại BaTư và chết ở đó.
(6) Dinh Trấn biên : Quân ta tới đâu đều lập đồn trấn giữ biên giới, dinh quan Trấn thủ gọi là dinh Trấn biên.
(7) Dinh Trấn biên của vùng Phú Yên lúc đó được đặt tại thôn Hội Phú, cách nhà thờ Mằng Lăng chừng 1 km, chỗ xây thành quách xưa, nay được gọi là Thành cũ.
(8) Mấy tháng sau thánh lễ rửa tội của An-rê, cha Đắc-Lộ đi Phi-líp-pin và Áo-môn một thời gian. Áo-môn (hay Ma-cao) là một thành phố trên bờ biển Trung Quốc, lúc đó thuộc quyền người Bồ Đào Nha, có nhà thờ chánh tòa và nhiều cơ sở tôn giáo.
(9) Cha Đắc-Lộ đặt trụ sở hoạt động tại Đà Nẵng và Hội An, mỗi nơi đều có nhà thờ chung cho giáo dân và nhà riêng cho các cha và các thầy.
(10) Trưởng đoàn thầy giảng là I-nhã, một người học thức cao, xin thôi làm quan để theo cha Đắc-Lộ và thầy I-nhã hướng dẫn các thầy theo tinh thần tu đức của thánh I-nhã Lô-dô-la, là vị thánh sáng lập dòng Chúa Giêsu (dòng Tên).
(11) Công Thượng Vương còn gọi là Chúa Thượng, tên thật là Nguyễn Phúc Lan. Ông là vị vương thứ ba của nhà Nguyễn, sau Tiên vương Nguyễn Hoàng và Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên. Ông cai trị từ năm 1635-1648.
(12) Tống thị, hay "Người đàn bà họ Tống" tức là bà Tống Thị Toại, vợ của ông Nguyễn Phúc Kỳ là anh ruột Nguyễn Phúc Lan. Sau khi ông Kỳ chết, bà lén lút sống như vợ của ông Lan là em chồng bà. Để tránh khỏi bị phanh phui những chuyện mờ ám, bà đã gây ra một cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ tư (1648) và gây náo loạn phủ Công Thượng Vương. (xem "Người chứng thứ nhất", trang 109-113, báo Văn Đàn số 48, trang 8).
(13) Tức là Cha A-lịch-sơn Đắc-Lộ.
(14) Ông Nghè Bộ hay Ông Bộ là tiếng người bình dân dùng để gọi chức cai bạ (Cai bộ). Ông Cai bạ tỉnh Quảng Nam này tên gì sách không ghi lại. Tuy ông chỉ giữ một chức nhỏ dưới quyền quan Trấn thủ nhưng có lẽ quan Trấn thủ quá bận việc quân sự nên ông ta được dịp lộng hành. (Người chứng thứ nhất, 116-117).
(15) Thanh Chiêm là dinh Trấn biên của tỉnh Quảng Nam, cách Hội An chừng 10 km ngược dòng sông.(Người chứng thứ nhất, 121-124).
(16) Gia-tô : tức là "Giê-su", theo cách đọc hồi xưa.
(17) Chỉ có những sự kiện được Tòa Thánh công nhận là một phép lạ, ta mới được gọi là phép lạ đúng nghĩa. Những sự kiện sau cái chết của thầy An-rê chưa được Tòa Thánh công nhận, chúng ta chỉ nhắc lại như những kỷ niệm trìu mến về thầy An-rê.
(18) Nhà Bề trên Cả dòng Tên. (Người chứng thứ nhất, 190-192).
(19) Hồ sơ xin phong thánh cho thầy giảng An-rê đã được thiết lập từ 1645, được tổng kết năm 1901 (Người chứng thứ nhất, 207-215). Sắc lệnh của ĐGH Urbanô VIII cấm chỉ mọi việc tôn sùng công cộng đối với những nhân vật không được phong chân phước hay phong hiển thánh. Đối với một tôi tớ Chúa, đang được điều tra để phong thánh cũng thế, không được tôn sùng công cộng. Tôn sùng công cộng nghĩa là có người nhân danh Hội Thánh (như linh mục v.v…) đứng ra tổ chức các việc : cầu kinh, rước, trưng bày ảnh tượng trong nhà thờ v.v… Còn những việc các giáo dân tự động có sáng kiến tỏ lòng tôn kính đối với một tôi tớ Chúa, dù là tụ tập đông người, mà không có sự tham dự của giáo quyền, thì không phải là tôn sùng công cộng. (Xem các chi tiết giáo luật trích lại trong Người chứng thứ nhất, 215-216).
(20) Ngày 26-7-1645
(21) Phan-sinh, tức Phanxicô, là một giáo dân ở Đàng Ngoài, giúp việc cho một vị quan lớn trong phủ Chúa Trịnh. Vì Phan-sinh nhất quyết tin thờ Chúa Giêsu nên bị vị quan ấy giết chết năm 1630. Tiếc rằng ta không biết được gì nhiều về Phan-sinh. (Người chứng thứ nhất, 24 và 223).
TRƯỜNG CA ANRÊ PHÚ YÊN (tiếp theo và hết)
LỄ HY SINH TÌNH YÊU
Gió chiều phơn phớt lạnh
Lặng cả tiếng thì thầm
Rừng người đứng trầm ngâm
Nghe lý hình than thở :
"Lạy Trời, xin tha thứ
Tôi là kẻ thừa hành
Có đổ máu người lành
Xin Trời Xanh tha tội".
Than rồi, ông bước tới
Cố nén tiếng thương đau
Lấy ngọn giáo đâm thâu
Xuyên từ sau ra trước.
Thầy An-rê vẫn ngước
Nhìn trời mắt đăm đăm
Rồi quay lại chăm chăm
Thầy chào cha Đắc-Lộ.
Lòng cha bao đau khổ
Vẫn gắng ngỏ một lời :
"Con ơi hãy nhìn trời
Giê-su Ngài đang đợi !"
Thầy nghe lời cha nói
Vội nhìn trời bao la
"Giê-su ! Ma-ri-a !"
Lời thốt ra luôn miệng.
Người lý hình tê điếng
Rút lại ngọn giáo dài
Đâm một nhát thứ hai
Rồi đâm thêm nhát nữa.
Thầy vẫn chưa gục ngã
Kiên vững cả xác hồn
Trên đôi môi như son
Vẫn kêu giòn danh Chúa.
Thấy cực hình lâu quá
Một người lính đứng gần
Tuốt ra lưỡi gươm trần
Nhắm chém ngay vào cổ.
Nhưng thầy vẫn quỳ đó
Danh Chúa thầy vẫn kêu
Thêm một nhát gươm vèo
Mới đứt ngang cuống họng :
Vọt lên dòng máu nóng
Cùng hai tiếng "Giê-su !"
Từ đáy lòng khiêm nhu
Của con người yêu Chúa.
Chúa yêu thương thầy quá
Cho giống Chúa mọi đường
Với năm dấu yêu thương
Với máu tuôn như suối.
Chết năm mười chín tuổi
Út đã trở nên đầu
Giục kẻ trước người sau
Nối tiếp nhau làm chứng.
Ý NGHĨA MỘT CÁI CHẾT
Mây chiều bay lờ lững
Đồi cao gió vân vê
Lính tráng đã ra về
Đám đông còn lưu luyến :
Kẻ lặng thinh cầu nguyện
Kẻ bịn rịn xót xa
Mấy người Bồ Đào Nha
Đem lụa đào lau thấm
Quý từng giọt máu thắm
Của một bậc hiền nhân
Tín hữu cũng chen chân
Nhặt nhánh cây cọng cỏ
Hốt lớp đất ướt đỏ
Có dính máu người hiền
Khiến lương dân đứng nhìn
Rất ngạc nhiên sửng sốt.
Không bỏ qua dịp tốt
Cha Đắc-Lộ đứng lên
Cha ứng khẩu giảng liền
Mấy lời khuyên tha thiết
Về ý nghĩa cái chết
Của thầy giảng An-rê
Về ơn phúc tràn trề
Của tình thương Thiên Chúa.
Đoàn giáo dân lệ ứa
Có mang sẵn quan tài
Họ tẩm liệm thi hài
Và máu đào quý giá
Rồi lời kinh cảm tạ
Vang trong gió chiều hôm
Như hương trầm ngát thơm
Bay về tôn nhan Chúa
Đêm trùm lên ruộng lúa
Thuyền xuôi ngả Hội An
Nhưng An-rê Phú Yên
Đã thắp lên ánh sáng.
Ôi người thật xứng đáng
Con của Mẹ Việt Nam
Từ đây đến ngàn năm
Sẽ không quên ngày ấy
Hai mươi sáu tháng bảy
Năm một sáu bốn tư (1644)
Dâng tiến Chúa nhân từ
Lễ đầu mùa nước Việt.
II. MỘT SỐ VIỆC XẢY RA SAU KHI THẦY AN-RÊ CHẾT (17)
LỬA CHÁY THÀNH CHIÊM
Thầy An-rê bị giết
Đã nên việc động trời
Dân chúng ở khắp nơi
Đều lắm lời kháo láo.
Việc càng thêm huyên náo
Vì liên tiếp ba ngày
Sau cái chết của thầy
Xảy ba lần hỏa hoạn.
Lửa tràn lan thị trấn
Lửa cháy chợ, cháy đình,
Cháy ngục thất, tư dinh,
Cháy phố phường, nhà cửa.
Từ đâu mà nổi lửa
Chẳng ai rõ, ai hay,
Có người bảo rằng đây
Giáo dân bày phù phép.
Nhưng phần đông miệng chép
Đây là việc trời làm
Oán trách lão quan tham
Đã giết người vô tội.
Lửa cháy thiêu, cháy rụi,
Lửa cháy vội, cháy mau,
Cháy sạch đường thương đau
Đã điệu người đi xử.
Lửa cháy hung, cháy dữ,
Cháy sạch đường hôm qua.
Chỉ trừ lại một nhà
Lại là nhà người lính
Rất hung hăng nóng tính
Thật ngạo ngược quá tay
Đã muốn đòi phanh thây
Sau khi thầy giảng chết.
Bây giờ lửa đốt hết
Anh mới biết tội mình
Tức khắc anh van xin
Người mà anh giết hại.
Thật lạ lùng ngang trái
Giữa đám cháy điêu tàn
Nhà anh được bình an
Như lời anh cầu khẩn.
NGƯỜI HOA TIÊU VÔ HÌNH
Còn thi hài thầy giảng
Cha Đắc-Lộ giữ nguyên
Cha vẫn để trong thuyền
Đợi ngày đem gởi gắm.
Sang đến đầu tháng tám
Có tàu Bồ Đào Nha
Sắp nhổ neo đi xa
Vội vàng cha nhờ họ
Chở giùm quan tài đó
Về dòng Tên Áo-môn.
Sẵn có lòng kính tôn
Các thương gia hoan hỷ.
Còn riêng phần giáo sĩ
Giữ thủ cấp An-rê
Mong sớm hôm cận kề
Thoả tấm lòng quý mến.
Khi tàu ra giữa biển
Được gió thuận buồm xuôi
Người hoa tiêu mừng vui
Cho tàu đi đúng hướng.
Nhưng tàu như trở chứng
Tự định hướng tìm phương
Theo hẳn một con đường
Chẳng ai tường, ai rõ.
Tàu bất chấp ngược gió
Vẫn cứ đi dễ dàng.
Về tới bến bình an
Mới hay rằng dạo ấy
Trên đường tàu quen chạy
Có bọn cướp ngang tàng
Những chiếc tàu đi ngang
Có gì thường mất sạch
Chủ tàu và hành khách
Nghe vậy hết sức mừng
Ai nấy đều nghĩ rằng
Thầy An-rê phù hộ.
ĐƯỢC ĐÓN TIẾP TẠI ÁO-MÔN
Tin này loan khắp phố
Người trăm họ xôn xao
Càng thêm lòng ước ao
Đón thi hài thầy giảng.
Khắp Áo-môn bừng sáng
Đèn hoa kết đầy đường
Chuông rộn rã du dương
Chào mừng thi thể ấy.
Cuộc khải hoàn lộng lẫy
Đón rước thật chỉnh tề
Đưa thi thể An-rê
Về nhà thờ Đức Mẹ.
CHẾ NGỰ THÁI BÌNH DƯƠNG
Trong khi đó giáo sĩ
Còn liên lỉ âm thầm
Làm việc tại Việt Nam
Được một năm trôi chảy.
Năm sau đầu tháng bảy
Ngậm ngùi cảnh biệt ly
Cha bị đuổi ra đi
Phải xuống tàu thật gấp.
Tay cha ôm thủ cấp
Của thầy giảng An-rê
Mà đôi mắt trông về
Việt Nam rất yêu dấu.
Bỗng Thái Bình nổi bão
Dậy sóng gió kinh hồn
Như chấn động càn khôn
Các cột buồm gãy mất.
Người hoa tiêu hoa mắt
Các thủy thủ ngã lòng
Nhưng giáo sĩ cậy trông
Xin An-rê cứu chữa
Thủ cấp thầy để giữa
Chung quanh mọi người quỳ
Miệng khấn hứa thầm thì
Rồi cầu kinh Đức Mẹ.
Kinh cầu còn đang kể
Sóng gió đã yên hàn
Ai nấy được bình an
Lòng tạ ơn khôn xiết.
Về Áo-môn mới biết
Lúc họ thoát hiểm nguy
Cũng gần chỗ họ đi
Hai chiếc tàu bị đắm :
Bão nhận chìm thê thảm
Cuốn mất cả tăm hơi,
Chỉ sống sót mấy người
Về ngậm ngùi kể lại.
ĐỤC ĐÁ VÁ TÀU
Qua những ngày chờ đợi
Đến tháng hai năm sau (1646)
Cha Đắc-Lộ đáp tàu
Đi Rô-ma báo cáo
Về công việc truyền giáo
Phát triển ở nước ta
Để xin Đức Thánh Cha
Gởi các vị Giám mục
Tới chăm nom coi sóc
Và tiếp tục công trình.
Tàu cha đang lênh đênh
Theo gió lành biển lặng
Bỗng dưng đâm thật mạnh
Vào một núi đá ngầm
Bị lủng cả dưới hầm
Gỗ nổi lên mặt nước.
Tàu kẹt không ra được
Mọi người mặt tái xanh
Cuống quýt lo dọn mình
Xin chết lành trong Chúa.
Giáo sĩ khuyên vững dạ
Cầm thủ cấp An-rê
Cha nói nhỏ thầy nghe
Xin cứu nguy thoát chết.
Tức khắc tàu khỏi kẹt
Và lại tiếp tục đi
Bình an chẳng việc gì
Cứ theo lời thủy thủ
Ván đóng tàu đã cũ
Có ghép gỗ thêm nhiều
Phần gỗ nổi lều bều
Chắc chỉ là lớp vỏ.
Lúc tàu về bến đỗ
Kéo lên cạn sửa sang
Ai nấy mới bàng hoàng :
Lủng tang hoang dưới đáy.
Xưa nay chưa từng thấy :
Đá đục lấy ván tàu
Rồi tách khối đá đầu
Vá chặt đâu vào đấy.
Ai ai nhìn thấy vậy
Cũng rất đỗi ngạc nhiên
Riêng hành khách được yên
Kể rằng trong nguy biến
Họ đã cùng cầu nguyện
Với thầy giảng An-rê.
TẠI CHÂU ÂU
Hành trình dài lê thê
Sau bảy năm đằng đẵng
Thủ cấp của thầy giảng
Mới về tới Rô-ma (1652)
Được giữ như ngọc ngà
Tại nhà Bề trên Cả. (18)
Cha Đắc-Lộ cũng đã
Nhờ người họa hình thầy
Kèm tiểu sử in ngay
Trình bày cho thế giới.
Cho đến khi cha tới
Thủ đô Pháp : Ba-lê (1653)
Danh thầy giảng An-rê
Đã được nhiều người biết.
Có những người ốm liệt
Chữa chạy đã lâu ngày
Họ cầm ảnh của thầy
Cầu xin và khỏi bệnh.
Hồ sơ xin phong thánh
Cho thầy giảng An-rê
Từ Áo-môn gởi về
Đang chờ Tòa Thánh xét. (19)
CÁC BẠN CỦA ANRÊ TẠI VIỆT NAM
Dưới bầu trời nước Việt
Sau cái chết của thầy
Đoàn thầy giảng mọi ngày
Đã đầy mười hai vị.
Cùng một lòng một ý
Làm chứng cho Giê-su
Bảy vị bị ở tù
Bị chặt chân một ngón.
Còn hai người anh lớn
Là I-nhã thuở nào
Và Vinh-sơn anh hào
Đúng một năm sau đó (20)
Cũng bị quan xử tử.
TỪ ĐÓ HỘI THÁNH VIỆT NAM PHÁT TRIỂN MẠNH
Máu đổ vì Phúc Âm
Cho hạt giống nảy mầm
Khắp trời nam nước Việt.
Bao nhiêu người oanh liệt
Sống chết vì đức tin :
Một trăm ba chục nghìn
Đã hy sinh vì đạo.
Từ nhi đồng, phụ lão,
Từ thầy giáo, học trò,
Đến thợ thuyền, nông phu,
Thương gia và y sĩ,
Cả các bà, các chị,
Cả cụ lý, thầy cai,
Cả bà mẹ mang thai,
Quan quân và lính ngục,
Cả thầy dòng, Giám mục,
Cả cha xứ, ông trùm,
Người giúp việc nhà chung,
Nữ tu và thầy giảng,
Tất cả đều xứng đáng
Những nhân chứng tình yêu.
Người hy sinh càng nhiều
Người tin theo càng lắm
Cho quê hương tươi thắm
Cho Hội Thánh vững bền
Bốn trăm năm xây trên
Máu anh hùng tử đạo
Từ một miền truyền giáo
Nay Hội Thánh Việt Nam
Đã cùng nghĩ cùng làm
Với anh em thế giới.
LỜI KẾT
ta đi phấn khởi
Mở lối bởi tiền nhân
Nén hương lòng tri ân
Tấm bia lòng ghi khắc.
Sau Phan-sinh xứ Bắc (21)
Đây An-rê Phú Yên
Là người Việt đầu tiên
Đã trung kiên làm chứng
Cho lòng ta tin vững
Cho hy vọng ta vươn
Cho đậm nét yêu thương
Cho quê hương ngời sáng.
Nguyện tiếp tay xứng đáng
Với sự nghiệp người hiền
Gương mẫu thanh thiếu niên
Và giảng viên giáo lý
Xin thành tâm quyết chí
Noi gương người khiêm nhu
Yêu mến Chúa Giê-su
Đến hiến dâng đời sống.
CHÚ THÍCH
(1) Các vị vua cuối thời nhà Lê bị hai dòng tộc lấn quyền, nước ta bị chia làm hai miền ở hai phía sông Gianh, mỗi bên thuộc một gia tộc được phong tước "vương"(quen gọi là "chúa"), miền Bắc thuộc quyền Chúa Trịnh, miền Nam thuộc quyền Chúa Nguyễn, hai bên đánh nhau nhiều lần. Về mặt đạo, miền Bắc được gọi là Xứ Bắc hay Đàng Ngoài, miền Nam được gọi là Xứ Nam hay Đàng Trong.
(2) Mằng Lăng : Một giáo xứ thuộc giáo phận Qui Nhơn. Nhà thờ Mằng Lăng nằm ở phía bắc thị xã Tuy Hòa (Phú Yên) 30 km, cách quốc lộ 2 km về phía đông, bên hữu ngạn sông Cái.
(3) Sơn Chà : Một ngọn núi ở Mằng Lăng.
(4) Văn Thánh : Chỗ đất trống trên sườn núi A-mang tại Mằng Lăng trước kia có đền thờ Đức Khổng Tử. Cánh đồng rộng phía đó được gọi là cánh đồng Văn Thánh.
(5) Cha A-lịch-sơn Đắc-Lộ (1591-1660) : Giáo sĩ dòng Tên, quê ở lãnh địa A-vi-nhông của Tòa Thánh (lãnh địa này nằm trên đất Pháp), truyền giáo tại Việt Nam từ 1624-1645. Cha đã giúp hoàn thành chữ quốc ngữ. Cuối đời, cha đi truyền giáo tại BaTư và chết ở đó.
(6) Dinh Trấn biên : Quân ta tới đâu đều lập đồn trấn giữ biên giới, dinh quan Trấn thủ gọi là dinh Trấn biên.
(7) Dinh Trấn biên của vùng Phú Yên lúc đó được đặt tại thôn Hội Phú, cách nhà thờ Mằng Lăng chừng 1 km, chỗ xây thành quách xưa, nay được gọi là Thành cũ.
(8) Mấy tháng sau thánh lễ rửa tội của An-rê, cha Đắc-Lộ đi Phi-líp-pin và Áo-môn một thời gian. Áo-môn (hay Ma-cao) là một thành phố trên bờ biển Trung Quốc, lúc đó thuộc quyền người Bồ Đào Nha, có nhà thờ chánh tòa và nhiều cơ sở tôn giáo.
(9) Cha Đắc-Lộ đặt trụ sở hoạt động tại Đà Nẵng và Hội An, mỗi nơi đều có nhà thờ chung cho giáo dân và nhà riêng cho các cha và các thầy.
(10) Trưởng đoàn thầy giảng là I-nhã, một người học thức cao, xin thôi làm quan để theo cha Đắc-Lộ và thầy I-nhã hướng dẫn các thầy theo tinh thần tu đức của thánh I-nhã Lô-dô-la, là vị thánh sáng lập dòng Chúa Giêsu (dòng Tên).
(11) Công Thượng Vương còn gọi là Chúa Thượng, tên thật là Nguyễn Phúc Lan. Ông là vị vương thứ ba của nhà Nguyễn, sau Tiên vương Nguyễn Hoàng và Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên. Ông cai trị từ năm 1635-1648.
(12) Tống thị, hay "Người đàn bà họ Tống" tức là bà Tống Thị Toại, vợ của ông Nguyễn Phúc Kỳ là anh ruột Nguyễn Phúc Lan. Sau khi ông Kỳ chết, bà lén lút sống như vợ của ông Lan là em chồng bà. Để tránh khỏi bị phanh phui những chuyện mờ ám, bà đã gây ra một cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn lần thứ tư (1648) và gây náo loạn phủ Công Thượng Vương. (xem "Người chứng thứ nhất", trang 109-113, báo Văn Đàn số 48, trang 8).
(13) Tức là Cha A-lịch-sơn Đắc-Lộ.
(14) Ông Nghè Bộ hay Ông Bộ là tiếng người bình dân dùng để gọi chức cai bạ (Cai bộ). Ông Cai bạ tỉnh Quảng Nam này tên gì sách không ghi lại. Tuy ông chỉ giữ một chức nhỏ dưới quyền quan Trấn thủ nhưng có lẽ quan Trấn thủ quá bận việc quân sự nên ông ta được dịp lộng hành. (Người chứng thứ nhất, 116-117).
(15) Thanh Chiêm là dinh Trấn biên của tỉnh Quảng Nam, cách Hội An chừng 10 km ngược dòng sông.(Người chứng thứ nhất, 121-124).
(16) Gia-tô : tức là "Giê-su", theo cách đọc hồi xưa.
(17) Chỉ có những sự kiện được Tòa Thánh công nhận là một phép lạ, ta mới được gọi là phép lạ đúng nghĩa. Những sự kiện sau cái chết của thầy An-rê chưa được Tòa Thánh công nhận, chúng ta chỉ nhắc lại như những kỷ niệm trìu mến về thầy An-rê.
(18) Nhà Bề trên Cả dòng Tên. (Người chứng thứ nhất, 190-192).
(19) Hồ sơ xin phong thánh cho thầy giảng An-rê đã được thiết lập từ 1645, được tổng kết năm 1901 (Người chứng thứ nhất, 207-215). Sắc lệnh của ĐGH Urbanô VIII cấm chỉ mọi việc tôn sùng công cộng đối với những nhân vật không được phong chân phước hay phong hiển thánh. Đối với một tôi tớ Chúa, đang được điều tra để phong thánh cũng thế, không được tôn sùng công cộng. Tôn sùng công cộng nghĩa là có người nhân danh Hội Thánh (như linh mục v.v…) đứng ra tổ chức các việc : cầu kinh, rước, trưng bày ảnh tượng trong nhà thờ v.v… Còn những việc các giáo dân tự động có sáng kiến tỏ lòng tôn kính đối với một tôi tớ Chúa, dù là tụ tập đông người, mà không có sự tham dự của giáo quyền, thì không phải là tôn sùng công cộng. (Xem các chi tiết giáo luật trích lại trong Người chứng thứ nhất, 215-216).
(20) Ngày 26-7-1645
(21) Phan-sinh, tức Phanxicô, là một giáo dân ở Đàng Ngoài, giúp việc cho một vị quan lớn trong phủ Chúa Trịnh. Vì Phan-sinh nhất quyết tin thờ Chúa Giêsu nên bị vị quan ấy giết chết năm 1630. Tiếc rằng ta không biết được gì nhiều về Phan-sinh. (Người chứng thứ nhất, 24 và 223).