Phép Lạ và Sự Cứng Lòng.

Ít là một lần, tôi được nghe giảng trong nhà thờ rằng phép lạ vẫn xảy ra với chúng ta ngày nay mà chúng ta không biết. Tôi cũng đã có dịp được trình bày trên diễn đàn này rằng nếu chúng ta hiểu phép lạ theo nghĩa ‘bình dân’ một chút, nghĩa là phép lạ không cần phải là một sự kiện to lớn, mà chỉ là một điều gì đó mà chúng ta không thể giải thích được bằng sự hiểu biết tự nhiên hoặc sự hiểu biết khoa học, thì quả thực phép lạ vẫn còn xảy ra ngày nay mà chúng ta không biết, hay không mấy quan tâm.

Có một điều mà mọi người trong chúng ta đều biết là một sự kiện muốn được coi là phép lạ phải được Giáo Hội xác nhận. Là một giáo dân, tôi phải tuân theo giáo luật, phải tin tưởng, nghe theo, và làm theo sự hướng dẫn của các đấng chăn chiên. Tuy nhiên, tôi tin rằng có những sự kiện dù không được Giáo Hội xác nhận vẫn là phép lạ, bởi vì những sự kiện ấy không thể giải thích được bằng sự hiểu biết tự nhiên hay sự hiểu biết khoa học. Tôi tin rằng Giáo Hội có lý do chính đáng khi không xác nhận tất cả những sự kiện ‘nho nhỏ’ này là phép lạ. Có thể Giáo Hội để chúng ta thấy mà tin, nghe mà tin, vì đó mới thực là lòng tin tuyệt đối nơi Thiên Chúa, lòng tin không cần phải được xác nhận. Hơn nữa, nếu phải xác nhận tất cả những sự kiện ‘không thể giải thích được’ là phép lạ thì phép lạ quá phổ biến, không còn quý hiếm nữa. Theo ý kiến cá nhân tôi thì những phép lạ ‘bình dân’ hay ‘nho nhỏ’ này vẫn xảy ra với chúng ta ngày nay để khẳng định một điều là Thiên Chúa vẫn ở cùng chúng ta và vẫn quan phòng tới chúng ta.

Đối với những người chỉ có niềm tin khoa học, hay niềm tin tự nhiên, thì họ sẽ cho rằng những điều mà tôi tin là phép lạ chỉ là một sự tình cờ, một sự ngẫu nhiên. Thế nhưng không ít người trong chúng ta, những người có niềm tin tôn giáo, có niềm tin nơi Thiên Chúa, cũng có khuynh hướng đòi hỏi một phép lạ phải được giải thích, phải được xác nhận. Khi tôi kể về một kinh nghiệm mà tôi đã trải qua và không thể giải thích được ngoài điều mà tôi tin là phép lạ, hầu như tất cả những người nghe chỉ mỉm cười, có người còn nói rằng “Phép lạ đâu có nhiều vậy”.

Tôi tin rằng chính vì sự cứng lòng mà chúng ta không thấy được những ‘phép lạ nho nhỏ’ vẫn xảy ra với chúng ta ngày nay để chứng tỏ sự quan phòng của Thiên Chúa đối với chúng ta, để chứng tỏ rằng Thiên Chúa vẫn ở cùng chúng ta. Và khi chúng ta bớt cứng lòng thì chúng ta sẽ thấy rằng ngoài một số người đặc biệt được Chúa chọn để thấy, để hưởng phép lạ, Chúa vẫn làm phép lạ cho mọi người trong chúng ta. Những phép lạ đó chính là những sự việc mà chúng ta không thể giải thích được với sức hiểu của chúng ta, khoa học cũng không thể giải thích được dù tiến bộ đến đâu.

Nhân vừa được xem xong cuốn "DVD Tượng Mẹ chảy dầu thơm, tượng Chúa chảy mầu máu tại Inala, Brisbane, Úc châu" do Vietcatholic vừa cho phát hành, tôi thực như được chứng kiến tận mắt biến cố này. Riêng cá nhân tôi khi xem những hình ảnh này, tôi muốn bật khóc với những người đã khóc khi họ được chiêm ngưỡng những sự việc không thể giải thích được đã xảy ra ở một Giáo xứ Việt Nam Bisbane nhỏ bé thuộc nước Úc. Trong số những người khóc này có cả những người không phải là Việt Nam, có cả những người không phải là Công giáo. Vậy mà chúng ta, người Công giáo, vẫn chờ được xác nhận. Vậy mà chúng ta vẫn đem ‘máu’ và ‘dầu’ đi giảo nghiệm. Vậy mà chúng ta vẫn nghi ngờ rằng ai đó đã ngụy tạo. Tôi tin rằng, với tiến bộ của khoa học ngày nay, không ai u tối đến mức độ ngụy tạo những sự kiện như vậy. Kẻ ngụy tạo, nếu có, chính là kẻ phá đạo chứ không phải là người muốn mở rộng Nước Chúa.

Tôi xin được kể thêm một kinh nhiệm cá nhân mà tôi tin là phép lạ. Khi còn tập trung cải tạo ở trại Suối Máu, Biên Hòa, số anh em Sĩ quan Công giáo chúng tôi thường tổ chức đọc kinh, cầu nguyện vào những ngày Chúa nhật và những ngày lễ lớn. Để khỏi làm phiền những anh em không phải là Công giáo, và cũng để tránh sự quan sát của cán bộ công an coi trại đang gác trên chòi canh, chúng tôi giả bộ đi vệ sinh, kẹp theo mấy cái ghế xếp tự tạo, chỉ to vừa đủ ngồi, tập trung tại bên trái nhà vệ sinh trống trải nhưng khá lớn, được xây dựng từ chế độ cũ, khuất sự quan sát của cán bộ công an trong chòi canh ở trên cao, bên phải nhà vệ sinh. Ngay sau nhà vệ sinh là một hố phân lộ thiên để chứa phân trong những ngày cuối tuần hoặc lễ lạc mà chúng tôi không xuất trại để đổi thùng được. Đương nhiên là mùi hôi thối nồng nặc, nhưng có lẽ nhờ vậy mà công an gác không nghi ngờ sự tập trung của chúng tôi. Bạn tôi, người điều khiển chương trình đã từng tham dự nhiều vào công việc của giáo xứ địa phương của anh trước khi nhập ngũ, nên anh rất rành các thủ tục, lễ nghi, và bằng cách nào đó, anh đã mang được Mình thánh Chúa vào trong trại; khi nào dồi dào thì mỗi người chúng tôi được rước trọn Mình thánh, khi khan hiếm thì chia nhau, có khi chỉ bằng đầu tăm.

Tối hôm ấy tôi đang ngồi coi TV trên hội trường thì một người bạn tôi tới, nói nhỏ: “Bác không nhớ hôm nay lễ Đức Bà hồn xác lên trời à?” Thế là tôi xếp ghế, cắp vào nách, ra điểm hẹn. Thấy tôi tới trễ, anh điều khiển cười, bảo tôi: “Phạt bác vào lấy lon nước cho anh em uống”. Tôi cũng cười: “Tuân lệnh”. Rồi tôi quay trở vào ‘lán’ của tôi, ở cách nhà vệ sinh chỉ chừng mười mét, chỗ tôi nằm là đầu lán, cửa ra vào hướng ngay ra nhà vệ sinh.

Tôi cũng xin trình bày rằng ‘lán’ hay trại ở đây chính là trại giam tù nhân từ thời chế độ cũ, làm theo kiểu Mỹ, vách bằng gỗ đóng xếp chờm lên nhau. Để thoáng gió, chúng tôi gỡ mấy miếng ván phía dưới và chống lên, thế là có thêm một khoảng trống để chứa đồ ở đầu nằm, vì mỗi người chỉ được chia một khoảng trống chừng bốn gang tay người lớn, khi ngủ thì bỏ đồ dùng cá nhân luôn trong mùng, sáng dậy thì cuốn chiếu lại và để đồ dùng cá nhân lên trên, ngay đầu nằm. Tôi nằm đầu lán nên khoảng chứa đồ phụ bên ngoài dọc theo hông nằm và lớn hơn. Khi đi lao động ngoài trại, chúng tôi thường góp nhặt những cành cây đem về làm củi, nấu ăn thêm. Bên hông nằm của tôi, dưới mấy tấm ván chống lên là một chồng củi khá lớn.

Tôi đang bước nhanh vào chỗ nằm, bỗng khựng lại. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn điện màu vàng nhỏ watt, tôi trông thấy một khúc củi to hơn ngón chân cái người lớn, dài khoảng hai gang tay, đang lung lay gần đống củi của tôi. Trời không gió lớn. Tôi đến gần và nhận ra một con rắn đầu đuôi bằng nhau đang thật chậm chạp trườn mình vào đống củi của tôi. Tôi vội lấy cái thùng tưới rau gần đó đập chết nó. Anh em bu lại, nhìn con rắn nhiều khoang, nhiều màu sắc, và nhận ra nó là loại rắn trun, một loại rắn thật chậm chạp nhưng thật độc, cắn không thuốc chữa.

Mọi người nhìn tôi và nhìn nhau như cùng một ý nghĩ: “Nếu hôm nay không phải ngày lễ Đức Bà hồn xác lên trời? Nếu chúng tôi không tập trung đọc kinh, cầu nguyện cạnh nhà vệ sinh? Nếu tôi không tới trễ để bị phạt lấy lon nước cho anh em uống?”

Cho đến ngày hôm nay, mỗi khi nhớ lại tôi vẫn rùng mình. Nếu tôi bị con rắn đó cắn trong đêm, hay do sờ soạng lấy củi nấu thêm để bồi dưỡng, thì mọi người sẽ cho rằng đó chỉ là một sự tình cờ mà thôi, không ai cho rằng nhờ ‘phép lạ’, nhờ sự quan phòng của Thiên Chúa, mà tôi đã tránh được cái sự tình cờ chết người ấy.

Lạy Chúa! Xin Chúa cho chúng con bớt cứng lòng để trong mỗi chúng con có niềm cậy trông vào Chúa mạnh mẽ hơn, để trong mỗi chúng con có sự phó dâng hoàn toàn hơn.