CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN. C -----TÔI LÀ THÂN CẬN CỦA NHỮNG AI?
(Lc 10,25-37)
Thưa quý vị,
Tôi viết bài suy niệm khi đang ngồi trong phòng đợi của một chuyến bay công tác. Chuyến bay trễ tới ba giờ; nếu biết trước chuyện này thì tôi đã ở nhà, nhấm nháp cà phê, ăn sáng và đọc báo. Có thể nhờ tờ báo mà tôi được thêm chút tài liệu cho bài suy gẫm về người Samari nhân hậu hôm nay. Tôi chỉ biết về sự chậm trễ khi ra đến phi trường, hỏi phòng bán vé, thì người ta mới cho hay. Tôi bực mình với cô nhân viên. Nhưng nghĩ lại thì đâu phải lỗi ở cô ta, thế là tôi phải ngồi ở phòng đợi, trên một cái ghế nhựa hết sức bất tiện và kê giấy trên đùi mà viết. Câu chuyện về người Samari nặng ký hơn những phiền toái hiện giờ và chẳng có chi liên quan đến sự thoải mái của chuyến bay và các hành khách. Nhưng lại nhắc nhớ cho chúng ta về thái độ của mình đối với bạn đồng hành. Chúng ta là ai? Cư xử như thế nào trong hành trình cuộc đời? Dầu sao thì tất cả những người sinh ra trên trái đất đều là lữ hành và dụ ngôn hôm nay liên quan trực tiếp đến mọi linh hồn. Nó là tâm điểm hành động của đức tin công giáo.
Người Samari nhân hậu! Cụm từ rất phổ thông trong Hội Thánh. Khi ai đó được gán cho tước hiệu này thì mọi người đều hiểu ngay ông ta, bà ta, cô ta… có lòng tốt đối với tha nhân, nhất là với những kẻ sa cơ lỡ bước, ngay cả trường hợp phải trả giá bằng tài sản của mình. Tuy nhiên trong xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu, cụm từ này có nghĩa khác. Người Samari không phải là kẻ làm điều lành, nhưng là cái túi hận thù, ghen ghét. Ngược lại dân Samari cũng coi người Do Thái như vậy. Hai bên khinh dể lẫn nhau. Cho nên các thính giả Do Thái khi nghe Chúa Giêsu kể dụ ngôn, họ hiểu ngay ngụ ý của Ngài mà không cần giải thích. Đối với họ, đây không phải là chuyện dễ nghe, mà là một cú sốc, có tác dụng cảnh tỉnh về tình trạng tồi tệ của hai dân tộc. Kinh Thánh đã nhiều lần đề cập đến vấn đề yêu thương tha nhân, hàng xóm láng giềng, nhưng đã bị thẩm quyền đền thờ bóp méo nội dung, thậm chí còn đưa ra những giải thích trái ngược.
Hôm nay một luật gia Do Thái muốn “hỏi thử” Đức Giêsu phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp? Dĩ nhiên ông ta quá rõ những điều truyền dạy. Ông ta thông thạo Kinh Thánh mà! Luca đã nói điều đó: Một thầy thông luật. Ông ta chỉ muốn sát hạch xem Chúa có thuộc bài không? Đó là thái độ trịch thượng của giới trí thức lúc bấy giờ đối với Chúa Giêsu. Tương tự như chúng ta ngày nay, đối với những kẻ thấp cổ bé miệng. Câu hỏi của ông ta căn bản là: Cốt yếu lề luật là gì? Kiến thức hay hành động? Sự vật hay con người? Câu trả lời ông muốn là tập trung lòng yêu mến, kính trọng vào Thiên Chúa duy nhất. Từ đấy nảy sinh tất cả những lễ nghi và thói tục mà người Do Thái đạo đức phải tuân giữ để thờ phượng Thiên Chúa. Ông ngầm ý hành vi của Chúa Giêsu đối với những người tội lỗi trong xã hội là sai lầm. Dĩ nhiên ông cũng biết đến lệnh truyền phải yêu người thân cận như chính mình, nhưng nội dung của lệnh truyền đó đã bị bóp méo. Câu trả lời của Chúa làm ông ngỡ ngàng. Ngài không chỉ tập trung vào Thiên Chúa mà còn vào con người nữa: “Ông trả lời đúng lắm, cứ làm như vậy thì sẽ được sống”.
Điều ông không nghĩ ra: Ai là người láng giềng? Bởi vì Kinh Thánh không chỉ rõ. Sách Lêvi viết: “Ngươi không được trả thù, ngươi không oán giận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình. Ta là Đức Chúa”. Sách Đệ nhị luật truyền: “Nghe đây hỡi Israel, Đức Chúa Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em hết dạ hết sức anh em.” Cho nên câu chuyện quoặt sang hướng khác: Ai là anh em tôi? Câu hỏi mang tính thời sự cả cho các tín hữu ngày nay và Hội Thánh hiện giờ. Nhưng để hiểu rõ, chúng ta hãy đặt nó vào bối cảnh của Phúc Âm. Luca mô tả hành trình Chúa Giêsu lên Giêrusalem. Trước hết, Chúa Giêsu sau khi hoàn tất công việc rao giảng ở Galilêa, công bố hiến chương Nước Trời. Người quyết định hướng về Giêrusalem: “Khi tới ngày Đức Giêsu được rước lên trời. Ngài nhất quyết đi lên Giêrusalem” (9,51). Luca cho thấy rõ Chúa Giêsu ý thức sứ mạng của mình và Ngài nhất định thi hành nó. Ngài sai các tông đồ và 72 môn đệ đi trước Ngài rao giảng trong các thành và làng mạc mà Ngài sẽ đến. Chúng ta suy niệm đoạn Phúc Âm này tuần trước. Các ông trở về, thành công lớn và Chúa Giêsu cảm tạ Chúa Cha về những mạc khải cho các môn đệ mà Ngài gọi là những kẻ bé mọn. Ngài chúc lành cho các ông (10,23). Đúng vào thời điểm này thì người luật gia thông thái xuất hiện hỏi Người về điều răn lớn. Chúa Giêsu chất vấn ngược lại vì ông ta là thầy dạy trong dân. Ông biết rõ điều mình hỏi. Tuy nhiên câu chuyện chuyển sang ngõ khác: Ai là anh em tôi? Như chúng ta thấy ở trên nó là vấn đề của kẻ lữ hành, của hết mọi người thời ấy cũng như bây giờ. Chúng ta hoàn toàn là các lữ khách trên trần gian. Vậy phải đối xử với nhau ra sao? Nhân hậu hay độc ác cùng người chính kiến và đối lập? Khi người thông luật hỏi ai là người thân cận, ông muốn Chúa Giêsu trả lời theo thói tục Do Thái: Dân tộc Israel, ngoài ra là thù địch. Chúa Giêsu không trả lời theo ý ông mà là một dụ ngôn hoàn toàn ngược lại. Nếu theo thói tục Do Thái thì hoá ra hạn chế bổn phận yêu mến của tôn giáo, như vậy làm hỏng hoặc phá hoại mệnh lệnh Thiên Chúa truyền cho nhân loại: Hãy yêu mến tha nhân như chính mìnhh. Chúa Giêsu muốn ông thông luật nhìn vào người Samari cho câu trả lời: Đừng hạn chế tình yêu vào một loại người nào để chu toàn lề luật, dù người đó là bạn hay thù theo chữ đỏ đền thờ. Hôm nay chúng ta cũng vậy, Chúa muốn chúng ta hành động tương tự như người Samari, không phân biệt có đạo hay vô thần, kẻ cùng lý tưởng hay khác tôn giáo, khác tư duy và khác lối sống. Chúng ta phải minh chứng được mình là con Thiên Chúa, Đấng làm mưa nắng trên người lành kẻ dữ, bằng lòng thương cảm hết mọi người, nhất là những kẻ thấp cổ bé miệng, chứ không phải chỉ những ai mình ưa thích. Cho nên vấn đề là chúng ta yêu thương thế nào chứ không phải loại người cần chúng ta giúp đỡ.
Khi ông luật gia muốn biết rõ định nghĩa của hai chữ “thân cận”, tức đối tượng yêu mến thì Đức Giêsu lại cho ông hay về chủ thể của lòng mến yêu, tức người yêu thương, chứ không phải kẻ được yêu thương. Người Samari là kẻ thi thố lòng yêu thương cho tha nhân, bất kể người đó là ai: Tây, Tàu, Nhật Bản, Do Thái hay Hy Lạp. Ngày nay chúng ta cũng phải như vậy, không được chọn lựa đối tượng yêu thương. Hoá ra theo quan điểm của Chúa Giêsu, thì thầy luật gia đặt sai câu hỏi. Ông muốn giới hạn lòng yêu mến: Xin Thầy chỉ cho tôi chính xác phải yêu mến tới đâu? Chúa Giêsu trả lời: Đừng hỏi thế, mà nên hỏi: Tôi phải yêu mến thế nào? Và lề luật Thiên Chúa dạy yêu mến thì không giới hạn! Như vậy câu hỏi không phải là: Ai là thân cận của tôi? Nhưng là: Tôi là thân cận của những ai? Câu trả lời quá hiển nhiên. Than ôi! Ngày nay chúng ta vẫn cứ lấn cấn như thầy thông luật. Chúa Giêsu nói rõ ý Ngài khi hỏi lại: Theo ý ông trong ba người đó, ai đã tỏ ra thân cận với người bị rơi vào tay kẻ cướp? Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông hãy đi và hãy làm như vậy”. Từ “láng giềng, thân cận” nói lên các tương quan của chúng ta. Thiên Chúa tạo dựng mỗi người trong tương quan với người khác. Vậy thì mọi người đều là láng giềng của nhau, bất kể không gian và thời gian. Chúng ta có liên hệ hữu cơ và mật thiết với kẻ khác. Đáp ứng tốt ơn gọi này là thực thi chương trình của Thiên Chúa và sự thăng tiến nhân loại.
Trên đường lên Giêrusalem, Đức Kitô dạy dỗ môn đệ nhiều điều, một trong các điều đó là tự nguyện lên Thành Thánh, nơi Ngài sẽ bị hành xích và tử nạn. Trong khi đi, nhiều lần Ngài nói rõ Ngài dâng hiến cuộc đời để phục vụ và yêu thương. Ngài cũng dạy các môn đệ như vậy: “Những ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta”. Dụ ngôn hôm nay cùng nhằm một nội dung. Người ta sẽ nhận ra người theo Chúa như thế nào? Đó là nhờ lối sống đầy thương cảm. Người theo Chúa thực sự sẽ đáp ứng tự phát những nhu cầu của tha nhân, không cần kiểm tra trước giai cấp, địa vị của họ, chẳng cần xét xem họ thuộc hạng người nào? Quần áo ra sao? Bằng cấp, vốn liếng thế nào? Quốc tịch, dung mạo, con cái ở đâu…? Miễn là họ thuộc diện người cần giúp đỡ. Đức tin trước khi được hệ thống hoá thành thần học, thành suy tư trừu tượng thì đã là một lối sống cụ thể, một kiểu mẫu hành động của các tín hữu. Xin đừng quên điểm này, kẻo đi vào vết xe đổ của hai vị Tư Tế và Lêvi. Thái độ tư tế và lêvi của chúng ta xem ra khá phổ biến. Chúng ta dựa vào một lý do nào đó để bỏ qua công việc bác ái yêu thương. Thí dụ, lý do kỷ luật tu viện, nhà Dòng, đức khó nghèo… để làm ngơ, không giúp đỡ người nghèo khổ. Chuyện này, trong lối sống của các vị tu sĩ và linh mục khá thường xuyên. Các vị hữu trách cũng hay la rầy bề dưới vì đã “quá rộng” tay bố thí cho những con cháu Cái Bang, sa cơ lỡ vận. Xin nhìn vào dụ ngôn hôm nay để tìm ra ý Chúa mà sống thực tình yêu thương chứ không chỉ đầu môi chóp lưỡi.
Bởi lẽ dụ ngôn nhấn mạnh về phương diện hành động chứ không phải lý thuyết. Lời Chúa luôn luôn mang phẩm chất giáo huấn. Chúng ta nghe đọc gương sáng người Samari nhân hậu trong bối cảnh thánh lễ Chúa nhật. Tạm thời chúng ta gạt sang một bên các công việc hàng ngày, những lo lắng gia đình, con cái, học hành… Chúng ta lắng nghe Lời Chúa và để tâm suy đi nghĩ lại. Những ai chấp nhận nó trong đức tin thì cũng giống như trong phép Thánh Thể, Chúa Giêsu hiện diện để đào tạo nhân cách chúng ta, ban cho nó những phẩm chất yêu thương của người con Chúa, theo kiểu người Samari nhân hậu. Thực ra dụ ngôn còn đi xa hơn nhiều. Nó ám chỉ Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, xót thương nhân loại đã bị Satan cướp bóc, đánh nhừ đòn, rồi vất nửa sống nửa chết bên vệ đường trần gian. Ngài ra tay cứu vớt, chữa lành các vết thương, rồi thiết lập Giáo Hội để tiếp tục chăm sóc. Như vậy người Samari nhân hậu mặc nhiên trở thành hình ảnh Chúa Chiên nhân lành, một hình ảnh đẹp đẽ của Đấng Cứu Thế.
Cho nên trong bài đọc 2, thánh Phaolô hết lời ca ngợi Chúa Giêsu, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo. Trong Người muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Đức Kitô là trung tâm của vũ trụ, là viên mãn của muôn loài, là sức mạnh của Thiên Chúa, và là nguồn ơn cứu độ nhân loại. Ngài xứng đáng những tước hiệu đó, do bởi lối sống của mình. Một lối sống tươi sáng đặc biệt, đầy yêu thương và bác ái. Tự hy sinh chịu chết để cứu vớt chúng ta. Bản chất của Ngài là yêu thương. Thánh Gioan đã tuyên bố Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu không thể không yêu. Chúa Giêsu là tình yêu vì Ngài là Thiên Chúa. Do đó dụ ngôn Ngài kể hôm nay mang tính chất đậm đà yêu thương và phát xuất từ trái tim Ngài. Chúng ta phải yên lặng chiêm ngắm và thờ lạy, biết ơn Đấng đã dạy chúng ta nhận ra nó. Nhất quyết đem thực hành trong cuộc sống cá nhân và xã hội. Dụ ngôn có phạm vi ứng dụng rộng rãi và luôn lôi cuốn người nghe. Tại sao nhân loại có những anh hùng vì yêu thương bác ái như mẹ Têrêsa thành Calcutta, thánh Maximilianô Kolbê, những Charles de Foucauld, cha Damien tông đồ cùi hủi? Dụ ngôn trả lời, bởi vì Thiên Chúa đã hành động như vậy và các linh hồn tuân giữ lời Ngài đều cư xử tương tự. Amen.
*** Dù xây chín cấp phù đồ, không bằng làm phúc giúp cho một người.
(Lc 10,25-37)
Thưa quý vị,
Tôi viết bài suy niệm khi đang ngồi trong phòng đợi của một chuyến bay công tác. Chuyến bay trễ tới ba giờ; nếu biết trước chuyện này thì tôi đã ở nhà, nhấm nháp cà phê, ăn sáng và đọc báo. Có thể nhờ tờ báo mà tôi được thêm chút tài liệu cho bài suy gẫm về người Samari nhân hậu hôm nay. Tôi chỉ biết về sự chậm trễ khi ra đến phi trường, hỏi phòng bán vé, thì người ta mới cho hay. Tôi bực mình với cô nhân viên. Nhưng nghĩ lại thì đâu phải lỗi ở cô ta, thế là tôi phải ngồi ở phòng đợi, trên một cái ghế nhựa hết sức bất tiện và kê giấy trên đùi mà viết. Câu chuyện về người Samari nặng ký hơn những phiền toái hiện giờ và chẳng có chi liên quan đến sự thoải mái của chuyến bay và các hành khách. Nhưng lại nhắc nhớ cho chúng ta về thái độ của mình đối với bạn đồng hành. Chúng ta là ai? Cư xử như thế nào trong hành trình cuộc đời? Dầu sao thì tất cả những người sinh ra trên trái đất đều là lữ hành và dụ ngôn hôm nay liên quan trực tiếp đến mọi linh hồn. Nó là tâm điểm hành động của đức tin công giáo.
Người Samari nhân hậu! Cụm từ rất phổ thông trong Hội Thánh. Khi ai đó được gán cho tước hiệu này thì mọi người đều hiểu ngay ông ta, bà ta, cô ta… có lòng tốt đối với tha nhân, nhất là với những kẻ sa cơ lỡ bước, ngay cả trường hợp phải trả giá bằng tài sản của mình. Tuy nhiên trong xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu, cụm từ này có nghĩa khác. Người Samari không phải là kẻ làm điều lành, nhưng là cái túi hận thù, ghen ghét. Ngược lại dân Samari cũng coi người Do Thái như vậy. Hai bên khinh dể lẫn nhau. Cho nên các thính giả Do Thái khi nghe Chúa Giêsu kể dụ ngôn, họ hiểu ngay ngụ ý của Ngài mà không cần giải thích. Đối với họ, đây không phải là chuyện dễ nghe, mà là một cú sốc, có tác dụng cảnh tỉnh về tình trạng tồi tệ của hai dân tộc. Kinh Thánh đã nhiều lần đề cập đến vấn đề yêu thương tha nhân, hàng xóm láng giềng, nhưng đã bị thẩm quyền đền thờ bóp méo nội dung, thậm chí còn đưa ra những giải thích trái ngược.
Hôm nay một luật gia Do Thái muốn “hỏi thử” Đức Giêsu phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp? Dĩ nhiên ông ta quá rõ những điều truyền dạy. Ông ta thông thạo Kinh Thánh mà! Luca đã nói điều đó: Một thầy thông luật. Ông ta chỉ muốn sát hạch xem Chúa có thuộc bài không? Đó là thái độ trịch thượng của giới trí thức lúc bấy giờ đối với Chúa Giêsu. Tương tự như chúng ta ngày nay, đối với những kẻ thấp cổ bé miệng. Câu hỏi của ông ta căn bản là: Cốt yếu lề luật là gì? Kiến thức hay hành động? Sự vật hay con người? Câu trả lời ông muốn là tập trung lòng yêu mến, kính trọng vào Thiên Chúa duy nhất. Từ đấy nảy sinh tất cả những lễ nghi và thói tục mà người Do Thái đạo đức phải tuân giữ để thờ phượng Thiên Chúa. Ông ngầm ý hành vi của Chúa Giêsu đối với những người tội lỗi trong xã hội là sai lầm. Dĩ nhiên ông cũng biết đến lệnh truyền phải yêu người thân cận như chính mình, nhưng nội dung của lệnh truyền đó đã bị bóp méo. Câu trả lời của Chúa làm ông ngỡ ngàng. Ngài không chỉ tập trung vào Thiên Chúa mà còn vào con người nữa: “Ông trả lời đúng lắm, cứ làm như vậy thì sẽ được sống”.
Điều ông không nghĩ ra: Ai là người láng giềng? Bởi vì Kinh Thánh không chỉ rõ. Sách Lêvi viết: “Ngươi không được trả thù, ngươi không oán giận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình. Ta là Đức Chúa”. Sách Đệ nhị luật truyền: “Nghe đây hỡi Israel, Đức Chúa Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em hết dạ hết sức anh em.” Cho nên câu chuyện quoặt sang hướng khác: Ai là anh em tôi? Câu hỏi mang tính thời sự cả cho các tín hữu ngày nay và Hội Thánh hiện giờ. Nhưng để hiểu rõ, chúng ta hãy đặt nó vào bối cảnh của Phúc Âm. Luca mô tả hành trình Chúa Giêsu lên Giêrusalem. Trước hết, Chúa Giêsu sau khi hoàn tất công việc rao giảng ở Galilêa, công bố hiến chương Nước Trời. Người quyết định hướng về Giêrusalem: “Khi tới ngày Đức Giêsu được rước lên trời. Ngài nhất quyết đi lên Giêrusalem” (9,51). Luca cho thấy rõ Chúa Giêsu ý thức sứ mạng của mình và Ngài nhất định thi hành nó. Ngài sai các tông đồ và 72 môn đệ đi trước Ngài rao giảng trong các thành và làng mạc mà Ngài sẽ đến. Chúng ta suy niệm đoạn Phúc Âm này tuần trước. Các ông trở về, thành công lớn và Chúa Giêsu cảm tạ Chúa Cha về những mạc khải cho các môn đệ mà Ngài gọi là những kẻ bé mọn. Ngài chúc lành cho các ông (10,23). Đúng vào thời điểm này thì người luật gia thông thái xuất hiện hỏi Người về điều răn lớn. Chúa Giêsu chất vấn ngược lại vì ông ta là thầy dạy trong dân. Ông biết rõ điều mình hỏi. Tuy nhiên câu chuyện chuyển sang ngõ khác: Ai là anh em tôi? Như chúng ta thấy ở trên nó là vấn đề của kẻ lữ hành, của hết mọi người thời ấy cũng như bây giờ. Chúng ta hoàn toàn là các lữ khách trên trần gian. Vậy phải đối xử với nhau ra sao? Nhân hậu hay độc ác cùng người chính kiến và đối lập? Khi người thông luật hỏi ai là người thân cận, ông muốn Chúa Giêsu trả lời theo thói tục Do Thái: Dân tộc Israel, ngoài ra là thù địch. Chúa Giêsu không trả lời theo ý ông mà là một dụ ngôn hoàn toàn ngược lại. Nếu theo thói tục Do Thái thì hoá ra hạn chế bổn phận yêu mến của tôn giáo, như vậy làm hỏng hoặc phá hoại mệnh lệnh Thiên Chúa truyền cho nhân loại: Hãy yêu mến tha nhân như chính mìnhh. Chúa Giêsu muốn ông thông luật nhìn vào người Samari cho câu trả lời: Đừng hạn chế tình yêu vào một loại người nào để chu toàn lề luật, dù người đó là bạn hay thù theo chữ đỏ đền thờ. Hôm nay chúng ta cũng vậy, Chúa muốn chúng ta hành động tương tự như người Samari, không phân biệt có đạo hay vô thần, kẻ cùng lý tưởng hay khác tôn giáo, khác tư duy và khác lối sống. Chúng ta phải minh chứng được mình là con Thiên Chúa, Đấng làm mưa nắng trên người lành kẻ dữ, bằng lòng thương cảm hết mọi người, nhất là những kẻ thấp cổ bé miệng, chứ không phải chỉ những ai mình ưa thích. Cho nên vấn đề là chúng ta yêu thương thế nào chứ không phải loại người cần chúng ta giúp đỡ.
Khi ông luật gia muốn biết rõ định nghĩa của hai chữ “thân cận”, tức đối tượng yêu mến thì Đức Giêsu lại cho ông hay về chủ thể của lòng mến yêu, tức người yêu thương, chứ không phải kẻ được yêu thương. Người Samari là kẻ thi thố lòng yêu thương cho tha nhân, bất kể người đó là ai: Tây, Tàu, Nhật Bản, Do Thái hay Hy Lạp. Ngày nay chúng ta cũng phải như vậy, không được chọn lựa đối tượng yêu thương. Hoá ra theo quan điểm của Chúa Giêsu, thì thầy luật gia đặt sai câu hỏi. Ông muốn giới hạn lòng yêu mến: Xin Thầy chỉ cho tôi chính xác phải yêu mến tới đâu? Chúa Giêsu trả lời: Đừng hỏi thế, mà nên hỏi: Tôi phải yêu mến thế nào? Và lề luật Thiên Chúa dạy yêu mến thì không giới hạn! Như vậy câu hỏi không phải là: Ai là thân cận của tôi? Nhưng là: Tôi là thân cận của những ai? Câu trả lời quá hiển nhiên. Than ôi! Ngày nay chúng ta vẫn cứ lấn cấn như thầy thông luật. Chúa Giêsu nói rõ ý Ngài khi hỏi lại: Theo ý ông trong ba người đó, ai đã tỏ ra thân cận với người bị rơi vào tay kẻ cướp? Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông hãy đi và hãy làm như vậy”. Từ “láng giềng, thân cận” nói lên các tương quan của chúng ta. Thiên Chúa tạo dựng mỗi người trong tương quan với người khác. Vậy thì mọi người đều là láng giềng của nhau, bất kể không gian và thời gian. Chúng ta có liên hệ hữu cơ và mật thiết với kẻ khác. Đáp ứng tốt ơn gọi này là thực thi chương trình của Thiên Chúa và sự thăng tiến nhân loại.
Trên đường lên Giêrusalem, Đức Kitô dạy dỗ môn đệ nhiều điều, một trong các điều đó là tự nguyện lên Thành Thánh, nơi Ngài sẽ bị hành xích và tử nạn. Trong khi đi, nhiều lần Ngài nói rõ Ngài dâng hiến cuộc đời để phục vụ và yêu thương. Ngài cũng dạy các môn đệ như vậy: “Những ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta”. Dụ ngôn hôm nay cùng nhằm một nội dung. Người ta sẽ nhận ra người theo Chúa như thế nào? Đó là nhờ lối sống đầy thương cảm. Người theo Chúa thực sự sẽ đáp ứng tự phát những nhu cầu của tha nhân, không cần kiểm tra trước giai cấp, địa vị của họ, chẳng cần xét xem họ thuộc hạng người nào? Quần áo ra sao? Bằng cấp, vốn liếng thế nào? Quốc tịch, dung mạo, con cái ở đâu…? Miễn là họ thuộc diện người cần giúp đỡ. Đức tin trước khi được hệ thống hoá thành thần học, thành suy tư trừu tượng thì đã là một lối sống cụ thể, một kiểu mẫu hành động của các tín hữu. Xin đừng quên điểm này, kẻo đi vào vết xe đổ của hai vị Tư Tế và Lêvi. Thái độ tư tế và lêvi của chúng ta xem ra khá phổ biến. Chúng ta dựa vào một lý do nào đó để bỏ qua công việc bác ái yêu thương. Thí dụ, lý do kỷ luật tu viện, nhà Dòng, đức khó nghèo… để làm ngơ, không giúp đỡ người nghèo khổ. Chuyện này, trong lối sống của các vị tu sĩ và linh mục khá thường xuyên. Các vị hữu trách cũng hay la rầy bề dưới vì đã “quá rộng” tay bố thí cho những con cháu Cái Bang, sa cơ lỡ vận. Xin nhìn vào dụ ngôn hôm nay để tìm ra ý Chúa mà sống thực tình yêu thương chứ không chỉ đầu môi chóp lưỡi.
Bởi lẽ dụ ngôn nhấn mạnh về phương diện hành động chứ không phải lý thuyết. Lời Chúa luôn luôn mang phẩm chất giáo huấn. Chúng ta nghe đọc gương sáng người Samari nhân hậu trong bối cảnh thánh lễ Chúa nhật. Tạm thời chúng ta gạt sang một bên các công việc hàng ngày, những lo lắng gia đình, con cái, học hành… Chúng ta lắng nghe Lời Chúa và để tâm suy đi nghĩ lại. Những ai chấp nhận nó trong đức tin thì cũng giống như trong phép Thánh Thể, Chúa Giêsu hiện diện để đào tạo nhân cách chúng ta, ban cho nó những phẩm chất yêu thương của người con Chúa, theo kiểu người Samari nhân hậu. Thực ra dụ ngôn còn đi xa hơn nhiều. Nó ám chỉ Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, xót thương nhân loại đã bị Satan cướp bóc, đánh nhừ đòn, rồi vất nửa sống nửa chết bên vệ đường trần gian. Ngài ra tay cứu vớt, chữa lành các vết thương, rồi thiết lập Giáo Hội để tiếp tục chăm sóc. Như vậy người Samari nhân hậu mặc nhiên trở thành hình ảnh Chúa Chiên nhân lành, một hình ảnh đẹp đẽ của Đấng Cứu Thế.
Cho nên trong bài đọc 2, thánh Phaolô hết lời ca ngợi Chúa Giêsu, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo. Trong Người muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Đức Kitô là trung tâm của vũ trụ, là viên mãn của muôn loài, là sức mạnh của Thiên Chúa, và là nguồn ơn cứu độ nhân loại. Ngài xứng đáng những tước hiệu đó, do bởi lối sống của mình. Một lối sống tươi sáng đặc biệt, đầy yêu thương và bác ái. Tự hy sinh chịu chết để cứu vớt chúng ta. Bản chất của Ngài là yêu thương. Thánh Gioan đã tuyên bố Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu không thể không yêu. Chúa Giêsu là tình yêu vì Ngài là Thiên Chúa. Do đó dụ ngôn Ngài kể hôm nay mang tính chất đậm đà yêu thương và phát xuất từ trái tim Ngài. Chúng ta phải yên lặng chiêm ngắm và thờ lạy, biết ơn Đấng đã dạy chúng ta nhận ra nó. Nhất quyết đem thực hành trong cuộc sống cá nhân và xã hội. Dụ ngôn có phạm vi ứng dụng rộng rãi và luôn lôi cuốn người nghe. Tại sao nhân loại có những anh hùng vì yêu thương bác ái như mẹ Têrêsa thành Calcutta, thánh Maximilianô Kolbê, những Charles de Foucauld, cha Damien tông đồ cùi hủi? Dụ ngôn trả lời, bởi vì Thiên Chúa đã hành động như vậy và các linh hồn tuân giữ lời Ngài đều cư xử tương tự. Amen.
*** Dù xây chín cấp phù đồ, không bằng làm phúc giúp cho một người.