CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN. C

(Lc 10,1-20)

Thưa quý vị,

Tôi quen biết một tử tội sắp bị hành quyết, người mẹ đã thôi thăm viếng. Từ niên thiếu anh ta chẳng có ích chi cho gia đình ngoài những đau buồn. Anh ta đã từng vào tù ra khám nhiều lần, sống hoàn toàn ích kỉ, mọi người xa lánh dần, cuối cùng chỉ còn người mẹ theo đuổi. Anh quá hư hỏng, xì ke ma tuý, trộm cắp, lập bè kéo đảng và chơi bời. Một lần anh ta đích thân giết người, cướp của, bị bắt quả tang, lãnh án tử hình. Bố anh ta cũng là người tàn bạo, bỏ nhà ra đi biệt tăm lúc anh mới mười tuổi. Nhiều năm trời bà mẹ một mình thăm nuôi con. Bà phải lặn lội quãng đường vài chục cây số để đến nhà tù hàng tháng. Bà chẳng giàu có chi, lâu ngày cạn kiệt kinh tế. Tuy nhiên bà vẫn cố gắng sống trọn tình làm mẹ, đều đều tiếp tế và đưa những tin tức về gia đình, thân nhân, xóm làng. Bà muốn trực tiếp kể cho con nghe chứ không qua thư từ, người đưa tin hay các nhân viên khám đường. Cho nên khi nghe nói bà thôi thăm viếng, tôi hiểu ngay tai hoạ khủng khiếp sắp đổ xuống thân phận anh. Bởi lẽ các bà mẹ là kẻ cuối cùng thất vọng về con. Tôi cũng nhận ra rằng mọi liên hệ khác với gia đình qua bà mẹ cũng đã chấm dứt. Chẳng còn tin tức gì từ thế giới bên ngoài, và cũng chẳng ai được biết cuộc sống của anh trong nhà giam nữa. Có chăng chỉ vài tờ báo cũ hoặc từ chiếc TV nhỏ trắng đen của nhà tù. Do kinh nghiệm nhiều năm làm tuyên uý, tôi biết các bà mẹ luôn gắn bó với con, dù nó có phạm tội. Các bà luôn ở bên con những lúc khó khăn nhất, để an ủi, chăm sóc, đến nỗi người ngoài mất kiên nhẫn giùm, nói: “Bỏ quách đi cho rồi! Đeo đẳng mãi làm chi cho khổ”. Nhưng thực tế chẳng bà mẹ nào làm điều đó. Tôi hy vọng mình không quá lạc quan về các bà, nhưng điều phải công nhận là tình yêu của họ dành cho con thật mãnh liệt và độc đáo.

Dân tộc Israel luôn lâm vào vòng khốn quẫn. Họ là một quốc gia nhỏ bé, vây quanh bởi các đế quốc thù địch. Nhiều lần họ đã bại trận, bị tàn phá và bị bắt đi lưu đày, làm tôi thiên hạ. Họ cần sức mạnh và quyền lực để khôi phục. Cho nên họ quan niệm Thiên Chúa, Đấng bảo vệ họ, thuộc phái nam. Đúng là một ước mơ hợp lý. Bởi lẽ phái nam có nhiều sức mạnh. Đức tính cần thiết cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Dân tộc nào cũng cần đến đức tính đó, cho nên dân Israel luôn quan niệm Thiên Chúa là Cha để bảo đảm hạnh phúc cho mình. Còn thực tế thì Thượng Đế vô hình đâu thuộc phái nào?

Dầu vậy, trong bài đọc một hôm nay, tiên tri Isaia lại so sánh Thiên Chúa với người mẹ: “Các ngươi sẽ được nuôi nấng bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông và nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền yên ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy”. Đối với những tù nhân, việc mô tả Thiên Chúa như người cha không giúp đỡ được mấy. Người cha thường nghiêm khắc, hay đánh đòn, hay trừng phạt con và làm cho chúng sợ hãi. Nhà tù chính là hình ảnh người cha mà các con thường có trong đầu óc. Duy chỉ có người cha yêu thương theo lời Chúa Giêsu mới có thể mang lại an ủi cho những linh hồn cần giúp đỡ, mở rộng tầm nhìn của chúng ta khi cầu nguyện. Ngoài ra, nếu nhấn mạnh nam tính nơi Đức Chúa Trời như trong Cựu ước, có thể gây thiệt hại cho lòng đạo đức của tín hữu. Bởi nó giới hạn quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa. Thực ra Thiên Chúa là một mầu nhiệm không ai hiểu thấu, không một biểu tượng nào có thể diễn tả đầy đủ về Ngài. Trong cơn khốn cùng, dân Israel cần một sự tái sinh, cần một nền tự do độc lập, tiên tri Isaia đã đưa ra hình ảnh một phụ nữ đau đớn sinh con, ngõ hầu nói lên Thiên Chúa đang hành động như vậy để cứu vớt tuyển dân. Điều này thật cảm động, cho biết Thiên Chúa yêu mến dân Do Thái biết ngần nào. Đất nước của Isaia phải nhìn vào hình ảnh này để sửa chữa lỗi lầm, từ bỏ tà thần, phản bội và bắt đầu một cuộc sống mới tự do, trung tín. Đây cũng là bài học lớn cho các tín hữu ngày nay. Với lòng yêu thương nhất mực, Thiên Chúa cũng muốn giải cứu chúng ta khỏi mọi ràng buộc, tù túng và câu lệ vô lý. Chúng ta phải được tự do tiếp cận Thiên Chúa trong chân lý và lẽ phải. Thờ phượng Ngài với cương vị một người con chứ không phải nô lệ. Mọi ràng buộc bởi tội lỗi phải bị phá bỏ, Thiên Chúa của Isaia hôm nay không cao sang và trừu tượng, nhưng là một bà mẹ dễ gần gũi. Bà đau đớn sinh con và săn sóc hết tình yêu mến. Thiên Chúa cũng vậy đối với dân tộc Israel và với chúng ta, Ngài không thể lãnh đạm hay quên lãng sau ngần ấy vất vả? Quan niệm Thiên Chúa là một bà mẹ gây nên nhiều an ủi cho các linh hồn đau khổ vì những gian truân cuộc đời.

Bài đọc 2 nói rõ hơn công lao giải cứu của Thiên Chúa qua Đức Kitô Giêsu. Sau nhiều kinh nghiệm, thánh Phaolô kêu lên: “Thưa anh em, ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì nữa ngoài thập giá Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta.” Thiên Chúa đã cho Phaolô cảm nghiệm cuộc đời của ông vô tích sự nếu không nhờ thập giá. Nó mang lại bình an, hạnh phúc và tin tưởng cho ông: “Quả thật, cắt bì hay không cắt bì chẳng là gì cả, điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới”. Như vậy đối với Phaolô điều an ủi và có giá trị duy nhất là đau khổ của Đức Giêsu, qua đó Thiên Chúa giải phóng chúng ta khỏi ràng buộc tội lỗi. Cũng như người mẹ qua đớn đau mà sinh ra một người con đầy sức sống và hy vọng. Thế giới cũ bị cột chặt vào Ađam và luật Môsê. Một thế giới mới được sinh ra từ cuộc tử nạn của Đức Giêsu. Như vậy Chúa Giêsu là Ađam mới và nhân loại sẽ tìm thấy nơi Ngài một dòng giống mới, đó là Hội Thánh. Cho nên mọi tín hữu phải được Hội Thánh sinh ra để có sự sống mới và phải hoàn toàn lệ thuộc vào Đức Giêsu. Nơi các tín hữu, con người cũ phải bị loại bỏ để mặc lấy Đức Kitô. Từ “mặc” ở đây mang nhiều ý nghĩa, trước hết là công nghiệp của Ngài. Chúng ta mặc lấy công nghiệp của Chúa Giêsu để nên công chính. Điều này tự thân chúng ta không làm được, nhưng phải nhờ Đức Kitô “mặc” cho trước tôn nhan Thiên Chúa để trở nên thánh thiện. Sau đó Ngài mặc cho tước vị làm con, ngõ hầu hưởng bình an và lòng thương xót. Cuối cùng “mặc” lấy lối sống của Ngài. Lối sống hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa Cha: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4,34). Vì thế, Ngài nhất quyết đi lên Giêrusalem để chịu thương khó (Lc 9,51), sự thương khó ấy nảy sinh bình an, ơn cứu độ cho nhân loại.

Cho nên thánh Luca, tiếp theo bài Tin Mừng tuần trước, kể lại việc Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng Nước Trời. Đây là đoạn Phúc Âm đặc biệt, chỉ có thánh Luca ghi lại. Chúng ta nhớ tuần trước Chúa Giêsu kêu gọi các tông đồ: “Hãy theo Ta”, bất chấp những khó khăn riêng tư của từng người. Tuần này, Ngài chỉ định 72 ông đi trước Ngài vào rao giảng trong các thành và làng mạc mà Ngài sẽ tới. Họ sửa soạn tinh thần dân chúng cho sứ vụ của Chúa Giêsu. Với cánh đồng thế giới mênh mông 12 tông đồ không đủ. 72 cũng còn quá ít, thợ gặt luôn luôn thiếu thốn, cho nên Chúa thôi thúc các môn đệ cầu xin Chúa Cha sai thêm thợ gặt. Thực ra, thời Chúa Giêsu không thiếu nhân viên trong đền thờ Giêrusalem và trên toàn cõi đất Giuđêa; nhưng thợ gặt chính hiệu thì hiếm. Thợ gặt Nước Trời lại càng hiếm hơn. Chúa sai họ đi từng đôi để làm chứng cho sự thật và bày tỏ tình bác ái. Vì theo luật Môsê, sự thật được nói lên bởi hai nhân chứng và tình bác ái trong cộng đoàn. Họ không được miễn trừ khỏi những nguy hiểm, trái lại luôn gặp gian nan và bách hại: “Này Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói”.

Điều kiện đầu tiên rao giảng có hiệu quả là nghèo khó: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị và giày dép”, đời sống của các nhà truyền giáo hơn hai mươi thế kỷ qua đã chứng minh chân lý này; càng dùng những phương tiện giàu có càng không hiệu quả. Thánh Đaminh, thánh Phanxicô Khó Khăn, thánh Têrêsa thành Calcutta là những nhà truyền giáo vĩ đại, nhưng chỉ bằng phương tiện khó nghèo. Chúng ta hô hào truyền giáo bằng xa hoa thì nhất định thất bại, bởi lẽ trong tận đáy lòng con người sự thật và nhân đức hằng tiềm ẩn, mỗi khi gặp thiên thời địa lợi là nảy mầm, sinh hoa trái. Tựa như chiếc đàn gặp người nghệ sĩ tài ba sẽ phát những âm thanh du dương. Khó nghèo, khiêm nhường gặp Lời Chúa tức thời sinh hiệu quả. Những nhà truyền giáo ưa thích giàu sang và tiện nghi không thể kiếm được linh hồn thiên hạ.

Điều kiện thứ hai là khẩn trương rao giảng Tin Mừng: “Đừng chào hỏi ai dọc đường”. Đây là dấu vết còn lại của các nhà rao giảng thời thánh Luca, các vị ưa la cà trong các hành trình giảng đạo, chọn ở lại những nơi giàu sang, phú quý và được người ta tiếp đón hẳn hoi. Còn khi gặp nơi nghèo khó thì họ vội vàng đi ngay. Thói tục này ngày nay vẫn tồn tại và nhiều khi tệ hại hơn. Trong nhiều giáo xứ, các tín hữu thường phàn nàn không được cha xứ lưu tâm lui tới, bởi họ nghèo khó không có chi để tiếp đón các ngài. Ngược lại, những nơi giàu sang thì được ưu ái hơn. Âu cũng là chuyện thường tình! Nhưng người tông đồ phải vượt qua khó khăn này thì công cuộc truyền giáo mới hy vọng kết quả. Khẩn trương rao giảng còn đòi hỏi nhiều đức tính khác như tiết kiệm thời gian, tiền bạc cho giáo dân, hy sinh tài đức vì Tin Mừng, tính khoa học trong công việc…

Điều thứ ba Chúa căn dặn là đem bình an của Ngài cho những dân tộc và linh hồn biết đón nhận. Thứ bình an này khác với an toàn thế gian. Nó tồn tại ngay cả trong gian nan thử thách hay hiểm nguy tính mạng. Các thánh đã từng kinh nghiệm và gọi nó là an bình nội tâm. Bình an của Chúa Giêsu không chi lay chuyển nổi. Bởi được Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Tính bền vững của nó không hệ tại bảo đảm vật chất mà là sự trung tín của Chúa Giêsu, tức sự hiện diện của triều đại Thiên Chúa trong linh hồn mình. Những ai được hưởng bình an này luôn bày tỏ vui tươi trong cuộc sống, bất chấp mọi khó khăn gian khổ. Họ làm gì cũng thành công và lôi cuốn nhiều linh hồn đến với mình. Họ như ngọn đèn cháy sáng lôi cuốn thiêu thân. Các thánh lập dòng có thể là một ví dụ. Tuy nhiên, không phải mọi người đều chấp nhận bình an của Đức Kitô. Thực tế có rất nhiều linh hồn từ chối, bởi thứ bình an này đòi hỏi nhiều điều không thích hợp với xác thịt con người. Chúa Giêsu căn dặn: “Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân, chúng tôi cũng xin trả lại các ông”. Nghĩa là họ đã bị kết án rồi, bởi không nghe lời Thiên Chúa.

Các môn đệ ra đi và làm đúng như Chúa Giêsu chỉ bảo. Kết quả thật lớn lao. Các ông hoan hỷ trở về thuật lại. Chúa khen các ông mà nói: “Thầy đã trông thấy Satan từ trời rơi xuống như tia chớp”. Tức thế lực địa ngục đã bị các ông đập tan. Nước Thiên Chúa bắt đầu hiển trị. Còn mơ ước nào cho việc truyền giáo đẹp đẽ hơn? Giả tỉ 72 môn đệ làm theo ý riêng thì kết quả chắc chắn không như vậy. Nhưng ngày nay chúng ta vẫn chưa học được kinh nghiệm, vẫn ưa thích huynh hoang, rùm beng.

Tóm lại, sợi chỉ đỏ xuyên suốt các bài đọc hôm nay là: Dù thế giới có bị tan nát, lưu đày như số phận của dân Do Thái và thành thánh Giêrusalem trong bài đọc 1, thì vẫn còn hy vọng. Bởi lời tiên báo cứu vớt của ngôn sứ Isaia. Lời này được thực hiện khi Chúa Giêsu sai các tông đồ và môn đệ đi rao giảng Nước Trời và bình an của Ngài. Thánh Phaolô đã cảm nghiệm được hạnh phúc ấy nên nói: “Thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi và tôi đối với thế gian, nhờ thánh giá Chúa Giêsu Kitô”. Mọi tín hữu cũng sẽ cảm nghiệm như thánh nhân, nếu chúng ta biết hết lòng theo Chúa không chần chừ và tháo lui. Thế giới sẽ thoát vòng kiểm toả của Satan. Thiên đàng chắc chắn thuộc về mọi linh hồn. Amen.