TỰ GIẢI THOÁT VÀ TỰ RÀNG BUỘC (Luca 9,51-62 - CN XIII TN - C)

1.-Văn mạch

Với 9,51, Tin Mừng Lc bắt đầu một phân đoạn quan trọng và là phần thứ ba của TM, đó là bài tường thuật chuyến đi lên Giêrusalem, thành định mệnh (9,51-19,28). Khác với TM Mc, tác giả Lc nhiều lần nói rõ tên Giêrusalem ra trong chuyến đi này (9,53; 13,22.33-34; 17,11; 18,31; 19,11, luôn luôn là Ierousalêm, ngoại trừ 13,22, Hierosolyma). Ta nhận ra phân đoạn này được coi là trọng yếu qua việc Lc nêu tên thành ra trong liên hệ với việc Đức Giêsu “được rước lên trời” (analêmpsis) và qua việc nhắc tới sự hoàn tất (“Thời gian đã mãn, đến buổi Ngài siêu thăng” - NTT). Nói cách khác, trong TM Lc, Đức Giêsu đi từ Galilê lên Giêrusalem không qua Pêrê (như Mc và Mt), nhưng Ngài chỉ nhắm thẳng tới thành định mệnh bằng cách băng ngang miền đất tượng trưng cho sự đối nghịch, đó là Samari.

2.- Bố cục

Có thể chia bản văn thành ba đơn vị, một câu mở với hai phân đoạn khá khác nhau:

1) Mở : Hành trình lên Giêrusalem (9,51);

2) Sự đón tiếp tại một làng Samari (9,52-56);

3) Những đòi hỏi đặt ra cho ai muốn làm môn đệ (9,57-62).

3.-Vài điểm chú giải

- Khi đã tới ngày (51): dịch sát là “việc làm đầy các ngày”. Tác giả đã tạo ra công thức này để giúp hiểu là nay chương trình của Thiên Chúa bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới trong tiến trình thực hiện.

- được rước lên (51): Analempsis có nghĩa là “hành vi cất đi; sự nâng lên”.

- Người nhất quyết (51): dịch sát “Người đanh/làm chai (stêrizein) mặt lại để đi lên…”. “Mặt” trong văn chương Do-thái chỉ cả con người. Ý nói là Đức Giêsu cương quyết đối đầu với định mệnh của Ngài, Ngài can đảm thắng vượt nỗi sợ hãi. Ta nghe ra được âm vang của Is 50,7. Nhưng cũng có thể câu này nhắm tới sứ mạng của ngôn sứ Eâdêkien tại thành Giêrusalem (Ed 8-11).

- người Samari (52): dân cư Samari, kinh đô của vương quốc phía Bắc do vua Omri sáng lập vào khoảng năm 870 tr CG. Sau này, tên gọi “người Samari” (hl. Samaritês) trở thành một tên gọi mang tính chủng tộc và tôn giáo để chỉ những người cư ngụ trong miền đất giữa Giuđê và Galilê, về phía tây sông Giođan. Sự đoạn tuyệt giữa người Samari và người Do-thái được giải thích khác nhau tùy mỗi bên. Thường người ta cho rằng có sự chia lìa đó là do có việc đế quốc Aùtsua đưa người Do-thái đi lưu đày sau khi chiếm được đất nước năm 722 tr CG và đưa những người không phải là Do-thái vào làm thực dân ở trong miền đó (2 V 17,24). Có lẽ cũng do đó mà sau này những người ở lại quê nhà đã phá những người Do-thái hồi hương khi những người này xây lại thành và Đền thờ Giêrusalem (x. Er 4,2-24; Nkm 2,19; 4,2-9). Dù thế nào, những người Samari chỉ chấp nhận Bộ Ngũ Thư là Kinh Thánh vàđã xây một đền thờ trên núi Garidim (Tell er-Râs) vào thời Hy-lạp (đền này đạ bị phá hủy dưới thời Gioan Hiếccanô, khoảng năm 128 tr CG).

- vì Người đang đi về hướng Giêrusalem (53): dịch sát là “mặt Người đang hướng tới Giêrusalem”. Mục tiêu của cuộc hành trình của Đức Giêsu chính là lý do khiến người Samari từ chối đón tiếp Ngài.

- Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không? (54): Mặc dù ông Luca dùng analôsai (aor. act. inf. analuô, “tháo gỡ; tiêu hủy”) thay vì kataphagein (aor. Act. inf katesthiô, “ăn ngấu nghiến, thiêu hủy, phá hủy”) của LXX, câu văn vẫn là một lời nhắc rõ ràng đến 2 V 1,10 (hay 12). Các môn đệ muốn chia sẻ quyền lực của Đức Giêsu để làm một phép lạ trừng phạt.

- quay lại (55): xem cả 10,23; 14,25. Tác giả cho thấy là Đức Giêsu dẫn đầu nhóm môn đệ.

- quở mắng (55): Đức Giêsu sửa các môn đệ vì các ông vẫn chưa hiểu sứ mạng của Ngài nhắm điều gì (x. 9,45). Ngài không chấp nhận cho người ta coi Ngài là ngôn sứ Eâlia, nhà cải cách được ví với lửa. Ngài không chấp nhận phản ứng theo kiểu thường tình loài người (x. 6,29).

- chôn cất cha tôi (59): Theo truyền thống kinh sư sau này, bổn phận chôn cất cha mẹ qua đời bó buộc với các na-dia, tư tế, và cả với thầy thượng tế, cho dù tiếp xúc với một thi hài thường được coi như là cớ gây nhiễm uế (x. Ds 6,6-7; Lv 21,11).

- Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ (60): Câu này được giải thích nhiều cách, nhưng dựa vào một câu tục ngữ, giáo sư J.A. Fitzmyer cho rằng ý nghĩa của câu này là “Cứ để kẻ chết (về thiêng liêng) chôn kẻ chết (về thể lý) của họ”.

- xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã … Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau (61-62): xem truyện ngôn sứ Eâlia gọi Eâlisa (1 V 19,19-21). Nhưng Đức Giêsu đòi hỏi hơn Eâlia, vì vị ngôn sứ còn cho phép môn đệ về từ giã bà con thân thuộc, còn Đức Giêsu thì không cho phép.

4.-Ý nghĩa của bản văn

* Mở: Hành trình lên Giêrusalem (51)

Câu mở với giọng long trọng của bài tường thuật chuyến đi lên Giêrusalem có ba điểm: a) Thời gian Chúa Cha ban cho Con để thực hiện chương trình của Ngài trên trần gian đã đến lúc chấm dứt. b) Đức Giêsu nhất quyết đi cho tới thành thánh. Ngài biết chuyện gì đang chờ Ngài ở Giêrusalem. Ngài thấy những đau khổ, cái chết và cả sự sống lại đang đến gần. Ta nghe ra gợi ý xa xa về cuộc hấp hối trong vườn Ô-liu. Khi đến lúc, Ngài cắt đứt những liên hệ với miền Galilê và cương quyết tiến về Giêrusalem, hiên ngang đối diện với định mệnh của Ngài. c) “Người sai mấy sứ giả đi trước”: Hẳn là tác giả Lc gợi đến sấm ngôn thiên sai Ml 3,1, với ý nghĩa Đức Giêsu chính là Yhwh, còn các tông đồ là những sứ giả.

* Sự đón tiếp tại một làng Samari (52-56)

Cũng như sứ vụ tại Galilê được dẫn nhập bằng một truyện Đức Giêsu bị loại trừ (4,16-30), chuyến đi lên Giêrusalem cũng được dẫn nhập bằng một truyện như thế. Có một làng Samari đã không đón tiếp Ngài vì Ngài lên Giêrusalem, chứ không lên Garidim là nơi có đền thờ của người Samari. Sự từ khước này không làm cho lòng ngay ra chua chát. Ngài quở mắng hai môn đệ Giacôbê và Gioan vì các ông đã đề nghị chuyện bạo lực. Ngài yêu cầu người ta nghe Ngài, nhưng Ngài để cho người ta tự do, chứ không muốn ép buộc người ta phải đón tiếp Ngài. Quyết định của Ngài phải được diễn tả ra một cách hùng hồn nếu Ngài trân trọng người khác.

* Những đòi hỏi đặt ra cho ai muốn làm môn đệ (57-62)

Trên con đường này, Ngài nhắc lại những điều kiện để đi theo Ngài. Có ba người đến để xin đi theo Ngài. Không biết là điều gì đã thúc đẩy họ xin như thế. Chắc chắn là họ đã bị Ngài thu hút, nên muốn ở với Ngài. Chúng ta cũng không biết là sau đó họ có thật sự đi theo Ngài chăng. Nhưng chúng ta biết những hoàn cảnh và những điều kiện cần thiết để có thể đi theo Ngài.

Người thứ nhất diễn tả một tình trạng sẵn sàng vô điều kiện. Đức Giêsu cho anh ta biết rõ điều gì đang chờ đợi anh nếu anh bước theo Ngài. Đặc điểm con đường Ngài đang theo là những bất ngờ và sự nghèo khó. Ngài không thể cung cấp sự an toàn và tiện nghi nơi ăn chốn ở. Chính Ngài đã cho thấy điều đó khi đi qua Samari: Ngài lệ thuộc vào sự tiếp đón của kẻ khác. Ngài chấp Ngài chấp dây ràng buộc với một nơi cố định và trở thành hoàn toàn tự do mà thi hành nhiệm vụ. Ngài cũng yêu cầu kẻ muốn theo Ngài phải có sự từ bỏ ấy, sự tự do ấy và dây liên hệ ấy.

Hai người khác nêu ra các điều kiện (chôn cất cha; từ giã người thân). Cho cả hai trường hợp, Đức Giêsu không chấp nhận những điều kiện ấy, trong đó luôn liên hệ đến gia đình. Đức Giêsu cho thấy rõ ràng là Ngài đòi hỏi người ta bước theo Ngài vô điều kiện.

+ Kết luận

Khi bước theo Đức Giêsu, người ta không được nhìn lại đàng sau, nhưng phải dứt khoát nhìn tới trước, nhìn vào chính Đức Giêsu và tất cả những gì được hàm chứa trong quan hệ với Ngài. Không những trong lãnh vực của cải vật chất, cả trong lãnh vực các tương quan người với người, liên hệ với Ngài đòi hỏi một số những từ bỏ đau đớn. Nhưng phải biết vấn đề ở đây là gì: đó là gắn bó với Ngài, phục vụ Ngài, sống thân tình với Ngài. phần Ngài, Đức Giêsu đề nghị, nhưng luôn tôn trọng tự do của từng người.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Thông thường chúng ta muốn nắm tối đa những giải pháp có thể có. Mỗi quyết định hàm chứa một liều lĩnh, hàm chứa một sự từ khước hoặc thậm chí nhiều sự từ khước. Khi có chuyện không thích hoặc nặng nề, hoặc khi thấy có những viễn tượng khả quan hơn, chúng ta liền muốn thử hoặc muốn thay đổi. Chúng ta muốn thoát khỏi những gì mình không thích, những gì trở thành khó khăn hay phiền toái. Những chao đảo này, sự lưỡng lự này liên hệ đến tương quan của chúng ta với các sự việc, các nhiệm vụ và các con người. Nhưng Đức Giêsu đã nêu gương: khi biết là mình đã quyết định đúng, thì Ngài giữ tới cùng. Tin vào Thiên Chúa là một quyết định đúng; đi theo Đức Giêsu là một quyết định đúng; chọn làm ki-tô hữu là một quyết định đúng. Nhưng lâu nay chúng ta sống thế nào?

2. Ai muốn đi theo Đức Giêsu, phải dứt khoát chọn Ngài và liên kết với Ngài. Chỉ có sự cương quyết này và một quyết định như vậy mới giúp ta bước đi với Đức Giêsu và cùng với Ngài phục vụ việc loan báo Nước Thiên Chúa. Bước theo Đức Giêsu thường xuyên bao hàm những từ bỏ đau đớn. Chúng ta có thể suy nghĩ thêm về các của cải vật chất: chúng có giá trị gì? Theo nghĩa nào, các của cải vật chất là một sự hỗ trợ, và theo nghĩa nào, chúng là một trở ngại?

3. Mỗi người được nối kết thự nhiên với cha mẹ và gia đình mình. Khi nói những lời cứng rắn với những kẻ muốn đi theo Ngài, Đức Giêsu không hề chủ trương thiếu kính trọng và yêu thương đối với gia đình mình. Nhưng Ngài nêu bật rằng việc đi theo Ngài đòi hỏi một việc đoạn tuyệt; các tương quan sống cho đến nay, ta không thể tiếp tục như cũ được nữa.

4. Muốn đi theo Đức Giêsu, người ta phải a) bỏ mọi an toàn; b) mau mắn đặt mọi sự tùy thuộc bốn phận loan báo Tin Mừng; c) quay lưng lại với quá khứ và nhìn tới trước. Người ta có thể từ khước làm môn đệ Đức Giêsu vì những định kiến tôn giáo (như dân Samari), nhưng người ta cũng có thể từ khước tiếng gọi của Đức Giêsu vì quá bám víu vào sự an toàn, những tình cảm con người hoặc quá khứ.