Một người trong nhóm soạn bài giảng của chúng tôi xung phong triển khai đề tài Thánh Thể của chúa nhật này. Ông khoe, chắc chắn sẽ tìm ra tài liệu để giúp đỡ mình. Tôi nghĩ chẳng nên làm thế. Hãy để bản văn ngày lễ tự nói lên ý nghĩa và Thánh Thể soi sáng chúng ta những tư tưởng mới về Mình Máu Thánh Chúa. Một trong những tư tưởng ấy là nhìn vào sự đói khát trong cộng đồng chung quanh và trên toàn thế giới. Rồi nhìn xem các bản văn chúa nhật này giải quyết vấn đề ra sao? Thực ra loài người luôn ở trong tình trạng đói khát, đói vật chất và tinh thần. Hình thức nào cũng khủng khiếp. Báo chí hàng ngày đăng tải những tin tức não lòng về đói kém. Hiện thời ở Phi Châu, già nửa dân số sống dưới mức nghèo khó tức khoảng 1 đôla một ngày. Ở Châu Á, tình hình không sáng sủa hơn. Theo báo cáo của LHQ thì 2/3 thế giới là nghèo khó, thêm vào đó, loạn lạc, chiến tranh ngày càng đẩy một số lớn nhân loại vào cuộc sống bần cùng không cửa không nhà. Số dân tị nạn hiện thời khoảng 13 đến 15 triệu người. Một con số không thể tưởng tượng nổi, nhưng đó chỉ là hình thức thống kê, thực tế còn vượt xa hơn nhiều.
Lễ Mình Máu Thánh Chúa được thiết lập vào 1264 với chủ ý tôn thờ Chúa Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể. Từ thời ấy khắp mọi nơi trên thế giới, lễ được mừng rất long trọng, gây nhiều cảm hứng và lòng tôn sùng nơi các tín hữu. Có các cuộc rước kiệu Thánh Thể, các buổi chầu Mình Thánh trọng thể, kéo dài hàng chục thế kỷ cho đến công đồng Vatican II. Phải công nhận rằng lòng tôn sùng Thánh Thể đã đào tạo nên những vị thánh lớn cho Giáo Hội; ngày nay lòng sùng kính này có phần giảm sút cho nên người giáo dân không thấy rõ được mối quan hệ hữu cơ giữa Giáo Hội và Thánh Thể. Họ ít làm việc thờ kính Thánh Thể cho nên ít thấy Thánh Thể là thân mình Đức Kitô tức là Hội Thánh. Thật là một điều đáng tiếc!
Câu chuyện trước phân đoạn Phúc Âm hôm nay là các tông đồ trở về từ sứ mạng rao giảng, họ muốn nghỉ ngơi và Chúa Giêsu truyền cho họ lánh vào một nơi vắng vẻ như thánh Luca ký sự: “Các tông đồ trở về thuật lại cho Đức Giêsu những việc các ông đã làm. Người đem các ông đi riêng với mình lui về thành kia gọi là Bétsaiđa” (Lc 9,10). Nhưng dân chúng đã khám phá ra các ngài và họ kéo đến rất đông. Chúa Giêsu đón nhận họ và rao giảng về nước trời cho họ nghe đồng thời chữa lành những bệnh nhân họ đem tới (Lc 9,12). Nói cách khác, Chúa Giêsu trông thấy rõ và giải quyết mọi nhu cầu của dân chúng, phần xác cũng như phần hồn. Đám người này thuộc giai cấp bình dân, nghèo khổ và chất phác, bởi lẽ theo tục lệ, người Do Thái giàu có đi đâu xa cũng mang theo giỏ thức ăn đủ cho hai đến ba ngày đường. Mục đích là không phải ăn những đồ dơ bẩn của dân ngoại. Phúc Âm hôm nay kể: “Ngày bắt đầu tàn, nhóm mười hai đến bên Đức Giêsu, thưa Người rằng: xin Thầy cho đám đông về, để họ vào các làng mạc, nông trại quanh đây, tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn” nghĩa là đám đông hoàn toàn không mang theo thức ăn như tục lệ; họ nghèo khổ, không có dư để dự phòng, nhiều người có thể đói lả nếu Chúa không giơ tay cứu giúp. Tuy nhiên họ không phải là hạng phàm phu tục tử, chỉ chăm lo cho cái bụng. Trước tiên họ đói khát Lời Thiên Chúa và đến nghe Chúa Giêsu loan báo về nước trời, tiếp theo là được chữa lành. Nhưng không phải chỉ có thế; họ đại diện cho toàn thể nhân loại đứng ra xin Chúa nuôi dưỡng, bởi vì loài người thường khi thất bại trong nhiệm vụ nuôi nấng lẫn nhau. Lúc ấy trời đã bắt đầu tối.
Và một trong những góc “tối” của nhân loại là đám người đói khát. Theo tính toán của các nhà kinh tế, thế giới này có đủ lương thực cho những người nghèo khó nếu như người ta biết phân phối cho đồng đều. Nhưng thực tế không được như vậy, các nước Tây Âu giàu có sản xuất dư thừa thực phẩm nhưng hoặc huỷ đi hoặc được chính phủ trợ cấp để bỏ hoang đồng ruộng chứ không cung cấp cho những nước đói nghèo. Vì thế những người có chút ít lương tâm đã lập ra phong trào “Bánh ăn cho thế giới” (Bread for the World). Một mặt xuất bản các tin tức về tình trạng đói nghèo trên thế giới để đánh thức lương tâm nhân loại; mặt khác tích cực quyên góp để trợ giúp các quốc gia đói ăn. Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu sau khi cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, đọc lời chúc tụng, Ngài đưa cho các môn đệ, để các ông phân phát cho dân chúng và mọi người đều ăn no nê. Tức các môn đệ lãnh trách nhiệm “phân phối” lương thực cho đám đông. Ngày nay, Giáo Hội cũng lãnh trọng trách đó, nhưng không phải chỉ về phương diện thiêng liêng mà thôi nhưng còn về vật chất nữa. Một nhà cách mạng nổi tiếng đã từng nói: “Không sợ thiếu, chỉ sợ phân phối không công bằng”. Thực tế trong Hội Thánh nếu chúng ta có lòng thương yêu đích thực, thì chắc chắn không ai phải chịu số phận túng quẫn quá đáng. Một mình mẹ Têrêsa thành Calcutta đã có thể giúp đỡ và nuôi sống hàng ngàn người hấp hối trên thế giới. Mẹ không lo thiếu mà chỉ lo thi thố lòng bác ái. Trong nhiều giáo xứ nếu các hội từ thiện hoạt động tốt thì giáo xứ giảm hẳn con số người nghèo. Nhiều chính phủ hiện nay đang phát động phong trào xoá đói giảm nghèo và kết quả rất là khả quan, có thể giảm tới một nửa số hộ nghèo; chúng ta nên tích cực tham gia vào các chương trình đó. Nếu thực hiện tốt công việc này chắc chắn hình ảnh Chúa Giêsu nuôi dưỡng đám đông sẽ được cảm nghiệm rõ nét trong cộng đồng nhân loại.
Chúng ta sẽ không còn hành động như các tông đồ thuở xưa, giải pháp dễ dàng của họ là: Xin Thầy giải tán đám đông để họ tìm lấy chỗ trọ và thức ăn. Nhưng Chúa muốn điều ngược lại: “Anh em hãy cho họ ăn đi”. Giữa hoang địa thì lấy đâu ra của ăn mà nuôi sống năm ngàn người đàn ông không kể đàn bà con trẻ. Chúa đã giảng cho họ về hạnh phúc nước trời, bây giờ là lúc thể hiện nội dung đó. Người đã chữa nhiều bệnh tật thì vấn đề nuôi sống đám đông không phải là khó; Nước trời phải được cụ thể nhìn thấy. Tuy nhiên, các môn đệ vẫn còn mù tối và chưa thực sự tin vào lời rao giảng của thầy mình. Chúng ta cũng vậy, đã dám can đảm đánh đổi cuộc đời với những dấu chỉ của lòng tin? Đã dám hy sinh những tiện nghi, lợi lộc cho lý tưởng mình rao giảng? Hay chỉ đề nghị người khác theo Chúa còn mình thì không? Trước phép lạ Chúa Giêsu, các tông đồ đã được chữa lành về phần thiêng liêng, họ đã tận mắt chứng kiến Chúa Giêsu thoả mãn nhu cầu “đói khát” của đám đông. Trước hết Ngài truyền chia họ ra từng nhóm nhỏ: “Anh em hãy bảo họ ngồi thành từng nhóm khoảng năm mươi người một”. Để làm chi? Đó là những cộng đoàn thân thiện, biết về nhau, chung tình thân ái, cùng dự bữa ăn Agapé, chứ không phải một bữa ăn khổng lồ, kẻ thì cao sang, kẻ lại vô danh tiểu tốt, nghĩa là còn loại trừ nhau và xa lạ với nhau. Nhưng đây là những cộng đoàn bác ái cùng chung chia bữa ăn bình đẳng, người cao chức vị không được phần hơn, còn người bé nhỏ cũng không phải chịu thiệt thòi. Mọi người đều được ăn no nê, phần dư người ta thu được mười hai thúng đầy. Giống như các tông đồ xưa. Chúng ta hôm nay cũng được chữa lành khỏi những bệnh mù thiêng liêng, không còn kỳ thị thấp cao, giàu nghèo, sang hèn, người học thức cũng như người ngu đần, da trắng cũng như da màu. Chúng ta không tách biệt khỏi những nhu cầu của anh em đồng loại, bởi vì Hội Thánh là những nhóm nhỏ, biết rõ về nhau, săn sóc những nhu cầu của nhau cho đến chi tiết.
Bài học thứ hai là làm thế nào chúng ta có khả năng nuôi dưỡng thiên hạ? Lời Chúa truyền cho các tông đồ: “Chính anh em hãy cho họ ăn đi” không phải là một lệnh truyền trống rỗng, Chúa Giêsu biết rõ các ông chẳng có gì ngoài năm chiếc bánh và hai con cá. Nhưng ngần ấy cũng đủ để Ngài làm phép lạ miễn là các ông có một tấm lòng. Trong bí tích Thánh Thể chúng ta nhận lãnh hàng ngày Đấng có quyền năng biến đổi cuộc đời chúng ta thành phép lạ, nếu chúng ta dâng hiến toàn thân cho Ngài, không so đo tính toán hơn thiệt. Thánh Thể có thể chữa bệnh ích kỷ, mở mắt cho người ta nhìn thấy những phương tiện nuôi dưỡng kẻ khó nghèo. Thế giới không thiếu lương thực nhưng thiếu lòng nhân ái để phân phát những tặng phẩm của Thiên Chúa. Đức Giêsu hôm nay làm gương để chúng ta noi theo: Mọi người được ăn cùng một thứ bánh, cùng uống một chén rượu mà Ngài tặng ban và sẽ được sống muôn đời nhờ bánh rượu đó. Vậy chúng ta có sẵn sàng chia sẻ cuộc sống của mình với tha nhân? Chia sẻ tình yêu, kiến thức, của cải… để giảm bớt sự nghèo đói của thế giới?
Chúng ta thường có khuynh hướng lãng quên, bí tích Thánh Thể là điểm mốc để nhắc nhớ nhân loại về những ân huệ Chúa ban: “Các con hãy làm việc này để nhớ đến Thầy”. Nhớ đến Chúa Giêsu bởi Ngài là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa, là ơn cứu độ, là sự phục sinh và cuộc sống muôn đời, tóm lại, là hạnh phúc của nhân loại và từng cá nhân sinh ra trong thế gian này. Mỗi lần chúng ta tham dự thánh lễ hay kính thờ Thánh Thể là mỗi lần chúng ta được đổi mới linh hồn, lớn lên trong tình yêu Chúa và tha nhân cho đến khi Chúa lại đến. Thực ra theo cái nhìn cánh chung, mỗi sáng Chúa Giêsu trở lại trong thánh lễ và chúng ta được hạnh phúc tiếp rước Ngài. Cùng với Ngài là muôn vàn ân huệ và hạnh phúc. Nếu sửa soạn tâm hồn cho sốt sắng và xứng đáng, chúng ta sẽ được hưởng đầy đủ niềm vui thiên đàng như nhiều vị thánh đã từng cảm nghiệm. Phiền vì thiếu ý thức và hy sinh nên đa phần tham dự thánh lễ một cách máy móc, ươn lười, uể oải như bị ép buộc. Thành thử chẳng hưởng được những kho tàng quý báu đó; hậu quả là không thể tiến triển về phần thiêng liêng, thụt lùi hoặc dậm chân tại chỗ.
Sâu xa hơn nữa, bí tích Thánh Thể gói ghém trọn vẹn cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu đúng như thời điểm Ngài hy sinh trên thập tự tại núi Sọ. Ngày nay người ta nghệ thuật hoá ảnh tượng bằng tài hoa của mình trên vàng bạc gỗ quý. Thực tế lúc Ngài chịu đóng đinh không phải như vậy. Nó là một cuộc hành hình dã man của đám lính La Mã mất hết tính người; Ngài bị lột trần không mảnh vải che thân, đinh đóng thấu xương, máu chảy đầm đìa, tanh hôi, ruồi nhặng bu đầy, khách qua đường không dám nhìn, bước đi nhanh như sợ bị ô uế hoặc có người buông lời chửi thề. Theo thói thường, cảnh tượng thê lương này kéo dài vài ba ngày, có khi cả tuần, cho đến lúc nạn nhân tắt thở. Trường hợp Chúa Giêsu, Ngài chết nhanh chóng đến nỗi Philatô phải ngạc nhiên (Mc 15,44). Cho nên trong thánh lễ chúng ta đừng vì những trang hoàng bề ngoài mà làm mất tính thô kệch và gồ ghề của mầu nhiệm khổ nạn. Nó tàn nhẫn hơn các cuộc hành quyết bằng ghế điện hay xử bắn ngày nay.
Tóm lại, lễ Mình Máu Thánh Chúa là một cơ hội tốt để người tín hữu suy niệm về tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại tội lỗi, về sức mạnh của sự dữ, về những đau khổ ngày nay mà phần lớn nhân loại còn phải gánh chịu. Chắc chắn trong nhiều thánh đường tín hữu sẽ được rứơc lễ dưới hai hình thức bánh rượu, bởi lẽ chủ tế (Đức Giêsu) đã tuyên bố: Tất cả anh em hãy cầm lấy mà ăn và uống… này là Mình Thầy, này là Máu Thầy. Cho nên, với tất cả tâm tình thờ phượng và biết ơn chúng ta đón nhận bánh và chén ban ơn cứu độ. Cầu xin Ngài thánh hoá linh hồn mình, cuộc sống hàng ngày, anh chị em thân thiết và cả thế gian như Ngài đã nói: “Máu này đổ ra cho muôn người được ơn tha tội” (Mt 26,28). Ước chi nhờ thánh lễ hôm nay chúng ta ý thức hơn sứ mạng của mình là tích cực rao truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng Ngài đã sống lại, cho đến khi Ngài đến xét xử trần gian. Amen.
Lễ Mình Máu Thánh Chúa được thiết lập vào 1264 với chủ ý tôn thờ Chúa Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể. Từ thời ấy khắp mọi nơi trên thế giới, lễ được mừng rất long trọng, gây nhiều cảm hứng và lòng tôn sùng nơi các tín hữu. Có các cuộc rước kiệu Thánh Thể, các buổi chầu Mình Thánh trọng thể, kéo dài hàng chục thế kỷ cho đến công đồng Vatican II. Phải công nhận rằng lòng tôn sùng Thánh Thể đã đào tạo nên những vị thánh lớn cho Giáo Hội; ngày nay lòng sùng kính này có phần giảm sút cho nên người giáo dân không thấy rõ được mối quan hệ hữu cơ giữa Giáo Hội và Thánh Thể. Họ ít làm việc thờ kính Thánh Thể cho nên ít thấy Thánh Thể là thân mình Đức Kitô tức là Hội Thánh. Thật là một điều đáng tiếc!
Câu chuyện trước phân đoạn Phúc Âm hôm nay là các tông đồ trở về từ sứ mạng rao giảng, họ muốn nghỉ ngơi và Chúa Giêsu truyền cho họ lánh vào một nơi vắng vẻ như thánh Luca ký sự: “Các tông đồ trở về thuật lại cho Đức Giêsu những việc các ông đã làm. Người đem các ông đi riêng với mình lui về thành kia gọi là Bétsaiđa” (Lc 9,10). Nhưng dân chúng đã khám phá ra các ngài và họ kéo đến rất đông. Chúa Giêsu đón nhận họ và rao giảng về nước trời cho họ nghe đồng thời chữa lành những bệnh nhân họ đem tới (Lc 9,12). Nói cách khác, Chúa Giêsu trông thấy rõ và giải quyết mọi nhu cầu của dân chúng, phần xác cũng như phần hồn. Đám người này thuộc giai cấp bình dân, nghèo khổ và chất phác, bởi lẽ theo tục lệ, người Do Thái giàu có đi đâu xa cũng mang theo giỏ thức ăn đủ cho hai đến ba ngày đường. Mục đích là không phải ăn những đồ dơ bẩn của dân ngoại. Phúc Âm hôm nay kể: “Ngày bắt đầu tàn, nhóm mười hai đến bên Đức Giêsu, thưa Người rằng: xin Thầy cho đám đông về, để họ vào các làng mạc, nông trại quanh đây, tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn” nghĩa là đám đông hoàn toàn không mang theo thức ăn như tục lệ; họ nghèo khổ, không có dư để dự phòng, nhiều người có thể đói lả nếu Chúa không giơ tay cứu giúp. Tuy nhiên họ không phải là hạng phàm phu tục tử, chỉ chăm lo cho cái bụng. Trước tiên họ đói khát Lời Thiên Chúa và đến nghe Chúa Giêsu loan báo về nước trời, tiếp theo là được chữa lành. Nhưng không phải chỉ có thế; họ đại diện cho toàn thể nhân loại đứng ra xin Chúa nuôi dưỡng, bởi vì loài người thường khi thất bại trong nhiệm vụ nuôi nấng lẫn nhau. Lúc ấy trời đã bắt đầu tối.
Và một trong những góc “tối” của nhân loại là đám người đói khát. Theo tính toán của các nhà kinh tế, thế giới này có đủ lương thực cho những người nghèo khó nếu như người ta biết phân phối cho đồng đều. Nhưng thực tế không được như vậy, các nước Tây Âu giàu có sản xuất dư thừa thực phẩm nhưng hoặc huỷ đi hoặc được chính phủ trợ cấp để bỏ hoang đồng ruộng chứ không cung cấp cho những nước đói nghèo. Vì thế những người có chút ít lương tâm đã lập ra phong trào “Bánh ăn cho thế giới” (Bread for the World). Một mặt xuất bản các tin tức về tình trạng đói nghèo trên thế giới để đánh thức lương tâm nhân loại; mặt khác tích cực quyên góp để trợ giúp các quốc gia đói ăn. Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu sau khi cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, đọc lời chúc tụng, Ngài đưa cho các môn đệ, để các ông phân phát cho dân chúng và mọi người đều ăn no nê. Tức các môn đệ lãnh trách nhiệm “phân phối” lương thực cho đám đông. Ngày nay, Giáo Hội cũng lãnh trọng trách đó, nhưng không phải chỉ về phương diện thiêng liêng mà thôi nhưng còn về vật chất nữa. Một nhà cách mạng nổi tiếng đã từng nói: “Không sợ thiếu, chỉ sợ phân phối không công bằng”. Thực tế trong Hội Thánh nếu chúng ta có lòng thương yêu đích thực, thì chắc chắn không ai phải chịu số phận túng quẫn quá đáng. Một mình mẹ Têrêsa thành Calcutta đã có thể giúp đỡ và nuôi sống hàng ngàn người hấp hối trên thế giới. Mẹ không lo thiếu mà chỉ lo thi thố lòng bác ái. Trong nhiều giáo xứ nếu các hội từ thiện hoạt động tốt thì giáo xứ giảm hẳn con số người nghèo. Nhiều chính phủ hiện nay đang phát động phong trào xoá đói giảm nghèo và kết quả rất là khả quan, có thể giảm tới một nửa số hộ nghèo; chúng ta nên tích cực tham gia vào các chương trình đó. Nếu thực hiện tốt công việc này chắc chắn hình ảnh Chúa Giêsu nuôi dưỡng đám đông sẽ được cảm nghiệm rõ nét trong cộng đồng nhân loại.
Chúng ta sẽ không còn hành động như các tông đồ thuở xưa, giải pháp dễ dàng của họ là: Xin Thầy giải tán đám đông để họ tìm lấy chỗ trọ và thức ăn. Nhưng Chúa muốn điều ngược lại: “Anh em hãy cho họ ăn đi”. Giữa hoang địa thì lấy đâu ra của ăn mà nuôi sống năm ngàn người đàn ông không kể đàn bà con trẻ. Chúa đã giảng cho họ về hạnh phúc nước trời, bây giờ là lúc thể hiện nội dung đó. Người đã chữa nhiều bệnh tật thì vấn đề nuôi sống đám đông không phải là khó; Nước trời phải được cụ thể nhìn thấy. Tuy nhiên, các môn đệ vẫn còn mù tối và chưa thực sự tin vào lời rao giảng của thầy mình. Chúng ta cũng vậy, đã dám can đảm đánh đổi cuộc đời với những dấu chỉ của lòng tin? Đã dám hy sinh những tiện nghi, lợi lộc cho lý tưởng mình rao giảng? Hay chỉ đề nghị người khác theo Chúa còn mình thì không? Trước phép lạ Chúa Giêsu, các tông đồ đã được chữa lành về phần thiêng liêng, họ đã tận mắt chứng kiến Chúa Giêsu thoả mãn nhu cầu “đói khát” của đám đông. Trước hết Ngài truyền chia họ ra từng nhóm nhỏ: “Anh em hãy bảo họ ngồi thành từng nhóm khoảng năm mươi người một”. Để làm chi? Đó là những cộng đoàn thân thiện, biết về nhau, chung tình thân ái, cùng dự bữa ăn Agapé, chứ không phải một bữa ăn khổng lồ, kẻ thì cao sang, kẻ lại vô danh tiểu tốt, nghĩa là còn loại trừ nhau và xa lạ với nhau. Nhưng đây là những cộng đoàn bác ái cùng chung chia bữa ăn bình đẳng, người cao chức vị không được phần hơn, còn người bé nhỏ cũng không phải chịu thiệt thòi. Mọi người đều được ăn no nê, phần dư người ta thu được mười hai thúng đầy. Giống như các tông đồ xưa. Chúng ta hôm nay cũng được chữa lành khỏi những bệnh mù thiêng liêng, không còn kỳ thị thấp cao, giàu nghèo, sang hèn, người học thức cũng như người ngu đần, da trắng cũng như da màu. Chúng ta không tách biệt khỏi những nhu cầu của anh em đồng loại, bởi vì Hội Thánh là những nhóm nhỏ, biết rõ về nhau, săn sóc những nhu cầu của nhau cho đến chi tiết.
Bài học thứ hai là làm thế nào chúng ta có khả năng nuôi dưỡng thiên hạ? Lời Chúa truyền cho các tông đồ: “Chính anh em hãy cho họ ăn đi” không phải là một lệnh truyền trống rỗng, Chúa Giêsu biết rõ các ông chẳng có gì ngoài năm chiếc bánh và hai con cá. Nhưng ngần ấy cũng đủ để Ngài làm phép lạ miễn là các ông có một tấm lòng. Trong bí tích Thánh Thể chúng ta nhận lãnh hàng ngày Đấng có quyền năng biến đổi cuộc đời chúng ta thành phép lạ, nếu chúng ta dâng hiến toàn thân cho Ngài, không so đo tính toán hơn thiệt. Thánh Thể có thể chữa bệnh ích kỷ, mở mắt cho người ta nhìn thấy những phương tiện nuôi dưỡng kẻ khó nghèo. Thế giới không thiếu lương thực nhưng thiếu lòng nhân ái để phân phát những tặng phẩm của Thiên Chúa. Đức Giêsu hôm nay làm gương để chúng ta noi theo: Mọi người được ăn cùng một thứ bánh, cùng uống một chén rượu mà Ngài tặng ban và sẽ được sống muôn đời nhờ bánh rượu đó. Vậy chúng ta có sẵn sàng chia sẻ cuộc sống của mình với tha nhân? Chia sẻ tình yêu, kiến thức, của cải… để giảm bớt sự nghèo đói của thế giới?
Chúng ta thường có khuynh hướng lãng quên, bí tích Thánh Thể là điểm mốc để nhắc nhớ nhân loại về những ân huệ Chúa ban: “Các con hãy làm việc này để nhớ đến Thầy”. Nhớ đến Chúa Giêsu bởi Ngài là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa, là ơn cứu độ, là sự phục sinh và cuộc sống muôn đời, tóm lại, là hạnh phúc của nhân loại và từng cá nhân sinh ra trong thế gian này. Mỗi lần chúng ta tham dự thánh lễ hay kính thờ Thánh Thể là mỗi lần chúng ta được đổi mới linh hồn, lớn lên trong tình yêu Chúa và tha nhân cho đến khi Chúa lại đến. Thực ra theo cái nhìn cánh chung, mỗi sáng Chúa Giêsu trở lại trong thánh lễ và chúng ta được hạnh phúc tiếp rước Ngài. Cùng với Ngài là muôn vàn ân huệ và hạnh phúc. Nếu sửa soạn tâm hồn cho sốt sắng và xứng đáng, chúng ta sẽ được hưởng đầy đủ niềm vui thiên đàng như nhiều vị thánh đã từng cảm nghiệm. Phiền vì thiếu ý thức và hy sinh nên đa phần tham dự thánh lễ một cách máy móc, ươn lười, uể oải như bị ép buộc. Thành thử chẳng hưởng được những kho tàng quý báu đó; hậu quả là không thể tiến triển về phần thiêng liêng, thụt lùi hoặc dậm chân tại chỗ.
Sâu xa hơn nữa, bí tích Thánh Thể gói ghém trọn vẹn cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu đúng như thời điểm Ngài hy sinh trên thập tự tại núi Sọ. Ngày nay người ta nghệ thuật hoá ảnh tượng bằng tài hoa của mình trên vàng bạc gỗ quý. Thực tế lúc Ngài chịu đóng đinh không phải như vậy. Nó là một cuộc hành hình dã man của đám lính La Mã mất hết tính người; Ngài bị lột trần không mảnh vải che thân, đinh đóng thấu xương, máu chảy đầm đìa, tanh hôi, ruồi nhặng bu đầy, khách qua đường không dám nhìn, bước đi nhanh như sợ bị ô uế hoặc có người buông lời chửi thề. Theo thói thường, cảnh tượng thê lương này kéo dài vài ba ngày, có khi cả tuần, cho đến lúc nạn nhân tắt thở. Trường hợp Chúa Giêsu, Ngài chết nhanh chóng đến nỗi Philatô phải ngạc nhiên (Mc 15,44). Cho nên trong thánh lễ chúng ta đừng vì những trang hoàng bề ngoài mà làm mất tính thô kệch và gồ ghề của mầu nhiệm khổ nạn. Nó tàn nhẫn hơn các cuộc hành quyết bằng ghế điện hay xử bắn ngày nay.
Tóm lại, lễ Mình Máu Thánh Chúa là một cơ hội tốt để người tín hữu suy niệm về tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại tội lỗi, về sức mạnh của sự dữ, về những đau khổ ngày nay mà phần lớn nhân loại còn phải gánh chịu. Chắc chắn trong nhiều thánh đường tín hữu sẽ được rứơc lễ dưới hai hình thức bánh rượu, bởi lẽ chủ tế (Đức Giêsu) đã tuyên bố: Tất cả anh em hãy cầm lấy mà ăn và uống… này là Mình Thầy, này là Máu Thầy. Cho nên, với tất cả tâm tình thờ phượng và biết ơn chúng ta đón nhận bánh và chén ban ơn cứu độ. Cầu xin Ngài thánh hoá linh hồn mình, cuộc sống hàng ngày, anh chị em thân thiết và cả thế gian như Ngài đã nói: “Máu này đổ ra cho muôn người được ơn tha tội” (Mt 26,28). Ước chi nhờ thánh lễ hôm nay chúng ta ý thức hơn sứ mạng của mình là tích cực rao truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng Ngài đã sống lại, cho đến khi Ngài đến xét xử trần gian. Amen.