Những Vần Đề Của Chúng Ta. (bài 3)
Tinh thần Kitô là tinh thần gì? Tôi nghĩ rằng bàn về tinh thần Kitô thì rộng lắm, phong phú và dồi dào lắm. Tôi chỉ xin trình bày sức hiểu của tôi, và tôi tin rằng cũng là sức hiểu của tuyệt đại đa số giáo dân có trình độ giới hạn như tôi, về tinh thần Kitô. Tôi xin thú thực, cái vốn giáo lý của tôi, cái kiến thức về Giáo hội của tôi rất hạn chế.
Ngoài những câu đầu trong cuốn sách “Bổn Dạy Những Lẽ Cần Cho Được Rỗi Linh Hồn” mà tôi học cách đây khoảng sáu mươi năm và vẫn còn nhớ, kiến thức của tôi về đạo Chúa chỉ được thâu thập qua các bài kinh và bài giảng trong nhà thờ. Do đó, đối với tôi, tinh thần Kitô nằm ở đoạn chót của Kinh Mười Điều Răn: “Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ: Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy”.
Câu văn Việt này được diễn tả cách đây khoảng hơn trăm năm, dù ngày nay đọc lại, nghe lại từ ngữ "là lạ", nhưng ý nghĩa rất là thâm thúy. Cũng vậy, hai ngàn năm trước đây, ở một đất nước Do Thái xa xôi, Chúa Giêsu đã trối lại giới răn Yêu Thương, đây cũng là đoạn chót của Kinh Mười Điều Răn.
Đã từ lâu tôi nhận làm Kim Chỉ Nam cho cuộc đời tôi, mà ngày nay tôi hiểu ngắn gọn trong bốn chữ: Kính Chúa, Yêu Người. Và đối với tôi, cái tinh thần Kitô nằm gọn trong bốn chữ ấy. Nói tóm gọn hơn thì tinh thần Kitô nằm ở hai chữ Yêu Người, vì Kính Chúa là việc đương nhiên khi chúng ta còn cảm thấy xứng đáng là Kitô hữu. Vả lại, cái cử chỉ, cái hành động Yêu Người chính là Kính Chúa, bởi vì tôi chắc chẳng ai trong chúng ta có thể quên được lời Chúa Giêsu dạy khi còn ở trần gian, đại ý: “Các ngươi làm cho anh em ta chính là các ngươi làm cho ta”.
Việc Yêu Người, mà tôi cho rằng thể hiện tinh thần Kitô, rất bao quát. Nếu mọi người biết thương yêu nhau, ít ra là biết tìm hiểu nhau, thông cảm nhau, nhường nhịn nhau… thì cuộc sống sẽ chẳng có vấn đề gì cả, và đương nhiên Giáo hội Chúa cũng sẽ chẳng có vấn đề gì cả. Trong nhà thờ, qua các bài kinh, chúng ta vẫn cầu nguyện Chúa xin được “Sống hòa thuận và hiệp nhất”. Chúng ta vẫn chưa hòa thuận và hiệp nhất thì làm sao chúng ta có thể “lo việc tông đồ” và rao giảng tin mừng của Chúa. Vấn đề của chúng ta nó nằm ngay trước mắt, đâu phải khó giải quyết, ‘vấn đề’ là chúng ta có muốn giải quyết hay không.
Trở về với đề tài “Thầy Vianney Bền Chí”, cái ‘lỗi đức yêu người’ ở đây lại là lòng ghen tị, ngay trong hàng ngũ các đấng chăn chiên. Chúng ta dễ thấy là cái lỗi không ở nơi người bị thưa, mà cái lỗi nó lại nằm nơi những người thưa. Có một điều mà tôi lấy làm mừng là sự việc diễn biến vẫn còn trong tinh thần Kitô. Các đồng nghìệp ghen tức với cha Vianney không làm rùm beng lên; các ngài vẫn đi theo “hệ thồng quân giai”, từ cấp lãnh đạo cao kế cận, Đức Cha coi Giáo phận. Tôi nghĩ rằng nội dung của sự thưa gởi đã nói lên cái lòng ghen ghét, ganh tị nhỏ nhen của những con người bình thường, thậm chí còn là sự phóng đại, vu oan nữa. Chúng ta cũng dễ nhận thấy cái tự cao tự đại của những người thưa gởi, cái coi thường người ít học của những người học cao hơn. Thông thường thì có học cao, có kiến thức rộng là cần thiết nhưng chưa phải là đủ. Đem cái vốn học cao hiểu rộng ra áp dụng một cách đúng đắn, mang lại lợi ích cho mình và cho tha nhân mới là điều kiện đủ, mới thể hiện được tinh thần Kitô. Và Đức Cha cũng đã giải quyết vấn đề theo tinh thần Kitô. Đâu phải Đức Cha không nhìn thấy cái lòng ghen tị, nhỏ nhen nơi các vị thưa gởi, nhưng Ngài cho rằng đó chẳng qua chỉ là cái ‘nôn nóng phục vụ’ của các vị, đó chẳng qua là cái bản tính của con người bình thường vẫn còn vương vất nơi các vị, nên thay vì quở trách các vị, Ngài chỉ phán rằng “…nếu là việc Chúa thì sẽ vững bền, ngược lại, nếu là ý riêng của ngài thì thế nào cũng sụp đổ… “.
Đến đây, tôi rất thích cách kết truyện của Đức Cố HY Nguyễn văn Thuận. Ngài viết rằng khi được thuật lại chuyện thì các cha thưa cha Vianney đã thầm nghĩ: “Đáng lẽ cha Vianney phải giận giữ căm thù mình mới phải. Ai ngờ ngài lại ký vào đơn kiện ngài. Thôi ta cứ chờ xem theo như quyết định của Đức Cha”.
Làm sao Đức Cố HY biết được các cha thưa cha Vianney nghĩ gì? Tôi nghĩ rằng đây cũng là cách giải quyết vấn đề theo tinh thần Kitô của Đức Cố HY. Ngài đã mở một con đường cho những người phạm lỗi trở về với lẽ phải. Các vị thưa gởi đã suy nghĩ lại, và trong sự suy nghĩ lại ấy phải chăng có bao gồm tính xét mình và hối hận. Thế nhưng vì lòng tự ái, các vị vẫn chỉ ‘thầm nghĩ’ chứ chưa chịu nói ra. Thêm vào đó, cái điểm chờ ‘quyết định của Đức Cha’ còn nói lên sự tuân phục, sự tin tưởng nơi người lãnh đạo cao hơn mình. Đó chính là tinh thần Kitô.
Tinh thần Kitô là tinh thần gì? Tôi nghĩ rằng bàn về tinh thần Kitô thì rộng lắm, phong phú và dồi dào lắm. Tôi chỉ xin trình bày sức hiểu của tôi, và tôi tin rằng cũng là sức hiểu của tuyệt đại đa số giáo dân có trình độ giới hạn như tôi, về tinh thần Kitô. Tôi xin thú thực, cái vốn giáo lý của tôi, cái kiến thức về Giáo hội của tôi rất hạn chế.
Ngoài những câu đầu trong cuốn sách “Bổn Dạy Những Lẽ Cần Cho Được Rỗi Linh Hồn” mà tôi học cách đây khoảng sáu mươi năm và vẫn còn nhớ, kiến thức của tôi về đạo Chúa chỉ được thâu thập qua các bài kinh và bài giảng trong nhà thờ. Do đó, đối với tôi, tinh thần Kitô nằm ở đoạn chót của Kinh Mười Điều Răn: “Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ: Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy”.
Câu văn Việt này được diễn tả cách đây khoảng hơn trăm năm, dù ngày nay đọc lại, nghe lại từ ngữ "là lạ", nhưng ý nghĩa rất là thâm thúy. Cũng vậy, hai ngàn năm trước đây, ở một đất nước Do Thái xa xôi, Chúa Giêsu đã trối lại giới răn Yêu Thương, đây cũng là đoạn chót của Kinh Mười Điều Răn.
Đã từ lâu tôi nhận làm Kim Chỉ Nam cho cuộc đời tôi, mà ngày nay tôi hiểu ngắn gọn trong bốn chữ: Kính Chúa, Yêu Người. Và đối với tôi, cái tinh thần Kitô nằm gọn trong bốn chữ ấy. Nói tóm gọn hơn thì tinh thần Kitô nằm ở hai chữ Yêu Người, vì Kính Chúa là việc đương nhiên khi chúng ta còn cảm thấy xứng đáng là Kitô hữu. Vả lại, cái cử chỉ, cái hành động Yêu Người chính là Kính Chúa, bởi vì tôi chắc chẳng ai trong chúng ta có thể quên được lời Chúa Giêsu dạy khi còn ở trần gian, đại ý: “Các ngươi làm cho anh em ta chính là các ngươi làm cho ta”.
Việc Yêu Người, mà tôi cho rằng thể hiện tinh thần Kitô, rất bao quát. Nếu mọi người biết thương yêu nhau, ít ra là biết tìm hiểu nhau, thông cảm nhau, nhường nhịn nhau… thì cuộc sống sẽ chẳng có vấn đề gì cả, và đương nhiên Giáo hội Chúa cũng sẽ chẳng có vấn đề gì cả. Trong nhà thờ, qua các bài kinh, chúng ta vẫn cầu nguyện Chúa xin được “Sống hòa thuận và hiệp nhất”. Chúng ta vẫn chưa hòa thuận và hiệp nhất thì làm sao chúng ta có thể “lo việc tông đồ” và rao giảng tin mừng của Chúa. Vấn đề của chúng ta nó nằm ngay trước mắt, đâu phải khó giải quyết, ‘vấn đề’ là chúng ta có muốn giải quyết hay không.
Trở về với đề tài “Thầy Vianney Bền Chí”, cái ‘lỗi đức yêu người’ ở đây lại là lòng ghen tị, ngay trong hàng ngũ các đấng chăn chiên. Chúng ta dễ thấy là cái lỗi không ở nơi người bị thưa, mà cái lỗi nó lại nằm nơi những người thưa. Có một điều mà tôi lấy làm mừng là sự việc diễn biến vẫn còn trong tinh thần Kitô. Các đồng nghìệp ghen tức với cha Vianney không làm rùm beng lên; các ngài vẫn đi theo “hệ thồng quân giai”, từ cấp lãnh đạo cao kế cận, Đức Cha coi Giáo phận. Tôi nghĩ rằng nội dung của sự thưa gởi đã nói lên cái lòng ghen ghét, ganh tị nhỏ nhen của những con người bình thường, thậm chí còn là sự phóng đại, vu oan nữa. Chúng ta cũng dễ nhận thấy cái tự cao tự đại của những người thưa gởi, cái coi thường người ít học của những người học cao hơn. Thông thường thì có học cao, có kiến thức rộng là cần thiết nhưng chưa phải là đủ. Đem cái vốn học cao hiểu rộng ra áp dụng một cách đúng đắn, mang lại lợi ích cho mình và cho tha nhân mới là điều kiện đủ, mới thể hiện được tinh thần Kitô. Và Đức Cha cũng đã giải quyết vấn đề theo tinh thần Kitô. Đâu phải Đức Cha không nhìn thấy cái lòng ghen tị, nhỏ nhen nơi các vị thưa gởi, nhưng Ngài cho rằng đó chẳng qua chỉ là cái ‘nôn nóng phục vụ’ của các vị, đó chẳng qua là cái bản tính của con người bình thường vẫn còn vương vất nơi các vị, nên thay vì quở trách các vị, Ngài chỉ phán rằng “…nếu là việc Chúa thì sẽ vững bền, ngược lại, nếu là ý riêng của ngài thì thế nào cũng sụp đổ… “.
Đến đây, tôi rất thích cách kết truyện của Đức Cố HY Nguyễn văn Thuận. Ngài viết rằng khi được thuật lại chuyện thì các cha thưa cha Vianney đã thầm nghĩ: “Đáng lẽ cha Vianney phải giận giữ căm thù mình mới phải. Ai ngờ ngài lại ký vào đơn kiện ngài. Thôi ta cứ chờ xem theo như quyết định của Đức Cha”.
Làm sao Đức Cố HY biết được các cha thưa cha Vianney nghĩ gì? Tôi nghĩ rằng đây cũng là cách giải quyết vấn đề theo tinh thần Kitô của Đức Cố HY. Ngài đã mở một con đường cho những người phạm lỗi trở về với lẽ phải. Các vị thưa gởi đã suy nghĩ lại, và trong sự suy nghĩ lại ấy phải chăng có bao gồm tính xét mình và hối hận. Thế nhưng vì lòng tự ái, các vị vẫn chỉ ‘thầm nghĩ’ chứ chưa chịu nói ra. Thêm vào đó, cái điểm chờ ‘quyết định của Đức Cha’ còn nói lên sự tuân phục, sự tin tưởng nơi người lãnh đạo cao hơn mình. Đó chính là tinh thần Kitô.