CHƯƠNG I

VIỆC ĐIỀU HÀNH PHỤNG VỤ





14. “Việc điều hành Phụng Vụ thánh chỉ thuộc về Giáo quyền, tức Tông Toà và Giám Mục trong quyền hạn luật định”34.

15. Giáo hoàng, “Đấng Đại Diện Chúa Kitô và Chủ Chăn của toàn thể Hội Thánh trên trái đất, vì nhiệm vụ của ngài, có quyền thường xuyên, tối thượng, toàn vẹn, trực tiếp và phổ quát mà ngài có thể luôn thực thi cách tự do35, đặc biệt khi giao tiếp với các chủ chăn và tín hữu.

16. Toà Thánh có quyền tổ chức Phụng Vụ thánh của Hội Thánh toàn cầu, biên soạn các sách phụng vụ, nhìn nhận các bản dịch sang tiếng địa phương và chăm lo cho các quy luật phụng vụ được trung thành tuân giữ khắp nơi, đặc biệt những luật quy định việc cử hành Hy Tế Thánh Lễ36.

17. Bộ Phụng Tự Thánh và Kỷ Luật Bí Tích lo tất cả những gì thuộc Tông Toà liên quan đến việc quy định và cổ võ Phụng Vụ thánh, trước tiên là các bí tích. Bộ để ý đến kỷ luật các bí tích, đặc biệt là tính thành sự và tính hợp pháp của việc cử hành các bí tích. Cuối cùng, “Bộ chú tâm theo dõi để các quy định phụng vụ được tuân giữ đúng đắn, ngăn ngừa các lạm dụng trong lãnh vực này và chấm dứt các lạm dụng khi khám phá ra chúng”37. Trong lãnh vực này, theo truyền thống của Hội Thánh, phải chú ý đặc biệt đến việc cử hành Thánh Lễ, và việc thờ phượng dành cho Bí tích Thánh Thể, kể cả ngoài Thánh Lễ.

18. Các tín hữu có quyền đòi quyền bính Hội Thánh điều hành Phụng Vụ thánh hoàn toàn và cách hiệu quả, để cho Phụng Vụ thánh không bao giờ thành “sở hữu riêng tư của ai, dù là vị chủ tế hoặc là cộng đoàn nơi đó các Mầu Nhiệm được cử hành38.

1. GIÁM MỤC GIÁO PHẬN, THƯỢNG TẾ CỦA ĐÀN CHIÊN MÌNH

19. Giám Mục giáo phận là người phân phát chính các Mầu Nhiệm Thiên Chúa trong Hội Thánh địa phương được trao phó cho ngài, nên ngài là người tổ chức, cổ võ và bảo vệ toàn bộ đời sống phụng vụ39. Thật vậy, “Giám Mục, vì đã lãnh nhận cách sung mãn bí tích Truyền Chức, nên có trách nhiệm phân phát ân sủng của chức tư tế tối cao”40, cách đặc biệt trong Bí tích Thánh Thể mà chính ngài dâng hoặc ngài đảm bảo việc dâng41, và từ đó Hội Thánh tiếp nhận liên tục sự sống và tăng trưởng”42.

20. Hội Thánh biểu lộ mình cách rõ ràng nhất mỗi khi các Thánh Lễ trọng thể được cử hành, nhất là tại nhà thờ chánh toà, “với sự tham dự đầy đủ và tích cực của toàn thể dân Chúa, […] trong cùng một kinh nguyện, gần bàn thờ duy nhất nơi giám mục chủ sự”, có linh mục đoàn, các phó tế và các thừa tác viên khác bao quanh43. Hơn nữa, “mọi cử hành hợp pháp Bí tích Thánh Thể đều do Giám mục điều khiển, vì ngài được trao phó nhiệm vụ dâng lên Tôn Nhan uy nghi Chúa việc phụng thờ Kitô giáo và xếp đặt việc phụng thờ này theo các lệnh truyền của Chúa và theo các luật lệ của Hội Thánh, mà ngài đưa ra cho giáo phận mình những quy định cụ thể, theo sự phán đoán riêng của ngài”44.

21. Thật vậy, “trong vấn đề phụng vụ, Giám Mục giáo phận có bổn phận đưa ra cho Hội Thánh được trao phó cho mình và trong giới hạn của thẩm quyền mình những quy tắc mà mọi người buộc phải tuân giữ”45. Tuy nhiên, Giám Mục phải luôn luôn chú ý đừng gây thiệt hại cho tự do thích nghi một cách đúng đắn việc cử hành theo thánh đường, hoặc theo nhóm tín hữu, hoặc theo các hoàn cảnh mục vụ, như các quy luật phụng vụ đã dự liệu, hầu cho toàn bộ nghi thức thánh được thích nghi thực sự với tâm thức người dự46.

22. Giám Mục điều khiển Hội Thánh địa phương được trao phó cho mình47, nên ngài có bổn phận quy định, điều khiển, khuyến khích, đôi khi quở trách48, để, thể theo phận vụ thánh mà ngài đã lãnh nhận ngày chịu chức giám mục49, ngài xây dựng đoàn chiên trong chân lý và trong thánh thiện50. Ngài có bổn phận giải thích ý nghĩa đích thực của các nghi thức và các bản văn phụng vụ, và ngài có phận vụ lấy tinh thần Phụng Vụ thánh mà nuôi dưỡng các linh mục, phó tế và giáo dân51, để tất cả họ cử hành Bí tích Thánh Thể cách tích cực và hiệu quả52. Sau cùng, Giám Mục cũng lo sao cho toàn bộ thân thể Hội Thánh có thể đồng tâm tiến triển trong sự duy nhất của đức ái trên bình diện giáo phận, quốc gia và toàn cầu53.

23. Các tín hữu “phải gắn bó với Giám Mục của mình như Hội Thánh gắn bó với Chúa Giêsu Kitô và như Chúa Giêsu Kitô gắn bó với Cha Người, để mọi sự quy tụ trong hiệp nhất và nên phong phú cho vinh quang Thiên Chúa”54. Mọi người, kể cả các phần tử dòng tu và Hội tông đồ, cũng như các hiệp hội hoặc phong trào thuộc bất cứ loại nào, phải tùng phục quyền bính của Giám Mục giáo phận trong tất cả những gì liên quan đến Phụng Vụ55, ngoại trừ những quyền lợi họ có được cách hợp pháp. Vậy, Giám Mục giáo phận có quyền và bổn phận giám sát cần mẫn về phụng vụ và với tư cách đó viếng thăm các thánh đường và nguyện đường, nằm trên lãnh thổ mình, kể cả những thánh đường và nguyện đường được thành lập hoặc được điều khiển bởi các phần tử của các hội nói trên, nếu các tín hữu thường xuyên đến đó56.

24. Về phần mình, dân Kitô có quyền đòi hỏi Giám Mục giáo phận quan tâm đừng để các lạm dụng len lỏi vào trong kỷ luật của Hội Thánh, nhất là trong những gì liên quan đến thừa tác vụ Lời, việc cử hành các bí tích và phụ tích, việc thờ phượng Thiên Chúa và các thánh57.

25. Các uỷ ban, các hội đồng do Giám Mục đặt ra với mục đích “cổ xuý hoạt động phụng vụ, cũng như âm nhạc và nghệ thuật thánh trong giáo phận”, phải hành động phù hợp với tư tưởng và các quy luật của Giám Mục, và họ phải dựa vào quyền bính và sự phê chuẩn của ngài mà thi hành cách thích hợp nhiệm vụ của họ58, hầu quyền bính hữu hiệu của Giám Mục trong giáo phận mình được đảm bảo. Về tất cả những nhóm, các hội, và tất cả những ai đưa ra những sáng kiến trong lãnh vực phụng vụ, thì các Giám Mục phải nhanh chóng tìm hiểu xem các hoạt động của họ cho đến bây giờ có mang lại kết quả tốt không59; các ngài cần chú tâm nhận định điều gì nên sửa hoặc điều gì nên cải tiến cần đưa vào trong cấu trúc và hoạt động của chúng60, để chúng có được sức mạnh mới. Phải luôn luôn nhớ rằng các chuyên viên cần phải được chọn trong số những người chứng tỏ có đức tin công giáo vững mạnh và được đào tạo kỹ trong những lãnh vực thần học và văn hoá.

2. HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC

26. Điều nói đến trên đây cũng có giá trị cho các uỷ ban phụng vụ, mà theo yêu cầu của Công đồng61, được Hội Đồng Giám Mục thành lập. Các thành phần của các uỷ ban này phải là các Giám mục, mà cần phải phân biệt rõ với các chuyên viên trợ lực. Trong trường hợp số các thành viên của Hội Đồng Giám Mục không đủ, và do đó gây khó khăn cho việc tuyển chọn hoặc thiết lập uỷ ban phụng vụ, thì phải bổ nhiệm một hội đồng hoặc một nhóm chuyên viên được đặt luôn luôn dưới quyền chủ tịch của một Giám mục; dù vẫn tận sức chu toàn nhiệm vụ, hội đồng này hoặc nhóm này nên luôn luôn tránh gọi là “uỷ ban phụng vụ”.

27. Từ năm 197062, Tông Toà đã cho biết mọi thử nghiệm phụng vụ liên quan đến việc cử hành Thánh Lễ phải đình chỉ, và Tông Toà đã lặp lại cấm chỉ này vào năm 198863. Do đó, mỗi Giám mục, cũng như Hội Đồng Giám Mục, không còn có năng quyền cho phép các thử nghiệm liên quan đến bản văn phụng vụ và những chuyện khác được quy định trong các sách phụng vụ. Để có thể làm những thử nghiệm thuộc loại này trong tương lai, cần thiết phải có phép của Bộ Phụng Tự thánh và Kỷ Luật Bí Tích. Bộ này sẽ chấp thuận bằng văn bản, thể theo đơn xin của Hội Đồng Giám Mục. Một ban phép như thế chỉ cho vì một lý do nghiêm trọng. Trong vấn đề liên quan đến các dự án hội nhập văn hoá trong lãnh vực phụng vụ, phải tuân giữ nghiêm và toàn vẹn các quy luật được thiết lập về vấn đề ấy64.

28. Mọi quy luật liên quan đến phụng vụ, được một Hội Đồng Giám Mục ấn định, theo các quy tắc của luật, cho lãnh thổ của mình, phải được trình để có recognitio của Bộ Phụng Tự thánh và Kỷ Luật Bí Tích, mà nếu không có thì không mang tính chất bó buộc nào65.

3. CÁC LINH MỤC

29. Các linh mục, cộng tác viên trung thực, khôn ngoan và cần thiết của hàng giám mục66, được mời gọi phục vụ dân Chúa, và cùng với Giám mục mình làm nên một presbyterium67 với những phận vụ khác nhau. “Ở mỗi nơi có một cộng đoàn tín hữu, các linh mục làm cho Giám mục hiện diện một cách nào đó, mà các ngài liên kết với con tim tín cẩn và quảng đại. Các ngài đảm nhận nhiệm vụ và mối quan tâm của Giám mục, thực thi chúng khi chăm sóc hàng ngày các tín hữu”. Và “vì các linh mục tham dự vào chức tư tế và sứ vụ của Giám mục của họ, các linh mục phải coi ngài như cha họ và vâng phục ngài cách kính trọng”68. Hơn nữa, “vì không ngừng nhắm đến điều thiện ích cho con cái Thiên Chúa, các linh mục phải nhiệt thành góp công sức vào công trình mục vụ của toàn giáo phận, hơn thế nữa của toàn Hội Thánh”69.

30. “Trong việc cử hành Bí tích Thánh Thể”, các linh mục có trách nhiệm lớn, vì các ngài chủ toạ in persona Christi, đưa ra chứng từ và phục vụ sự hiệp thông không những đối với cộng đoàn tham dự trực tiếp vào buổi cử hành, mà còn đối với Hội Thánh toàn cầu, luôn luôn có liên hệ với Bí tích Thánh Thể. Phải lấy làm buồn, nhất là từ những năm cải tổ hậu công đồng, vì hiểu sai việc sáng tạo và thích nghi, mà xảy ra nhiều lạm dụng, gây nên đau khổ cho nhiều người”70.

31. Khi sống phù hợp với sự dấn thân đã cam kết trong nghi thức Truyền Chức thánh và được lặp lại hằng năm trong Thánh Lễ Dầu, các linh mục phải cử hành “sốt sắng và trung thành các mầu nhiệm của Chúa Kitô, đặc biệt trong Hy Tế Thánh Thể và bí tích hoà giải, theo đúng truyền thống của Hội Thánh, để ca tụng Thiên Chúa và thánh hoá dân Kitô”71. Vậy, các ngài không được đánh mất ý nghĩa sâu xa của thừa tác vụ của mình, khi tuỳ tiện làm biến dạng buổi cử hành phụng vụ bằng các thay đổi, bỏ sót hoặc thêm thắt72. Thật vậy, như thánh Ambrôsiô nói : “Hội Thánh không bị thương tổn nơi mình, [….} nhưng nơi chúng ta. Vậy, hãy coi chừng đừng gây thương tích cho Hội Thánh vì lỗi của chúng ta”73. Cho nên phải chú ý để Hội Thánh khỏi bị thương tổn vì các linh mục, đã dâng đời mình cách trọng thể cho thừa tác vụ. Ngược lại, các ngài phải trung thành canh chừng, dưới quyền của Giám mục, sao cho các hành vi làm biến dạng phụng vụ không bị người khác phạm phải.

32. “Cha xứ phải chăm lo sao cho Bí tích Thánh Thể trở thành trung tâm của cộng đoàn tín hữu giáo xứ; ngài phải cố gắng làm cho tín hữu được dẫn dắt và nuôi dưỡng bởi việc cử hành sốt sắng các bí tích và đặc biệt làm cho tín hữu thường xuyên đến với Bí tích Thánh Thể và Bí tích Thống Hối; ngài cũng cố gắng dạy họ cầu nguyện, kể cả trong gia đình, và làm cho họ tham dự cách ý thức và tích cực vào phụng vụ thánh mà ngài với tính cách là cha xứ, dưới quyền của Giám mục giáo phận, phải điều khiển trong giáo xứ của ngài, và ngài phải canh chừng đừng để lạm dụng nào len lỏi vào”74. Để chuẩn bị cách thoả đáng các buổi cử hành phụng vụ, đặc biệt là Thánh Lễ, cha xứ nên nhờ sự trợ giúp của vài tín hữu, nhưng ngài không được nhường cho họ điều thuộc nhiệm vụ ngài trong lãnh vực phụng vụ.

33. Sau cùng, “mọi linh mục phải lo trau giồi kiến thức và nghệ thuật phụng vụ, để thừa tác vụ phụng vụ của họ giúp các cộng đoàn Kitô hữu được giao phó cho các ngài ca tụng Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần cách luôn luôn hoàn hảo hơn. Nhất là, các ngài phải thấm nhuần tâm tình thán phục và kinh ngạc, mà mầu nhiệm phục sinh, được cử hành trong Bí tích Thánh Thể, làm phát sinh trong tâm hồn các tín hữu76.

4. CÁC PHÓ TẾ

34. Các phó tế “được đặt tay không phải nhằm chức tư tế, mà nhằm việc phục vụ”77, các thầy phải là những người có tiếng tốt78, và phải cư xử sao với sự trợ giúp của Thiên Chúa, các thầy được nhìn nhận như là những môn đệ đích thực của Đấng79 “không đến để được phục vụ, mà để phục vụ”80 và ở giữa các môn đệ Người “như là người phục vụ”81. Hơn nữa, các phó tế được củng cố bởi ân huệ Chúa Thánh Thần mà họ đã lãnh nhận khi được đặt tay, để phục vụ dân Chúa, trong sự hiệp thông với Giám mục và linh mục đoàn của ngài82. Chính vì thế họ phải coi Giám mục như người cha, và phải giúp đỡ ngài, cũng như các linh mục “trong thừa tác vụ lời, bàn thờ và bác ái”83.

35. Họ đừng bao giờ quên “gìn giữ mầu nhiệm đức tin trong một lương tâm trong sạch84, và công bố đức tin ấy qua lời nói và hành động của mình, với lòng trung thành với Tin Mừng và truyền thống của Hội Thánh”85. Họ phải phục vụ hết lòng, cách trung thành và khiêm cung, Phụng Vụ thánh là nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống Hội Thánh, “để mọi người, một khi trở nên con cái Thiên Chúa nhờ đức tin và phép rửa, họ tập họp, ca tụng Thiên Chúa giữa lòng Hội Thánh, tham dự vào Hy Lễ và dùng Bữa Tiệc Ly của Chúa”86. Vậy mọi phó tế có bổn phận làm cho Phụng Vụ thánh được cử hành theo các quy luật ghi trong các sách phụng vụ được phê chuẩn phải phép.

Bản dịch của

Lm. FX. NGUYỄN CHÍ CẦN

Giáo sư Phụng Vụ

Đại Chủng Viện SAO-BIỂN NHATRANG



34 Công đồng chung Vatican II Hiến chế về Phụng vụ Sacrosanctum Concilium, n. 22 § 1. Cf. Bộ Giáo Luật, can. 838 § 1.

35 Bộ Giáo Luật, can. 331; cf. CÔNG ĐỒNG CHUNG Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, n. 22.

36 Cf. Bộ Giáo Luật, can. 838 § 2.

37 Jean-Paul II, Tông hiến Pastor bonus, 28/6/1988: AAS 80 (1988) pp. 841-924; ở đây art. 62, 63 et 66, pp. 876-877.

38 Cf. Jean-Paul II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia, n. 52: AAS 95 (2003) p. 468.

39 Cf. Công đồng chung Vatican II, Sắc lệnh về nhiệm vụ mục tử của các giám mục trong Giáo Hội Christus Dominus, 28/10/1965, n. 15; cf. Hiến chế về Phụng vụ Sacrosanctum Concilium, n. 41; Bộ Giáo Luật, can. 387.

40 Lời nguyện phong chức giám mục trong nghi lễ byzantin: Euchologion to mega, Rome, 1873, p. 139.

41 Cf. S. Ignace d’Antioche, Ad Smyrn. 8, 1: ed. F.X. Funk, I, p. 282.

42 Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, n. 26; cf. THÁNH BỘ NGHI LỄ, Huấn thị Eucharisticum mysterium, n. 7: AAS 59 (1967) p. 545; cf. Jean-Paul II, Tông huấn Pastores gregis, 16/10/2003, nn. 32-41: L’Osservatore Romano, 17/10/ 2003, pp. 6-8.

43 Cf. Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về Phụng vụ Sacrosanctum Concilium, n. 41; cf. S. Ignace d’Antioche, Ad Magn. 7; Ad Philad. 4; Ad Smyrn. 8: ed. F.X. FUNK, I, pp. 236, 266, 281; Missale Romanum, Institutio Generalis, n. 22; cf. Bộ Giáo Luật, can. 389.

44 Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen gentium, n. 26.

45 Bộ Giáo Luật, Can. 838 § 4.

46 Cf. Consilium pour l’application de la Constitution sur la Liturgie, Dubium: Notitiae 1 (1965) p. 254.

47 Cf. Ac 20, 28; Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen gentium, nn. 21 et 27; Sắc lệnh về nhiệm vụ mục tử của các giám mục trong Giáo Hội Christus Dominus, n. 3.

48 Cf. T. BỘ PHỤNG TỰ THÁNH, Huấn thị Liturgicae instaurationes, 5/7/ 1970: AAS 62 (1970) p. 694.

49 Cf. Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen gentium, n. 21; Sắc lệnh về nhiệm vụ mục tử của các giám mục trong Giáo Hội Christus Dominus, n. 3.

50 Cf. Caeremoniale Episcoporum, ex decreto sacrosanci Oecumenici Concilii Vaticani II instauratum, auctoritate Ioannis Pauli Pp. II promulgatum, editio typica, 14/9/1984, Typis Polyglottis Vaticanis, 1985, n. 10.

51 Cf. Missale Romanum, Institutio Generalis, n. 387.

52 Cf. ibidem, n. 22.

53 Cf. T. BỘ PHỤNG TỰ THÁNH, Huấn thị Liturgicae instaurationes : AAS 62 (1970) p. 694.

54 Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen gentium, n. 27; cf. 2 Co 4, 15.

55 Cf. Bộ Giáo Luật, can. 397 § 1; 678 § 1.

56 Cf. ibidem, can. 683 § 1.

57 Cf. ibidem, can. 392.

58 Cf. Jean-Paul II, Tông thư Vicesimus quintus annus, n. 21: AAS 81 (1989) p. 917; CÔNG ĐỒNG CHUNG Vatican II, Hiến chế về Phụng vụ Sacrosanctum Concilium, nn. 45-46; Pie XII, Thông điệp Mediator Dei : AAS 39 (1947) p. 562.

59 Cf. Jean-Paul II, Tông thư Vicesimus quintus annus, n. 20: AAS 81 (1989) p. 916.

60 Cf. ibidem.

61 Cf. Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về Phụng vụ Sacrosanctum Concilium, n. 44; BỘ GIÁM MỤC, Lettre aux Prsidents des Confrences des vques, envoye aussi au nom de la Congrgation pour l’vanglisation des Peuples, 21/6/1999, n. 9: AAS 91 (1999) p. 999.

62 Cf. BỘ PHỤNG TỰ THÁNH, Huấn thị Liturgicae instaurationes, n. 12: AAS 62 (1970) pp. 692-704, ici p. 703.

63 Cf. BỘ PHỤNG TỰ THÁNH, Dclaration sur les Prires eucharistiques et les exprimentations liturgiques, 21/3/1988: Notitiae 24 (1988) pp. 234-236.

64 Cf. BỘ PHỤNG TỰ THÁNH VÀ KỶ LUẬT BÍ TÍCH, Huấn thị Varietates legitimae : AAS 87 (1995) pp. 288-314.

65 Cf. Bộ Giáo Luật, can. 838 § 3; T. BỘ NGHI LỄ, Huấn thị Inter Oecumenici, 26/9/1964, n. 31: AAS 56 (1964) p. 883; BỘ PHỤNG TỰ THÁNH VÀ KỶ LUẬT BÍ TÍCH, Huấn thị Liturgiam authenticam, nn. 79-80: AAS 93 (2001) pp. 711-713.

66 Cf. Công đồng chung II, Sắc lệnh về chức vụ và đời sống các linh mục Presbyterorum ordinis, 7/12/1965, n. 7; Pontificale Romanum, ed. 1962: Ordo consecrationis sacerdotalis, in Praefatione; Pontificale Romanum, ex decreto sacrosancti Oecumenici Concilii Vaticani II renovatum, auctoritate Pauli Pp. VI editum, Ioannis Pauli Pp. II cura recognitum : De Ordinatione Episcopi, presbyterorum et diaconorum, editio typica altera, diei 29 iunii 1989, Typis Polyglottis Vaticanis, 1990, cap. II, De Ordin. presbyterorum, Praenotanda, n. 101.

67 Cf. S. Ignace d’Antioche, Ad Philad. 4: ed. F.X. Funk, I, p. 266; S. Corneille I pape, trích dẫn bởi S. Cyprien, Epist. 48, 2: ed G. Hartel, III, 2, p. 610.

68 Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen gentium, n. 28.

69 Ibidem. < br>70 Jean-Paul II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia, n. 52; cf. n. 29: AAS 95 (2003) pp. 467-468; 452-453.

71 Pontificale Romanum, De Ordinatione Episcopi, presbyterorum et diaconarum, editio typica altera: De Ordinatione presbyterorum, n. 124; cf. Missale Romanum, Feria V in Hebdomada Sancta: Ad Missam chrismatis, Renovatio promissionum sacerdotalium, p. 292.

72 Cf. Công đồng chung Trente, Session VII, 3 mars 1547, Sắc lệnh về các bí tích, can. 13: DS 1613; Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về Phụng vụ Sacrosanctum Concilium, n. 22; Pie XII, Thông điệp Mediator Dei : AAS 39 (1947) pp. 544, 546-547, 562; Bộ Giáo Luật, can. 846 § 1; Missale Romanum, Institutio Generalis, n. 24.

73 S. Ambroise, De Virginitate, n. 48: PL 16, 278.

74 Bộ Giáo Luật, can. 528 § 2.

75 Công đồng chung Vatican II, Sắc lệnh về chức vụ và đời sống các linh mục Presbyterorum ordinis, n. 5.

76 Cf. Jean-Paul II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia, n. 5: AAS 95 (2003) p. 436.

77 Công đồng chung Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen gentium, n. 29; cf. Constitutiones Ecclesiae Aegypticae, III, 2: ed F.X. Funk, Didascalia, II, p. 103; Statuta Ecclesiae Ant., 37-41: Ed. D. Mansi 3, 954.

78 Cf. Ac 6, 3.

79 Cf. Jn 13, 35.

80 Mt 20, 28.

81 Lc 22, 27.

82 Cf. Caeremoniale Episcoporum, nn. 9, 23. Cf. Công Đồng CHUNG Vatican II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen gentium, n. 29.

83 Cf. Pontificale Romanum, De Ordinatione Episcopi, presbyterorum et diaconorum, editio typica altera, cap. III, De Ord. diaconarum, n. 199.

84 Cf. 1 Tm 3, 9.

85 Cf. Pontificale Romanum, De Ordinatione Episcopi, presbyterorum et diaconorum, editio typica altera, cap. III, De Ordin. diaconorum, n. 200.

86 Công đồng chung Vatican II, Hiến chế về Phụng vu thánh Sacrosanctum Concilium, n. 10.