NHÀ THỜ CHÍNH TÒA ST. JAMES

Sáng Chúa nhật (16-05-2004), chúng tôi tham dự Thánh lễ tại ngôi thánh đường St James, nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Seattle. Hôm đó cũng là ngày Lễ các Bà Mẹ. Nhìn quang cảnh các giáo dân đảm trách những phần vụ trong ca đoàn, rước kiệu Đức Mẹ, giúp lễ…cũng như các giáo dân tham dự thánh lễ, tất cả đều chung một tâm hồn, không có sự chia cách.

Linh mục chánh xứ tuy chủ lễ nhưng không có gì nỗi bật nơi vai trò lãnh đạo cộng đoàn. Ngài chỉ thi hành nhiệm vụ mục tử của mình, cũng như các giáo dân khác làm tròn những bổn phận như thừa tác viên Thánh Thể, đọc sách, hát xướng, giúp lễ mà thôi.

Thái độ nhịp nhàng hòa nhã đó tương phản với những điều đang xảy ra thường ngày nơi các cộng đoàn Công Giáo Việt-Nam, như Nguyễn Sông Núi đã ghi lại trong sách « Ai Sẽ Lên Núi Giavê ? » (trang 107) :

« Bạn tôi ở Virginia trong điện thoại tâm sự với tôi về sự tức giận của mình đối với ông thừa tác viên Thánh Thể ở cộng đoàn đã từ chối không cho con mình rước lễ chỉ vì cháu bé không đưa tay ra để nhận bánh thánh đúng cách ‘ngài’ muốn. »

CHÚC BÌNH AN QUA GIÒNG NƯỚC MẮT

Đến giờ chúc bình an, những người xung quanh tôi vẫn niềm nở bắt tay mọi người, kể cả một đôi nam đồng tính ngồi phía trước. Bình an của Chúa Kitô đến với mọi người, kể cả những kẻ bị gạt ra ngoài lề xã hội.

Nhưng đối với tôi, cái chúc bình an cảm động nhất được ghi lại trong sách « Ai Sẽ Lên Núi Giavê ? » của Nguyễn Sông Núi (trang 119-121) :

« Như gần 100 anh chị em, đa số là bạn trẻ, tôi đi một vòng để nói lời chúc bình an của Chúa cho từng người. Khi tôi đến cuối vòng, tức đến những bạn cuối cùng, thì tôi thấy một chị chan hòa nước mắt. Chắc chắn chị đã khóc khi chúc bình an cho các bạn trước lúc tôi đến với chị. Tôi hơi ngỡ ngàng, rồi tôi cố gắng cầm giữ sự bồi hồi xúc động dâng lên trong lòng mình.

‘Bình an của Chúa ở cùng chị ! »

‘Bình an của Chúa ở cùng cha !’

Những lời chân thành tha thiết của chị dành cho tôi với nước mắt của chị tuôn trào như mưa. Sau khi chúc bình an cho tôi, chị tiếp tục chúc bình an cho những người còn lại với suối nước mắt của chị.

Trong một thoáng ý nghĩ, tôi tin rằng chính Chúa đã làm cho chị xúc động mãnh liệt như thế. Rồi tôi nhớ lại vài điều mà một người bạn của chị sáng nay đã nói với tôi về hoàn cảnh đau buồn của chị.

Chị là một Phật tử, kết hôn với người yêu Công giáo. Vợ chồng được Chúa ban tặng một trai và một gái rất dễ thương, nhưng rồi cuộc chung sống chấm dứt khi người chồng bỏ đi, không hy vọng tái hợp với vợ con mình nữa…

Tình yêu, tình nghĩa lứa đôi và hạnh phúc thật quá mỏng manh. Mọi sự trong đời sống chúng ta chỉ là mây trời bay bay !

Chị đã khóc cho phận mình dệt bằng bao ước mơ, rồi mơ ước không tròn đầy;

Chị đã khóc cho tình yêu tưởng đã huy hoàng lên ngôi, nhưng nó cất cánh, để lại những kỷ niệm hồng;

Chị đã khóc cho những nguyện thề mãi mãi ở với nhau, bên nhau, nhưng rồi chúng tan theo các cơn mưa phùn;

Chị đã khóc cho nỗi cô đơn thiếu phụ trước nắng mưa cuộc đời và gánh nặng đối với các con thơ vô tội không được diễm phúc lớn lên trong vòng tay ôm ấp yêu thương của cha mẹ;

Chị đã khóc cho những buồn tủi đi về nhọc nhằn giấu kín đớn đau trong trái tim và kinh nguyện âm thầm.

Hôm nay chị bật khóc, khóc hồn nhiên như trẻ thơ, vì chị cảm nghiệm được Chúa đến trong hoàn cảnh bi đát đời mình. Ngài đứng trước mặt chị, đứng giữa chị và các con của chị, và Ngài yêu thương nói : ‘Chúc chị được bình an !’

Ôi lời Ngài vang dội trong tấm lòng tan nát của chị. Chị uống lấy lời dịu ngọt của Ngài, rồi chị cảm động vô vàn đến không thể cầm được nước mắt. »


HIỆN HỮU CUỘC ĐỜI

Khi tôi ghi lại những giòng nhật ký tĩnh tâm nầy (19-05-2004) tại Vancouver BC Canada thì cũng là lúc đông đảo giáo dân và lương dân đang tham dự lễ an táng cha cố Đa Minh Ngô Hưng Nghĩa ở Calgary. Lúc còn trẻ, khoảng năm 1948, ngài hoạt động cách mạng, bị bắt vào trại Lý Bá Sơ ở Đầm Đùn cùng với người anh ngài là linh mục. Ngài vượt ngục thành công. Sau đó đi tu Dòng Đa Minh, du học tại Hồng Kông.

Cuộc đời linh mục của ngài nhắm tới việc phục vụ tha nhân, không phân biệt lương giáo. Ngài ra đi cũng nằm trong định luật « sinh ký tử qui ».

Trong khi tôi đang suy nghĩ miên man về sự sống chết thì bên ngoài trời đổ mưa như trút nước. Một tiếng sét kinh hồn vang lên. Bài thơ « Hiện hữu cuộc đời là sự thật ! » của Linh Vũ đăng trong Tuyển Tập Linh Mục xuất bản năm 1992 đã đưa tôi về với thực tại :

« Hiện hữu cuộc đời là sự thật !

Như mặt trời mọc lên buổi sáng,

Như dấu chân mỗi ngày in trên cát.

Và nghĩa địa không là chỗ cuối cùng của cuộc đời,

Như ta đã nghĩ ‘cát bụi sẽ trở về cát bụi.’

Đó là niềm đau thể xác,

Không phải tiếng nói của linh hồn.

Hiện hữu cuộc đời là sự thật !

Không hạnh phúc và cũng chẳng buồn phiền.

Cuộc đời là phương tiện của số phận,

Như một màn kịch diễn ra mỗi ngày,

Đưa cuộc đời trở về vô tận.

Màn kịch thì quá dài, thời gian thì quá ngắn,

Nên cuộc đời phải vội vã đứng lên

Như hồi chuông hối thúc người cô độc,

Như điệu buồn đưa tiễn cõi tha ma.

……

Hiện hữu cuộc đời là sự thật !

Tương lai không mang hành trang của hạnh phúc và sự thật,

Nhưng có nhiều nơi nở hoa và kết trái.

Hãy chặt đứt quá khứ để chôn vào quên lãng.

Cuộc đời là màn kịch hữu sinh,

Được viết ra trong trái tim nhỏ bé

Và tác giả là Thượng Đế trên cao.



Hiện hữu cuộc đời là sự thật !

Hãy căng buồm cho thuyền ra cửa biển,

Cho tuyệt vọng và niềm cô đơn rã mục.

Hãy nhìn lên nắm tay nhân loại cho tim mình máu chảy luân lưu.

Hãy hoàn thành một sứ mệnh với lòng mình,

Hãy tiếp tục vì hiện hữu cuộc đời là sự thật. »

Ai sẽ Lên Núi Giavê? ». Nguyễn Sông Núi, trang 141-143).

(HẾT)