YẾN HÀ

Trong bữa cơm tối chia tay tại tiệm ăn “Yến Hà” mà chủ nhân trước kia là một cựu bác sĩ quân y tị nạn năm 1975 đã thành lập. Cựu chủ nhân dùng hai chữ “Yến Hà” đặt tên cho tiệm ăn, lấy từ một bài cổ thi, ngụ ý ‘ráng chiều ở trên sông’. Tôi liên tưởng tới hai câu thơ của một thi sĩ VN ở vào thế kỷ 19:

Thế sự thăng trầm quân mạc vấn,

Yên ba thâm xứ hữu ngư châu”


(Việc đời lên xuống bạn chớ hỏi làm gì,

Hãy xem chiếc thuyền câu ở xa xa trên sóng nước).

Trong câu chuyện trao đổi suốt bữa ăn, cha T. và tôi đã nhắc lại giai thoại: “LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẢO VỆ CÁI KHỐ » (trích trong cuốn « The Prayer of the Frog » của linh mục Anthony de Mello):

« Một minh sư cảm thấy phấn khởi bởi những tiến bộ tâm linh của đệ tử cho đến nỗi nghĩ rằng anh ta không cần hướng dẫn thêm nữa nên đã để đệ tử đó lại trong cái chòi nho nhỏ của mình ở bên bờ sông.

Mỗi sáng mai, sau lễ tắm gội, đệ tử đó treo cái khố lên cho khô. Đó là vật sở hữu duy nhất của anh ! Ngày kia anh rất rầu rĩ vì thấy cái khố bị chuột gặm nát. Do đó, anh phải xin dân làng cho cái khố khác. Khi lũ chuột gặm nhắm nhiều lỗ trong cái khố nầy nữa, đích thân anh nuôi một con mèo. Anh không bị lũ chuột quấy phá nữa nhưng giờ đây, thêm vào việc khất thực cho chính mình, anh phải xin thêm sửa nữa.

Anh tự nghĩ : « Khất thực như thế quá phức tạp và cũng là gánh quá nặng cho dân làng; chi bằng ta nuôi một con bò cái. » Khi nuôi được bò, anh phải đi xin cỏ khô. Anh tự nghĩ : « Cuốc đất trồng cỏ quanh chòi của mình dễ quá. » Nhưng điều đó cũng quá phiền phức vì anh không còn bao nhiêu thời giờ để chiêm niệm. Vì vậy anh đã mướn nông dân cuốc đất trồng cỏ cho anh. Bây giờ đây phải trông nom đám nông dân đã trở nên những công việc lắt nhắt nên anh đã cưới vợ để chia sẻ công việc nầy với anh. Dĩ nhiên, chẳng bao lâu, anh đã trở nên một trong những người giàu có nhất làng.

Nhiều năm sau, minh sư của anh ta tình cờ đi ngang qua đó và rất đỗi ngạc nhiên khi thấy một tòa nhà nguy nga tráng lệ ở nơi mà xưa kia là cái chòi được dựng lên. Ông hỏi một người giúp việc :’ Đây chẳng phải là nơi mà một đệ tử của tôi thường sống chăng ?‘

Trước khi được trả lời, chính người đệ tử xuất hiện. Minh sư hỏi : ‘Con ơi, sao ra nông nỗi nầy ?’

Chàng thanh niên trả lời : ‘Thưa thầy, thầy sẽ không tin nỗi, nhưng không có cách nào khác để con có thể bảo vệ cái khố của con
!’ »

Đó là điều màThánh kinh đã nhắc nhở : «Ai khinh suất trong việc nhỏ mọn thì sẽ sa ngã trong việc trọng đại. »

Sai khi cạn chén ly bôi, cha T. và tôi đã về lại Đan Viện lức 11 giờ đêm và tôi ngũ lại Đan Viện đêm cuối cùng. Tối đó tôi rất khó ngủ, đã dùng thời giờ đọc qua quyển sách « The Miracles of Hope » của Nguyễn Văn Châu, ghi lại những câu chuyện riêng tư, nhưng rất trung thực do cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận kể lại, liên hệ đến những biến cố đau thương đã xảy tới cho gia đình ngài. Qua những câu chuyện đau lòng được mô tả lại trong sách, tôi mới nghiệm thấy lời sách Gương Phước đã trở nên khuôn vàng thước ngọc : « Hư vô, ôi hư vô ! Mọi sự đều hư vô » (Vanitas vanitatum omnia vanitas).

Những ngày sống ở Đan Viện Mount Angel đã cho tôi cơ hội gác bỏ việc đời, chi biết sống hòa mình với thiên nhiên, qua tiếng kinh câu hát của các đan sĩ để đưa tâm hồn mình lên với Chúa.

XUỐNG NÚI

Sáng hôm sau, thứ sáu 14-05-2004, tôi đã giả từ Đan Viện lúc xế trưa để về lại Seattle. Trong Thánh lễ kính thánh Matthias hôm đó, đoạn Phúc Am sau đây đã nhắc lại sứ vụ tông đồ của mỗi một giáo dân : « Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Ngài ban cho anh em. Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau. » (Gioan 15, 16-17).

Sau khi xe từ từ lăn bánh ra khỏi Đan Viện, hình ảnh một Louis Martin bị nhà dòng khước từ, đã trở về đời để chu toàn một sứ vụ mới do Thiên Chúa Quan Phòng sắp đặt:

« Người khách bất mãn của chúng ta lộn đường trở xuống. Ngày ấy cuộc đời cậu đáng gọi là cuộc lưu ly; nhưng trong tâm trí cậu đã cảm thấy rằng : Dòng Thánh Bernard chỉ là một kỷ niệm êm ái trong đời cậu, chứ không phải là cuộc đời cậu. Cuộc đời cậu, Đức Chúa Trời đã có một chương trình khác. » (« Một Tâm Hồn », trang 8).

Xe càng chạy xa, những đồng cỏ xanh ngắt cũng mất hút dần sau lưng tôi. Hình ảnh những ruộng dâu ngút ngàn trong « Chinh Phụ Ngân Khúc » lại về với tôi :

« Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu,

Ngàn dâu xanh ngắt một màu
… »

ĐI GIEO RẮC TIN MỪNG BÊN GIÒNG SÔNG KWAI

Khi về lại Seattle, tôi được một anh bạn đã dẫn gia đình gồm vợ và ba cháu nhỏ dưới 10 tuổi đi truyền giáo ở Thái Lan, chia sẻ một kinh nghiệm sống như sau qua điện thư:

« Hôm nay chúng em còn đang ở một làng - Ban mai - mà chính quyền Thái Lan dành cho dân tị nạn thuộc hai sắc tộc, Kachin và Akha của Miến…Chúng em đến một thành phố mang tên Kanchanaburi. Thành phố nầy nằm về hướng tây bắc của thủ đô Bangkok khoảng 2 giờ rưỡi lái xe…

Đến thăm thành phố Kanchanaburi không ai có thể bỏ qua việc thăm chiếc cầu lịch sử mà câu chuyện phim « Chiếc cầu trên giòng sông Kwai » đã diễn lại. Chiếc cầu được bắc để nối đường rầy xe lửa mà quân đội hoàng gia Nhật đã bắt những tù nhân chiến tranh trong thời đệ nhị thế chiến làm lao công. Thật ra những người Á châu bị bắt lao công chiếm đa số. Số thương vong của người dân làm lao công hình như hơn 80.000 người.

Ngồi trên chiếc ghế gỗ của toa xe lửa gập ghềnh hòa với tiếng va chạm của bánh xe trên con đường sắt như trải ra trước mắt chúng em một hình ảnh mà nửa thế kỷ trước đây biết bao sinh mạng đã bỏ mình vì cách đối xử dã man của con người.

Con đường xe lửa uốn lượn theo một bên là sườn đồi dốc đá, một bên là giòng sông Kwai sâu thẳm. Cho dù cái tương tàn của con người, con đường sắt dường như muốn ôm chầm để hòa mình vào cảnh đẹp của thiên nhiên và làm sự giao hòa giữa núi non hùng vĩ với giòng sông xanh biếc.

Cách chiếc cầu không xa, một cây thánh giá trắng được dựng lên trong nghĩa trang dành cho những chiến sĩ POW đang yên nghĩ giữa đường phố nhộn nhịp với du khách. Cũng như nạn nhân trên cây thánh giá, các chiến sĩ POW là những chứng nhân âm thầm của sự xung khắc con người.

Chúng em rời xa thành phố để đến Moo Baan Dek, tiếng Thái có nghĩa là Làng cho Trẻ Em, cách đó khoảng 30 cây số. Làng nằm bên cạnh bờ sông Kwai…Làng Moo Baan nầy dành cho những trẻ mồ côi có cơ hội được sự giáo dục và được dạy nghề khã dĩ để sinh sống. Nhưng điều trước tiên và quan trọng đó là các em được đón nhận tình thương cần thiết cho việc thành nhân…Làng được thành lập do một cặp vợ chồng thật « bình thường » như những người dân bình thường khác và với sự cộng tác của nhiều thiện nguyện từ nhiều quốc gia.

Vừa qua khỏi cổng làng, dừng xe tại một dãy nhà đầu tiên, chúng em được ân cần chào đón bởi một em bé khoảng 6 tuổi. Em được gọi là là Khày Hin có nghĩa là « Trứng đá »…Em là một nạn nhân sống sốt của một vụ phá thai không thành công. Để đối lại, em đã mất đi một chân, một tay. Một tay bị co rút và cổ em bị quằn và luôn luôn có năng lực kéo ghì đầu em xuống.

Cho dù tật nguyền như thế, em không tỏ vẻ « hận đời » nhưng rất hoạt bát và thật năng động…Nhìn thân hình nghiêng nghiêng trẹo trẹo của Trứng đá gợi lại cho chúng em hình ảnh uốn cong của con đường xe lửa đã được xây dựng trên sự tàn nhẫn trong lịch sử con người. Nhưng tại Moo Baan Dek, Trứng đá như đã hòa hợp với thiên nhiên và tìm lại cái nguồn gốc căn nguyên của con người là « nhân chi sơ tánh bản thiện ».

Về lại nhà, bước vào tuần đầu của Phục Sinh, suy niệm về câu chuyện con đường Emmau, con đường đến Moo Baan Dek như là kinh nghiện « mở mắt » cho chúng em để nhận ra chính Ngài đang hiện diện giữa con người. »


(CÒN TIẾP)