Trên diễn đàn này, tôi đã có dịp trình bày rằng mãi tới năm 44 tuổi, tôi mới tìm đọc sách Công giáo và cuốn đầu tiên tôi gặp và đọc là cuốn Quo Vadis dịch ra tiếng Việt, để được biết những hy sinh, những cực hình mà những người theo Chúa phải gánh chịu bởi bạo chúa Nêrô trong giai đoạn thánh Phêrô lập Giáo triều La Mã. Hai mươi năm sau, tôi vẫn chưa có dịp tìm đọc một cuốn sách nào khác.
Thế rồi tình cờ (hay không tình cờ) một người bạn ghé thăm tôi và cho tôi cuốn Những Người Lữ Hành Trên Ðường Hy Vọng của Ðức Cố Hồng Y Nguyễn văn Thuận; Ngài viết cuốn sách này khi Ngài còn là Tổng Giám Mục.
Tôi cầm cuốn sách, trong bụng nghĩ rằng sách của các đấng chắc khô khan lắm, khó nuốt lắm. Ðể làm vừa lòng bạn tôi, cũng như theo phép xã giao tối thiểu, tôi mở sách và bắt đầu đọc lướt đi. “Hứ”, tôi bỗng phát ra tiếng đó tỏ sự ngạc nhiên. Rồi tôi đọc nhanh lại vài trang đầu và gật gù: “Hay lắm. Cám ơn ông”. Tôi khen thật chứ không phải khen xã giao. Tôi cũng thường có thói quen gọi bạn bè bằng ông khi họ kém tôi vài tuổi đến dăm ba tuổi.
Quả vậy, cách viết của Ðức Cố HY NVT không khô khan, không khó nuốt chút nào. Trong suốt cuốn sách của Ngài, mỗi đoạn, mỗi tiểu đề mà ngài trình bày đều là một tấm gương, một bài học, có thể tạo ra một cảm xúc mạnh hướng con người về cái tính thiện, về phục vụ, về tha nhân, mà vì yêu Thiên Chúa, vì theo Người, mọi giáo dân nên, hay phải hành xử, noi theo. Mỗi tiểu đề còn có thể được khai thác thành một đề tài lớn hơn, hấp dẫn hơn. Ngài không trình bày một bài viết dài, mà chỉ đưa ra một trích đoạn lời Chúa, hay từ thánh kinh, hay từ một mẩu truyện nào đó, hay ý kiến của riêng Ngài từ cuốn sách trước: Ðường Hy Vọng mà Ngài viết trong thời gian bị tù đầy Cộng Sản và được xuất bản vào năm 1975 tại Hoa Kỳ. Và từ đây, người đọc sẽ suy nghĩ, hoặc có thể đào sâu thêm ý của Ngài theo chiều hướng tích cực, để tạo ra một bức tranh trọn vẹn hơn.
Tôi nghĩ rằng cuốn sách này sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong cuộc sống đạo, cũng như trong cuộc sống đời thường nếu chúng ta, vì lý do nào đó, ít đọc hay ít muốn đọc thánh kinh, hay các sách liên quan đến Giáo Hội, hoặc những sách do các đấng viết.Và vì vậy, kể từ nay tôi sẽ xin mạn phép trình bày ý nghĩ, hay sức hiểu của tôi, của một giáo dân bình thường, về những gợi ý của Ðức Cố HY NVT trong cuốn sách của Ngài.
Tôi có một người bạn thân, thường góp ý với tôi trong việc viết lách của tôi. Lần này thì anh lại cười, hỏi tôi: “Anh tính đìểm sách đấy à?” Không. Tôi không có ý định ấy. Thú thực, tôi không có khả năng ấy, nhất là đối với một cuốn sách của một vị Hồng Y như Ðức Cố HY NVT của chúng ta. Tôi xin làm việc này vì tôi nghĩ rằng nhiều người trong chúng ta cũng có ý nghĩ ‘sách của các đấng thì khô khan và khó nuốt lắm’ nên chưa mua. Mà dù quý vị đã có sách của Ngài (nên có lắm), thì sự suy nghĩ của chúng ta về những gợi ý của Ngài vẫn có thể có những điểm tích cực khác nhau, bổ sung cho nhau, để tạo nên một bức tranh hoàn hảo hơn, để từ đó chúng ta có thể hiểu được Giáo Hội hơn, và để vui với những cái vui của Giáo Hội, và buồn với những cái buồn của Giáo Hội.
Chắc mọi người trong chúng ta đều nhận thấy rằng kể từ ngày được thành lập, Giáo Hội Công Giáo đã trải qua biết bao thăng trầm, bao khó khăn, do ngoại cảnh có, do nội tại có. Và ở một thời điểm nào đó, chính Giáo Hội cũng phạm sai lầm để rồi chính Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mới đây đã phải chính thức ngỏ lời xin lỗi. Tôi nghĩ rằng cái hành động sai lầm thường có tính tự phát, nóng vội; ngược lại, đôi khi phải mất nhiều thời gian để nhận ra cái sai lầm và có thể còn mất nhiều thời gian hơn để có được hành động sửa sai. Vậy thì những ‘sai sót’ (tôi xin dùng chữ nhẹ hơn) có còn xảy ra trong Giáo Hội Chúa nói chung, hay nơi hàng giáo phẩm hoặc giáo dân không? Và nếu còn thì chúng ta, hàng giáo phẩm cũng như giáo dân phải, hay nên giúp giải quyết như thế nào?
Trong phần trình bày của tôi, tôi xin đươc dùng ‘chúng ta’ để chỉ hàng giáo phẩm cũng như giáo dân. Và những trục trặc, gúc mắc, cũng như những khó khăn trong Giáo Hội nói chung, tôi xin được gọi là Những Vần Ðề Của Chúng Ta. Ðối với những vấn đề của chúng ta, tôi cũng xin có ý kiến chủ quan rằng chỉ có tinh thần Kitô mới giúp giải quyết trọn vẹn và đầy đủ những vấn đề ấy mà thôi. Và may mắn thay, tôi cũng nhận thấy từ trong cuốn sách Những Người Lữ Hành Trên Ðường Hy Vọng Của Ðức Cố HY NVT, được viết một cách đơn giản, dễ hiểu, linh động, và dễ thức tỉnh lòng người, chúng ta có thể rút ra được cách giải quyết các vấn đề của chúng ta một cách thỏa đáng, trọn tình, trọn lý.
Như trên tôi vừa trình bày, mỗi tiểu đoạn trong suốt cuốn sách của Ngài đều là một tấm gương, một bài học. Ở đây, tôi xin có một tí tự do cá nhân là tôi không muốn trình bày sức hiểu của tôi theo thứ tự từng bài trong sách, mà tôi muốn có một sự ‘tình cờ’ hơn. Và trước khi trình bày sức hiểu của tôi đối với những bài viết của Ngài, tôi xin được hoặc trích dẫn, hoặc ghi lại trọn bài của Ngài vì, không phải ‘Mẹ hát con khen hay’, nhiều bài viết của Ngài hay lắm; chúng như những mẩu truyện của một nhà văn chuyên nghiệp chứ không khô khan, gò bó như một bài giảng. Hôm nay, tôi lật tình cờ thì đụng ngay tiểu đề: Thầy Vianney Bền Chí (trang 23 NNLH Trên Ðường Hy Vọng). Tôi nghĩ rằng tiểu đề này rất hợp cho mùa chay vừa qua của chúng ta, hay cho bất cứ mùa chay nào, hay nói cách khác, là cho mùa chay trọn đời của chúng ta.
Ðức Cố Hồng Y kể rằng trong cuộc cách mạng Pháp 1789, thầy Vianney phải bỏ dở việc học. Sau đó, thầy học lại thì không thể nhớ được, mặc dầu có sự giúp đỡ của cha xứ. Vì địa phận đang thiếu linh mục, và vì thầy có lòng đạo đức và bền chí, Bề Trên đành cho thầy chịu chức mặc dầu mỗi lần khảo hạch, thầy đều trượt.
Sau đó, cha Vianney được cử đi coi xứ Ars, một xứ chỉ có 300 giáo dân (trang 31), và bắt đầu xây dựng giáo xứ bằng sự cầu nguyện, hy sinh, hãm mình… để rồi giáo dân ở các giáo xứ khác đổ xô đến nghe ngài giảng giáo lý và xưng tội với ngài.
“Các bạn đồng nghiệp không khỏi ghen tỵ” khi thấy giáo dân bỏ xứ mình mà đến xưng tội với một cha hạng bét như vậy, nên họ đã trình lên Ðức Cha địa phận “…Cha Vianney trước đây học hành kém cỏi mà nay lại cả gan giải tội cho giáo dân khắp nơi. Họ bị những lời đồn thổi, phóng đại, mê tín, quyến rũ… “. Họ còn thưa rằng vì kém cỏi, cha Vianney có thể giải sai ngững nguyên tắc trong luân lý thần học.
Ðể kiểm tra, Ðức Cha bèn cho vời Cha Vianney và giao cho Ngài một số vấn đề khó, cần phải giải quyết trên giấy trắng mực đen, để rồi chính các vị chuyên môn luân lý thần học cũng phải khen là đúng và khôn ngoan. Ai nấy đều ngạc nhiên lẫn mến phục.
Tôi xin trích nguyên văn đoạn kế tiếp: “Nhưng chưa hết, càng ngày giáo dân càng đến xưng tội với Cha Vianney càng đông khiến Cha phải giải tội từ nửa đêm. Và một lần nữa, các bạn đồng nghiệp lại làm tờ đơn kiện Cha Vianney gởi thẳng lên Tòa Giám Mục. Trong đơn đại ý nói: ‘Cha Vianney đảm đương xứ mình chưa xong mà cả gan quyến rũ giáo dân các xứ khác đến xưng tội với mình càng ngày càng nhiều. Kiến thức của Ngài thì ai cũng rõ là rất giới hạn nên thật nguy hiểm có nhiều nố phức tạp có thể bị Ngài giải sai. Hơn nữa, tình thế ấy lại còn làm mất trật tự trong các giáo xứ khác vì giáo dân không xưng tội ở xứ nhà mà lại ùn ùn kéo nhau qua xưng tội ở xứ Ars. Kính xin Ðức Cha ra lệnh cấm Cha Gioan Maria Vianney giải tội cho các nơi…’.
Một linh mục được giao trọng trách đem tờ đơn ấy lên Tòa Giám Mục đã tạt vào thăm cha Vianney, đưa tờ đơn cho cha Vianney coi, và thật không ngờ, chính cha Vinney cũng ký vào tờ đơn tố cáo mình, sau khi ghi thêm mấy chữ: “Việc anh em nói trên đây rất đúng với sự thật. Con cũng xin ký tên vào đơn đồng tình cùng anh em”.
Là giáo dân, tôi tin rằng chúng ta đọc mẩu truyện trên đây sẽ thấy bực mình lắm. Tại sao các đấng chăn chiên lại có thể ghen tị, hay ghen tài với nhau như vậy? Các đấng còn đối xử với nhau như vậy thì các đấng sẽ đối xử với giáo dân ra sao? Và chúng ta muốn biết ngay cách xử lý của Ðức Cha, hay chính giáo dân chúng ta còn nóng lòng muốn dự phần xử lý. Thế rồi Ðức Cha đã xử lý như thế này khi Ngài kết luận với cha đưa đơn thưa: “Các cha xem, Cha Vianney phản ứng cách rất khiêm tốn. Có ai lại đồng ý tự kiện mình bao giờ! Ngài thực là người đạo đức. Thôi ta cứ để xem, Nếu là việc Chúa thì sẽ vững bền, ngược lại, nếu là việc của ý riêng ngài thì thế nào cũng sụp đổ… “ Và khi được thuật lại chuyện thì các cha thưa cha Vianney ‘đã thầm nghĩ’ như thế này: “Ðáng lẽ Cha Vianney phải giận dữ căm thù mình mới phải. Ai ngờ ngài lại ký tên vào đơn kiện ngài: Thôi ta cứ chờ xem theo như quyết định của Ðức Cha”.
Trích đoạn (trang 23) viết “Về sau, Vianney trở thành một Vị Thánh thời danh, thu hút nhiều tâm hồn trở về cùng Chúa. Năm 1925, Ðức PiôXI đã đặt ngài làm quan thầy các cha xứ”.
(còn tiếp)
Thế rồi tình cờ (hay không tình cờ) một người bạn ghé thăm tôi và cho tôi cuốn Những Người Lữ Hành Trên Ðường Hy Vọng của Ðức Cố Hồng Y Nguyễn văn Thuận; Ngài viết cuốn sách này khi Ngài còn là Tổng Giám Mục.
Tôi cầm cuốn sách, trong bụng nghĩ rằng sách của các đấng chắc khô khan lắm, khó nuốt lắm. Ðể làm vừa lòng bạn tôi, cũng như theo phép xã giao tối thiểu, tôi mở sách và bắt đầu đọc lướt đi. “Hứ”, tôi bỗng phát ra tiếng đó tỏ sự ngạc nhiên. Rồi tôi đọc nhanh lại vài trang đầu và gật gù: “Hay lắm. Cám ơn ông”. Tôi khen thật chứ không phải khen xã giao. Tôi cũng thường có thói quen gọi bạn bè bằng ông khi họ kém tôi vài tuổi đến dăm ba tuổi.
Quả vậy, cách viết của Ðức Cố HY NVT không khô khan, không khó nuốt chút nào. Trong suốt cuốn sách của Ngài, mỗi đoạn, mỗi tiểu đề mà ngài trình bày đều là một tấm gương, một bài học, có thể tạo ra một cảm xúc mạnh hướng con người về cái tính thiện, về phục vụ, về tha nhân, mà vì yêu Thiên Chúa, vì theo Người, mọi giáo dân nên, hay phải hành xử, noi theo. Mỗi tiểu đề còn có thể được khai thác thành một đề tài lớn hơn, hấp dẫn hơn. Ngài không trình bày một bài viết dài, mà chỉ đưa ra một trích đoạn lời Chúa, hay từ thánh kinh, hay từ một mẩu truyện nào đó, hay ý kiến của riêng Ngài từ cuốn sách trước: Ðường Hy Vọng mà Ngài viết trong thời gian bị tù đầy Cộng Sản và được xuất bản vào năm 1975 tại Hoa Kỳ. Và từ đây, người đọc sẽ suy nghĩ, hoặc có thể đào sâu thêm ý của Ngài theo chiều hướng tích cực, để tạo ra một bức tranh trọn vẹn hơn.
Tôi nghĩ rằng cuốn sách này sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong cuộc sống đạo, cũng như trong cuộc sống đời thường nếu chúng ta, vì lý do nào đó, ít đọc hay ít muốn đọc thánh kinh, hay các sách liên quan đến Giáo Hội, hoặc những sách do các đấng viết.Và vì vậy, kể từ nay tôi sẽ xin mạn phép trình bày ý nghĩ, hay sức hiểu của tôi, của một giáo dân bình thường, về những gợi ý của Ðức Cố HY NVT trong cuốn sách của Ngài.
Tôi có một người bạn thân, thường góp ý với tôi trong việc viết lách của tôi. Lần này thì anh lại cười, hỏi tôi: “Anh tính đìểm sách đấy à?” Không. Tôi không có ý định ấy. Thú thực, tôi không có khả năng ấy, nhất là đối với một cuốn sách của một vị Hồng Y như Ðức Cố HY NVT của chúng ta. Tôi xin làm việc này vì tôi nghĩ rằng nhiều người trong chúng ta cũng có ý nghĩ ‘sách của các đấng thì khô khan và khó nuốt lắm’ nên chưa mua. Mà dù quý vị đã có sách của Ngài (nên có lắm), thì sự suy nghĩ của chúng ta về những gợi ý của Ngài vẫn có thể có những điểm tích cực khác nhau, bổ sung cho nhau, để tạo nên một bức tranh hoàn hảo hơn, để từ đó chúng ta có thể hiểu được Giáo Hội hơn, và để vui với những cái vui của Giáo Hội, và buồn với những cái buồn của Giáo Hội.
Chắc mọi người trong chúng ta đều nhận thấy rằng kể từ ngày được thành lập, Giáo Hội Công Giáo đã trải qua biết bao thăng trầm, bao khó khăn, do ngoại cảnh có, do nội tại có. Và ở một thời điểm nào đó, chính Giáo Hội cũng phạm sai lầm để rồi chính Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mới đây đã phải chính thức ngỏ lời xin lỗi. Tôi nghĩ rằng cái hành động sai lầm thường có tính tự phát, nóng vội; ngược lại, đôi khi phải mất nhiều thời gian để nhận ra cái sai lầm và có thể còn mất nhiều thời gian hơn để có được hành động sửa sai. Vậy thì những ‘sai sót’ (tôi xin dùng chữ nhẹ hơn) có còn xảy ra trong Giáo Hội Chúa nói chung, hay nơi hàng giáo phẩm hoặc giáo dân không? Và nếu còn thì chúng ta, hàng giáo phẩm cũng như giáo dân phải, hay nên giúp giải quyết như thế nào?
Trong phần trình bày của tôi, tôi xin đươc dùng ‘chúng ta’ để chỉ hàng giáo phẩm cũng như giáo dân. Và những trục trặc, gúc mắc, cũng như những khó khăn trong Giáo Hội nói chung, tôi xin được gọi là Những Vần Ðề Của Chúng Ta. Ðối với những vấn đề của chúng ta, tôi cũng xin có ý kiến chủ quan rằng chỉ có tinh thần Kitô mới giúp giải quyết trọn vẹn và đầy đủ những vấn đề ấy mà thôi. Và may mắn thay, tôi cũng nhận thấy từ trong cuốn sách Những Người Lữ Hành Trên Ðường Hy Vọng Của Ðức Cố HY NVT, được viết một cách đơn giản, dễ hiểu, linh động, và dễ thức tỉnh lòng người, chúng ta có thể rút ra được cách giải quyết các vấn đề của chúng ta một cách thỏa đáng, trọn tình, trọn lý.
Như trên tôi vừa trình bày, mỗi tiểu đoạn trong suốt cuốn sách của Ngài đều là một tấm gương, một bài học. Ở đây, tôi xin có một tí tự do cá nhân là tôi không muốn trình bày sức hiểu của tôi theo thứ tự từng bài trong sách, mà tôi muốn có một sự ‘tình cờ’ hơn. Và trước khi trình bày sức hiểu của tôi đối với những bài viết của Ngài, tôi xin được hoặc trích dẫn, hoặc ghi lại trọn bài của Ngài vì, không phải ‘Mẹ hát con khen hay’, nhiều bài viết của Ngài hay lắm; chúng như những mẩu truyện của một nhà văn chuyên nghiệp chứ không khô khan, gò bó như một bài giảng. Hôm nay, tôi lật tình cờ thì đụng ngay tiểu đề: Thầy Vianney Bền Chí (trang 23 NNLH Trên Ðường Hy Vọng). Tôi nghĩ rằng tiểu đề này rất hợp cho mùa chay vừa qua của chúng ta, hay cho bất cứ mùa chay nào, hay nói cách khác, là cho mùa chay trọn đời của chúng ta.
Ðức Cố Hồng Y kể rằng trong cuộc cách mạng Pháp 1789, thầy Vianney phải bỏ dở việc học. Sau đó, thầy học lại thì không thể nhớ được, mặc dầu có sự giúp đỡ của cha xứ. Vì địa phận đang thiếu linh mục, và vì thầy có lòng đạo đức và bền chí, Bề Trên đành cho thầy chịu chức mặc dầu mỗi lần khảo hạch, thầy đều trượt.
Sau đó, cha Vianney được cử đi coi xứ Ars, một xứ chỉ có 300 giáo dân (trang 31), và bắt đầu xây dựng giáo xứ bằng sự cầu nguyện, hy sinh, hãm mình… để rồi giáo dân ở các giáo xứ khác đổ xô đến nghe ngài giảng giáo lý và xưng tội với ngài.
“Các bạn đồng nghiệp không khỏi ghen tỵ” khi thấy giáo dân bỏ xứ mình mà đến xưng tội với một cha hạng bét như vậy, nên họ đã trình lên Ðức Cha địa phận “…Cha Vianney trước đây học hành kém cỏi mà nay lại cả gan giải tội cho giáo dân khắp nơi. Họ bị những lời đồn thổi, phóng đại, mê tín, quyến rũ… “. Họ còn thưa rằng vì kém cỏi, cha Vianney có thể giải sai ngững nguyên tắc trong luân lý thần học.
Ðể kiểm tra, Ðức Cha bèn cho vời Cha Vianney và giao cho Ngài một số vấn đề khó, cần phải giải quyết trên giấy trắng mực đen, để rồi chính các vị chuyên môn luân lý thần học cũng phải khen là đúng và khôn ngoan. Ai nấy đều ngạc nhiên lẫn mến phục.
Tôi xin trích nguyên văn đoạn kế tiếp: “Nhưng chưa hết, càng ngày giáo dân càng đến xưng tội với Cha Vianney càng đông khiến Cha phải giải tội từ nửa đêm. Và một lần nữa, các bạn đồng nghiệp lại làm tờ đơn kiện Cha Vianney gởi thẳng lên Tòa Giám Mục. Trong đơn đại ý nói: ‘Cha Vianney đảm đương xứ mình chưa xong mà cả gan quyến rũ giáo dân các xứ khác đến xưng tội với mình càng ngày càng nhiều. Kiến thức của Ngài thì ai cũng rõ là rất giới hạn nên thật nguy hiểm có nhiều nố phức tạp có thể bị Ngài giải sai. Hơn nữa, tình thế ấy lại còn làm mất trật tự trong các giáo xứ khác vì giáo dân không xưng tội ở xứ nhà mà lại ùn ùn kéo nhau qua xưng tội ở xứ Ars. Kính xin Ðức Cha ra lệnh cấm Cha Gioan Maria Vianney giải tội cho các nơi…’.
Một linh mục được giao trọng trách đem tờ đơn ấy lên Tòa Giám Mục đã tạt vào thăm cha Vianney, đưa tờ đơn cho cha Vianney coi, và thật không ngờ, chính cha Vinney cũng ký vào tờ đơn tố cáo mình, sau khi ghi thêm mấy chữ: “Việc anh em nói trên đây rất đúng với sự thật. Con cũng xin ký tên vào đơn đồng tình cùng anh em”.
Là giáo dân, tôi tin rằng chúng ta đọc mẩu truyện trên đây sẽ thấy bực mình lắm. Tại sao các đấng chăn chiên lại có thể ghen tị, hay ghen tài với nhau như vậy? Các đấng còn đối xử với nhau như vậy thì các đấng sẽ đối xử với giáo dân ra sao? Và chúng ta muốn biết ngay cách xử lý của Ðức Cha, hay chính giáo dân chúng ta còn nóng lòng muốn dự phần xử lý. Thế rồi Ðức Cha đã xử lý như thế này khi Ngài kết luận với cha đưa đơn thưa: “Các cha xem, Cha Vianney phản ứng cách rất khiêm tốn. Có ai lại đồng ý tự kiện mình bao giờ! Ngài thực là người đạo đức. Thôi ta cứ để xem, Nếu là việc Chúa thì sẽ vững bền, ngược lại, nếu là việc của ý riêng ngài thì thế nào cũng sụp đổ… “ Và khi được thuật lại chuyện thì các cha thưa cha Vianney ‘đã thầm nghĩ’ như thế này: “Ðáng lẽ Cha Vianney phải giận dữ căm thù mình mới phải. Ai ngờ ngài lại ký tên vào đơn kiện ngài: Thôi ta cứ chờ xem theo như quyết định của Ðức Cha”.
Trích đoạn (trang 23) viết “Về sau, Vianney trở thành một Vị Thánh thời danh, thu hút nhiều tâm hồn trở về cùng Chúa. Năm 1925, Ðức PiôXI đã đặt ngài làm quan thầy các cha xứ”.
(còn tiếp)