Maria, Trinh Nữ Của Niềm Vui: Vui Trong Hy Vọng

“Hôm nay một Ðấng Cứu Ðộ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Ðavít, Người là Ðấng Kitô Ðức Chúa…

Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.”


(Lc 2: 1-20)

Thomas Long kể về cuộc đời của một thầy Rabbi đã qua đời tại Anh Quốc. Trong mục phân ưu đã nói về cuộc đời của thầy Rabbi đó như sau. Khi còn bé, cậu và gia đình cậu bị bắt giam trong trại tù của Nazi, Ðức Quốc Xã, chờ ngày hành quyết. Trong trại những tù nhân chỉ được cho đủ lương thực để sống sót: một ít hạt ngũ cốc, một chút bánh thiu, và một ít mỡ lợn mỗi tuần. Mặc dù trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng gia đình của cậu bé vẫn giữ luật của ngày Sabát như thường. Họ vẫn tìm cách biến chế nên một cục đèn cầy và một ít lương thực mỗi tuần, rồi họ đọc lời kinh nguyện và công bố phúc lành của ngày Sabát.

Tuy nhiên, vào một tuần nọ, không còn đèn cầy nữa. Buổi chiều đã đến, sắp bước sang ngày Sabát, cha của cậu bé đã lấy một ít mỡ heo quý giá và đổ xung quanh một sợi giây. Ánh sáng đã được đốt lên thay cho đèn cầy, và ông bắt đầu hướng dẫn gia đình cầu nguyện và xin ơn chúc lành của ngày Sabát. Thấy vậy, cậu bé nổi cơn giận dữ. Khi những lời cầu nguyện chấm dứt, cậu chất vấn cha cậu rằng: “Tại sao cha lại làm như vậy? Tại sao lại phí phạm mỡ heo để làm đèn cầy trong khi chúng ta chỉ còn một chút lương thực duy nhất?” Cha cậu từ tốn trả lời: “Hỡi con, không có lương thực chúng ta vẫn còn có thể sống sót được vài ngày. Nhưng không có hy vọng, chúng ta sẽ không thể nào sống được một giờ.”


Thật vậy, sống trong tuyệt vọng thì dù thể xác còn sống, nhưng tinh thần đã chết. Vì con người là những sinh vật duy nhất sống có mục đích và lý tưởng, nên chính đời sống tinh thần làm cho cuộc sống nhân sinh trở nên đầy ý nghĩa và phong phú. Nó mang lại niềm hy vọng. Hy vọng tạo nên niềm hoan lạc và phấn khởi cho cuộc đời, cho dù con người có gặp nhiều khó khăn và thử thách.

Hy vọng là dấu chỉ của đời sống tinh thần cởi mở ra với thực tại và đi tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời. Ðúng như Ernst Bloch đã phát biểu rằng ở đâu có hy vọng, ở đấy có tôn giáo. Hy vọng vừa là căn nguyên, vừa là kết quả của tôn giáo. Thánh Phaolô cũng đã nói: “Trong hy vọng chúng ta đã được cứu độ” (Rm 8:24).

Quả nhiên, Thánh Kinh là lịch sử của ơn cứu rỗi gồm các bài học và những khuôn mẫu của niềm hy vọng. Sau sự sa ngã của Adong và Evà, lời hứa của Thiên Chúa được ban ra. Tổ phụ Abraham được gọi là cha của đức tin và niềm hy vọng hướng về đất hứa. Nhưng Ðức Maria còn vĩ đại hơn Abraham, vì Maria mang niềm hy vọng hướng về Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Thiên Sai như lời Thiên Chúa đã hứa.

I- HY VỌNG VÀO LỜI HỨA CỦA THIÊN CHÚA:

Ngày nay, trong các buổi lễ quan trọng, những nhân vật chính thường xuất hiện sau cùng. Ðiển hình là các buổi nói chuyện của Tổng Thống, hay trong cách thức tuyển lựa hoa hậu quốc tế. Những thí sinh đoạt các phần thưởng phụ được tuyên bố trước, như giải duyên dáng, giải ba, giải á hậu, sau cùng mới tuyên bố hoa hậu.

Ðọc Thánh Kinh tôi nhận thấy cũng có một khuôn mẫu giống như vậy. Abraham được Thiên Chúa kêu gọi để khởi sự xuất hành đi về miền đất hứa, nhưng phải chờ đến Môsê mới là nhân vật lãnh đạo đưa dân Israel thoát ra khỏi Ai-Cập về miền đất hứa ấy. Rõ rệt hơn cả là Gioan Tẩy Giả, vị tiên tri vĩ đại nhất của Cựu Ước, đã đến để dọn đường cho Ðức Giêsu, Ðấng Cứu Thế (Mt 3:11; Mc 1:7; Lc 3:16; Ga1:23-27).

Trường hợp tôi muốn nêu lên một cách đặc biệt ở đây là sự diễn tả của sách Sáng Thế về việc tạo dựng con người. Trước hết Thiên Chúa dựng nên ông Adong (St 2:7), sau đó thấy rằng: ”Con người ở một mình không tốt” (St 2:18), nên đã dựng nên người phụ nữ. Xét về giá trị, cả hai đều bình đẳng: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.” (St 1: 26-27).

Nhưng xét về vai trò, có sự khác biệt. Người phụ nữ đã góp phần làm cho tác phẩm của Thiên Chúa trở nên hoàn hảo hơn lại chính là người đã làm cho sự sáng tạo ấy bị sụp đổ: con người đã sa ngã (St 3: 6). Người phụ nữ đó đã bắt đầu mối thù với ma quỷ, và trong tương lai cũng chỉ có người phụ nữ mới thực hiện được lời Thiên Chúa đã hứa : “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó.” (St 3:15). Như vậy xem ra người phụ nữ, nhân vật đến sau ông Adong, bà Evà, đã giữ một vai trò chủ yếu trong sự sa ngã của con người. Vì thế, trong niềm mong chờ, người phụ nữ được Thiên Chúa hứa ban sẽ góp phần tái tạo nhân loại. Do đó, người phụ nữ được coi như là dấu chỉ của niềm hy vọng.

Theo Thánh Kinh, người sẽ chiến thắng tội kiêu ngạo của ông Adong và bà Evà, cùng những sự gian ác gây ra do ma quỷ là Ðức Giêsu Kitô, một Adong mới. Nhưng lời hứa về việc ban Ðấng Cứu Thế lại được giới thiệu qua hình ảnh của một người phụ nữ đầy can đảm và khiêm tốn. Bà đã được dàn dựng như một dấu hiệu để chống lại ma quỷ, chống lại tất cả những ai kiêu căng từ chối thờ phượng Thiên Chúa và yêu thương đồng loại. Thiên Chúa đã hứa ban cho nhân loại một người phụ nữ, bà Eva mới, sẽ là hình ảnh thực sự của Thiên Chúa. Người Con của bà sinh ra sẽ biểu tỏ sự thánh thiện và trung thành với Thiên Chúa. Người Con đó sẽ là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình.

Trong lúc mong chờ, tiên tri Isaia đã được Thần Khí linh hứng, ông yêu cầu vua nước Giuđa cầu nguyện để xin một dấu chỉ cho biết rằng Thiên Chúa sẽ giải thoát dân Israel. Nhà vua đã từ chối không tin, và không thèm cầu xin một dấu chỉ nào. Tuy vậy, Thiên Chúa vẫn hứa ban: “Chính Thiên Chúa sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.” (Is 7:14). Theo truyền thống của Do Thái, đặt tên cho con trai là quyền của người cha. Người phụ nữ sẽ đặt tên cho Ðấng Cứu Thế là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở với chúng ta, là một đặc ân lạ lùng và khác thường!

Hơn nữa, tiên tri Isaia lại có một viễn tượng rất huy hoàng về tương lai của Ðấng Cứu Thế: “Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hòa bình. Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hòa bình vô tận.” (Is 9: 5-6).

Trải qua bao nhiêu thế kỷ, các trinh nữ Do Thái được coi là niềm hy vọng của lời Thiên Chúa đã hứa cho dân tộc Israel. Và ước mơ được làm mẹ của Ðấng Cứu Thế đã trở nên phổ quát đối với mọi cô trinh nữ. Chắc chắn rằng trong gia đình của Ðức Maria, những lời hứa này cũng thường xuyên được suy niệm chung với nhau. Ắt hẳn, họ đã cùng nhau hát lên “Bài Ca Thứ Hai” của tiên tri Isaia về “Người Tôi Trung” của Giavê (Is 49:1-26). Do đó, Ðức Maria, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần cũng đã sống trong niềm hy vọng của dân Israel. Toàn thể cuộc đời của Ðức Maria đã trở nên một lời cầu khẩn mong chờ: “Trời cao hỡi, nào hãy gieo sương, mây hãy đổ mưa, mưa đức công chính; đất mở ra đi cho nảy mầm ơn cứu độ, đồng thời chính trực sẽ vươn lên. Ta là Ðức Chúa, Ta đã làm điều ấy”. (Is 45: 8).

Chúng ta có thể suy diễn mà không sợ sai lầm rằng trước khi sứ thần loan tin cho Ðức Maria làm mẹ Ðấng Cứu Thế, Maria, người nữ tử kiều diễm nhất của Sion, đã cầu xin hằng ngày rằng ước gì cung lòng của nàng sẽ là nơi phát sinh ơn cứu độ như lời Thiên Chúa đã hứa trong Thánh Kinh. Lời hứa và ơn lành của Thiên Chúa đã ở với Ðức Maria trước khi trinh nữ biết rằng mình đã được yêu thương và tuyển chọn để đặt tên cho Ðấng Thiên Sai, “Em-ma-nu-en”, “Thiên Chúa ở với chúng ta”.

II- HY VỌNG VÀO CHÚA GIÊSU KITÔ

Khi người mẹ biết mình có thai, tất cả niềm hy vọng và ước mơ của bà sẽ tập trung vào tương lai của người con yêu quý trong cung lòng mình. Người con là niềm hy vọng của người mẹ, gia đình, dòng tộc, quê hương và nhân loại. Sau khi được sứ thần truyền tin, Ðức Maria đã ý thức điều này với niềm hy vọng và vui mừng cảm tạ Thiên Chúa trong lời kinh “Ngợi Khen” rằng: “Linh hồn tôi ngợi Ðức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Ðấng cứu độ tôi” Chúa độ trì Israel, tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời.” (Lc 1: 46-55).

Tất cả niềm hy vọng và hình ảnh được áp dụng cho Thiên Chúa trong thời Cựu Ước, đến thời Tân Ước, được quy hướng về Chúa Giêsu Kitô. Người là Ðấng Cứu Thế: “Hôm nay một Ðấng Cứu Ðộ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Ðavít, Người là Ðấng Kitô Ðức Chúa.” (Lc 2:11; Acts 13:23; Tt 1:4; 3:6), Ðấng mang lại “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2:14), Ðấng được gọi là Hoàng Tử của Bình An, Vua của các Vua, nguồn mạch của sự sống (Ga 6:35), sự chết và sống lại (Lc 24:46). Tất cả những lời hứa của Thiên Chúa được hoàn tất nơi Người: “Quả thật, mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là 'có' nơi Người” (2 Cr 1:20). Người chính là đá tảng vững bền của mọi niềm hy vọng (1 Pr 2:4-7).

“Xin vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa” (Lc 1:38), Ðức Maria đã có một đức tin vững mạnh khi chấp nhận lời truyền tin của sứ thần. Tin là hy vọng và phó thác tất cả mọi biến cố xảy ra trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Ðức tin và đức cậy đi đôi với nhau. Thánh Kinh diễn tả sự trông cậy của Ðức Maria nơi Thiên Chúa qua những biến cố đầy thử thách xảy ra: sự nghi ngờ của Giuse khi biết Maria có thai và toan tính bỏ ra đi, đến ngày sinh nở vẫn không tìm ra quán trọ phải ở chuồng chiên bò, trên đường gian truân lưu lạc sang Ai-Cập, và cùng đồng hành với Chúa Giêsu trên đường khổ giá. Nhờ đức tin và hy vọng, Maria đã làm được tất cả mọi sự như lời thánh Phaolô đã nói: “Với Ðấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết.” (Pl 4: 13).

Ðiển hình là trong giây phút cực trọng của mầu nhiệm Giáng Sinh, Ðức Maria và thánh Giuse không còn biết làm gì hơn là phó thác và đặt trọn vẹn niềm hy vọng vào Ðấng Cứu Thế vừa hạ sinh. Một Ðấng Cực Thánh sinh ra ở một nơi cùng cực của sự nghèo hèn, chuồng bò lừa. Bởi vì, đối với Ðức Maria, chẳng có sự gì là đáng kể, chỉ một mình Thiên Chúa là tất cả, cho nên: “Ðức Maria hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.” (Lc 2:19).

III- HY VỌNG VÀO ÐỨC MARIA

Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của niềm hy vọng (Rm 15:13), trong Ðức Giêsu Kitô (1 Tm 1:1). “Trong hy vọng chúng ta đã được cứu độ.” (Rm 8:24). Và với hy vọng chúng ta có sức mạnh để chiến đấu với tội lỗi và ma quỷ (Pl 4:13).

Gần đây những nhà nghiên cứu làm một cuộc thí nghiệm để biết ảnh hường của niềm hy vọng trên những người đang gặp khó khăn. Họ bỏ hai nhóm chuột vào hai cái bể nước khác nhau. Nhóm chuột thứ nhất bị thả vào bể nước trong vòng một tiếng đồng hồ, tất cả đều bị chết đuối. Nhóm chuột thứ hai cũng bị thả vào bể nước, nhưng thỉnh thoảng lại được vớt lên khỏi nước, rồi lại bị thả xuống. Ðiều lạ lùng là nhóm chuột thứ hai này đã bơi được trên 24 tiếng đồng hồ. Tại sao? Không phải vì chúng đã được nghỉ ngơi, nhưng vì bất thình lình chúng có niềm hy vọng. Những con chuột đó đã hy vọng rằng nếu ráng nổi trên mặt nước lâu thêm một chút nữa, một người nào đó sẽ cúi xuống vớt chúng lên. (Today in the Word, May, 1990, MBI, p. 34).

Ðối với những con vật chỉ sống theo bản năng, niềm hy vọng còn có ảnh hưởng đến như vậy, huống chi chúng ta là con người được Thiên Chúa ban cho trí khôn thì còn ảnh hưởng mạnh mẽ hơn nữa. Hy vọng là một thái độ, một cái nhìn về cuộc đời. Ðó là một món quà được Thiên Chúa ban cho mỗi người. Không ai có thể lấy đi được. Nếu chúng ta bị mất niềm hy vọng là do chính chúng ta đã mất niềm tin vào Thiên Chúa, qua Ðức Giêsu Kitô.

Thánh Phaolô, vị tông đồ của niềm hy vọng, đã khuyên chúng ta như sau: “Quả thế, khi Thiên Chúa hứa với ông Ápraham, Người đã không thể lấy danh ai cao trọng hơn mình mà thề, nên đã lấy chính danh mình mà thề rằng: Ta sẽ ban phúc dư dật cho ngươi và sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông vô số. Như thế, vì nhẫn nại đợi chờ, ông Ápraham đã nhận được lời hứa. Người ta thường lấy danh một người cao trọng hơn mình mà thề, và lời thề là một bảo đảm chấm dứt mọi tranh chấp giữa người ta với nhau. Do đó, vì Thiên Chúa muốn chứng minh rõ hơn cho những người thừa hưởng lời hứa được biết về ý định bất di bất dịch của Người, nên Người đã dùng lời thề mà bảo đảm điều Người đã hứa. Như vậy, cả lời hứa lẫn lời thề đều bất di bất dịch, và khi thề hứa, Thiên Chúa không thể nói dối được. Do đó, chúng ta là những kẻ ẩn náu bên Thiên Chúa, chúng ta được mạnh mẽ khuyến khích nắm giữ niềm hy vọng dành cho chúng ta. Chúng ta có niềm hy vọng đó cũng tựa như cái neo chắc chắn và bền vững của tâm hồn, chìm sâu vào bên trong bức màn cung thánh. Ðó là nơi Ðức Giêsu đã vào như người tiền phong mở đường cho chúng ta, sau khi trở thành vị Thượng Tế đời đời theo phẩm trật Menkixêđê.“ (Dt 6: 13-20).

Hy vọng là cái mỏ neo hữu ích giữ chúng ta bền vững trong Ðức Giêsu Kitô giữa cuộc đời đầy phong ba sóng gió của người Kitô hữu. Ðây là bài học quý giá mà thánh Phaolô đã rút ra được từ Kinh Thánh, kinh nghiệm cá nhân của mình, và đặc biệt từ việc suy niệm về đời sống của Ðức Maria.

Thật vậy, thánh Phaolô vị tông đồ dân ngoại lẽ nào lại không yêu mến, hấp thụ và bước theo con đường thánh thiện của đức tin, cậy và mến mà Ðức Maria, Mẹ Người đã sống. Hãy so sánh lời khuyên của thánh Phaolô ở trên với bài “Ngợi Khen” (Magnificat) của Ðức Maria do Luca diễn tả, chúng ta sẽ nhìn thấy cùng một kinh nghiệm, tâm tư và suy niệm: “Chúa độ trì Israel, tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời.” (Lc 1: 55).

Luca, một người đồng hành với Phaolô trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng, cũng là một người dân ngoại đã trở lại. Luca không phải là người chính gốc Do Thái, nên không thể viết ra những bản tường thuật về thời thơ ấu của Chúa Giêsu với một mạch văn và truyền thống thuần túy Do Thái được. Theo các nhà chú giải thánh kinh cho biết, họ tin rằng bản tường thuật của Thánh Luca về thời thơ ấu của Chúa Giêsu đã được thêm vào Phúc âm của Luca từ một truyền thống khác do chính Ðức Maria lưu lại qua những nhóm phụ nữ Kitô hữu đầu tiên (The Silence of Maria, Ignacio Larranaga, O.F.M. p. 15-27).

Quả vậy, sự thánh thiện, lòng đạo đức, và niềm tin cậy mến của Ðức Maria nơi Chúa Giêsu Kitô đã ảnh hưởng trên toàn thể Giáo Hội, bắt đầu ngay từ buổi sơ khai mới thành lập cho đến muôn đời. Vì thế, niềm hy vọng của chúng ta ngày nay là hy vọng vào chính Ðức Maria. Nói theo ÐGH Gioan Phaolô II: đó là con đường của Ðức Maria. Ðó là "để Mẹ dẫn dắt chúng ta khám phá bí mật của niềm vui Kitô giáo, khi nhắc nhở chúng ta rằng Kitô giáo tiên vàn là Evangelion, Tin Mừng, mà trung tâm và toàn bộ nội dung của Tin Mừng là con người Ðức Giêsu Kitô, Ngôi Lời mặc lấy xác phàm, Ðấng Cứu Ðộ duy nhất của thế giới." (Tông Thư Kinh Mân Côi, Rosarium Virginis Mariae, đoạn 20).

Tại một làng nhỏ ở Ðức, theo phong tục của cha ông để lại từ mấy trăm năm qua, cứ mười năm một lần đến ngày Chúa chịu chết, họ diễn lại cuộc tử nạn của Chúa đầy chi tiết và sinh động. Trong đó có một cảnh nói về Giuđa, sau khi phản bội Thầy mình bằng một cái hôn, Giuđa cảm thấy chán nản tuyệt vọng đến độ không còn tin tưởng vào tình thương tha thứ của Chúa nữa. Ông cầm lấy ba mươi đồng bạc là giá bán Chúa đi vào đền thờ và ném trả cho các thượng tế và kỳ lão. Sau đó, ông đi thắt cổ tự tử, trước khi tự tử ông ra ngoài ngồi than thở: “Tôi đã phản bội Thầy tôi. Tôi không còn biết chạy đến với ai nữa!”

Một em bé gái đang ngồi trong lòng mẹ thông cảm cho số phận của kẻ chìm đắm trong tuyệt vọng, em muốn tìm cách để cứu vớt con người khốn khổ ấy. Em quay sang mẹ và nói lớn đến nỗi tất cả khán giả trong hội trường đều nghe rõ: “Mẹ ơi! Tại sao ông ta không chạy đến với Mẹ Maria!”

Lạy Mẹ Maria, xin cho chúng con biết chạy đến cùng Mẹ trong những lúc gian nan và thất vọng của cuộc đời. Có những lúc chúng con sa ngã, phạm tội, sống nổi trôi theo dòng đời tội lỗi. Nhiều khi muốn quay trở về với Chúa, nhưng chúng con sợ hãi vì nghĩ rằng phải đối diện với cái nhìn nghiêm khắc của Chúa Giêsu. Xin cho chúng con biết chạy đến cùng Mẹ, nhờ bàn tay dịu hiền và từ ái của Mẹ dẫn dắt chúng con trở về với Chúa Giêsu Kitô, Con Mẹ.

Lm Giuse Nguyễn Văn Thái.