CÁI CHẾT: CON ĐƯỜNG ĐƯA TỚI SỰ SỐNG

Cái chết : Một thực tại

Là người, ai cũng phải chết. Đó là điều quá rõ ràng, không cần phải minh chứng. Xưa nay chưa ai đã thoát chết. Cái chết vẫn hằng theo dõi, ám ảnh tâm trí mọi người, dù người ta muốn quên hay chối bỏ nó. Nhưng càng xa tránh, càng chối bỏ thì nó lại càng theo sát chặt chẽ.

Phải chăng đó là điều Ingmar Bergman (nhà dựng phim nổi tiếng người Thụy điển), đã cố diễn tả trong phim “Dấu ấn thứ bảy” (Le septième sceau) khi muốn bàn về cái chết và coi nó như một bí nhiệm. Trong suốt cuốn phim, ta thấy thần chết luôn lảng vảng hiện hình, ngay cả những lúc con người ít ngờ nhất, qua mọi sinh hoạt, lúc vui cũng như lúc buồn, khi thịnh sự cũng như hồi suy thoái. Dưới mắt Bergman, cái chết luôn luôn đứng đó, như rình mò, như chờ đợi… Phải xem phim và phân tích tường tận tỉ mỉ từng cử chỉ, dáng điệu, lời ăn tiếng nói của mỗi nhân vật cũng như hình ảnh cùng tiết điệu của phim, mới càm thấy thấm thía nỗi kinh hoàng và sự bất lực của con người trước cái chết.

Jean Cocteau cũng đã bàn về thần chết trong phim Orphée. Và Albert Camus cũng đã nói nhiều đến chết trong tiểu thuyết được xếp vào loại tiêu biểu nhất của ông : cuốn Dịch hạch (La peste). Trong hai tác phẩm này, các tác giả đã cho ta thấy chủ quyền của thần chết trên con người,. Con người bất lực trước sự chết.

Mấy nhà bác học Nga đang cố tìm ra một thứ thuốc làm cho con người khỏi chết. Các ông vô cùng băn khoăn khi nhận thấy khoa học đã tiến những bước khổng lồ trong phạm vi thám hiểm không gian, và sáng chế những máy móc rất mực tinh vi hữu hiệu trong nhiều địa hạt mà chỉ riêng trong phạm vi sinh tử, con người dường như vẫn đứng nguyên một chỗ, nghĩa là không thể làm cho người chết sống lại, và làm cho một người đang sống,sống mãi. Sự băn khoăn này lại càng khiến các ông cố gắng đi tìm hơn nữa để may ra một ngày nào đó khám phá ra được thứ thuốc “trường sinh”. Báo Tuổi Trẻ ngày 25.11.2002 có đăng tin trong bài Gen đã tạo được trường thọ ? với những lời lẽ như sau : “Chúng tôi tin rằng sắp tới đây - lời một giáo sư sinh học người Nga - sẽ có công nghệ cho phép kéo dài thêm cuộc sống của con người ít nhất gấp 2-3 lần, nếu không muốn nói là vô tận.”

Tuy nhiên, cho đến nay sự sống vẫn còn là một bí nhiệm. Quyền tạo ra sự sống vẫn nằm trong tay Chúa Hóa Công và cái chết cũng ở trong tay Người, tuy loài người có thể gieo rắc sự chết chóc thảm hại ở khắp nơi, …

Những nỗ lực của các nhà bác học Nga và bao nhiêu nhà bác học khác trên thế giới một ngày kia có đưa tới kết quả loài người mong muốn hay không : đó còn là giả thuyết. Theo các ông thì đó là một điều có thể cũng như bao điều có thể khác, vì căn cứ vào những khám phá luôn luôn mới mẻ của trí óc con người, các ông được quyền và có lý nghĩ như vậy. Nhưng theo Kinh thánh, điều đó không thể nào thực hiện nổi, vì Chúa đã phán với ông bà nguyên tổ : “Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về bụi đất” (Gen, 3,19).

Đây là án phạt ông bà nguyên tổ phải mang vì tội không nghe lời Chúa. An phạt này truyền sang cả con cháu. Phải chi ông bà đã không phạm tội thì đã không phải chết và cái chết đó chắc hẵn con cháu cũng không phải gánh chịu, vì Chúa đã dặn trước là ngày nào ăn trái cây biết lành biết dữ, ngày đó ông bà sẽ phải chết: “Nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết (Gen 2,17).

Người công giáo hay ngoài công giáo nhưng nhận định sự việc diễn tả trong Kinh thánh theo tinh thần khoa học thực nghiệm, cái gì cũng đòi kiểm chứng, mà không đọc những đoạn văn đó theo cái nhìn của đức tin, theo ý nghĩa hơn theo sự việc được diễn tả, biết đâu chẳng mỉm cười khi đọc những đoạn Kinh thánh trên đây và rất khó giữ mình cho khỏi nghĩ đó là những chuyện thần thoại.

Nhưng đó lại là vấn đề khác. Vấn đề ở đây là bàn về cái chết. Cái chết là một biến cố chung cho mọi người. Khoa học có thể xóa bỏ được sự chết hay không, điều đó ta chưa biết. Người tin khoa học, không nhận Chúa thì bảo một ngày kia người ta sẽ biết; còn những người tin Chúa thì cho đó là quyền dành riêng cho Người và chết là một án phạt Người đặt ra cho nhân loại. Loài người không thể phá nổi án phạt này. Chính vì thế, những người vô thần không ngừng tranh đấu để dành lại quyền sinh tử bấy lâu vẫn nằm trong tay Thiên Chúa. Ngày nào dành được quyền này, con người sẽ trở thành ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa có để cho con người ngang hàng với mình không? Điều này Kinh thánh không hề vén tỏ cho ta một chút màn bí mật nào mà chỉ thấy nói con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. (St 1,27) và con người được gọi là con Thiên Chúa (Rm 8,14). Trước kia, ngay từ đầu khi mới được dựng nên, con người đã bị cám dỗ vượt lên khỏi thân phận thụ tạo của mình để trở thành ngang hàng với Thiên Chúa bằng cử chỉ hái ăn quả cây “biết lành biết dữ”. Nhưng kết quả thế nào, chúng ta đã biết. Ngày nay nếu con người vẫn quyết “nhoi” lên cho ngang hàng với Thiên Chúa thì kết quả cũng sẽ giống như hành động “ăn trái cấm”, vì Thiên Chúa vô cùng trổi vượt, con người không bám gót Người nổi, cũng như xưa ông Mô-sê không thể xem thấy Chúa mà sống được : “Ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn sống.” (Xh 33,20)

Vậy chết là điều tự nhiên; cho đến nay ai cũng thấy, nhưng không thể cưỡng lại được.

Thái độ của con người trước sự chết

Đứng trước sự chết, con người có nhiều thái độ khác nhau. Nhưng thái độ chung làmuốn thoát chết. Nếu bó buộc phải chết mà không thể làm khác được, bấy giờ thái độ mới khác nhau. Ngoài ra, có người lại đi tìm cái chết để kết liễu cuộc đời, vì cuộc đời theo họ đen tối quá, không đáng sống và không thể sống. Đó là trường hợp của những người tự tư; họ coi cái chết như một giải thoát hay một cách thế để bảo toàn danh dự hay khí tiết. Những người đó đã lao đầu vào cái chết, nhưng chưa chắc họ đã không sợ chết, vì chết vẫn là một hình ảnh hãi hùng với ngay cả người muốn xa lánh cõi đời. Có chăng họ sẽ nghĩ rằng sự đau khổ trong cái chết sẽ chóng vánh mau qua, và chết rồi là hết nên cố chịu đựng những giây phút bi thảm cái chết dành cho mình trước khi tan biến vào hư vô hay sang một kiếp khác mà họ không biết thế nào.

Can đảm đón nhận

Ngoài sự sợ hãi trước cái chết là điều chung cho mọi người, ta lại thấy có những người can đảm đón nhận nó. Những người này không phải vì tuyệt vọng hay coi cái chết như một kết thúc dĩ nhiên, sớm muộn gì ai cũng một lần trải qua, hoặc nghĩ rằng cái chết là vô lý hay cũng đồng nghĩa như chết là hết. Đó là cái chết của những vị thánh, của các anh hùng liệt sĩ hay những con người cao cả hy sinh vì nghĩa vụ cho đến chết (như các bác sĩ, các thuyền trưởng trong các vụ đắm tầu hay các nhà truyền giáo, vì lương tâm nghề nghiệp và đạo giáo mà bỏ mình cho đại chúng).

Về điểm này, trước hết phải kể Chúa Cứu thế. Sự sống của người không ai có thể lấy đi được, nhưng chính Người đã rộng tay cho đi, để muôn người nhờ đó mà được cứu thoát, như Người nói: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi đuợc, nhưng chính tôi hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được” (Ga 10,18).

Socrate, Phan Thanh Giản cũng đã thản nhiên cầm uống chén thuốc độc. Các vị tử đạo đã bình tĩnh, tin tưởng đón nhận án tử dành cho các ngài. Các chiến sĩ ngoài mặt trận đã liều mạng để đánh đuổi quân xâm lăng, lấy cái chết làm nghĩa cử đền nợ nước. Các nhà anh hùng giải phóng dân tộc khi thất thế, biết rằng “vận trời khi đã tận, sức lay thành nhổ núi mà làm chi” đã khẳng khái ra pháp trường đón nhận cái chết…

Kể ra gương kim cổ về sự can đảm đón nhận cái chết còn nhiều, nhưng chỉ xin nói đến một ít trường hợp ai cũng biết. Ngoài ra còn biết bao nhiêu người đau lâu ốm dài, sống mòn mỏi trên giường bệnh ! Rất nhiều người khác nữa cũng đã can đảm đón nhận cái chết, với một tinh thần chịu đựng gương mẫu và một lòng tin mạnh mẽ phi thường.

Sợ hãi chạy trốn

Đây là thái độ thông thường hơn cả. Và đó cũng là điều tự nhiên do bản năng tự vệ của con người, khi đứng trước một nguy cơ hay một sự đe dọa. Bản năng này làm cho con người nhạy cảm trước bóng dáng sự chết và lo tìm cách bảo vệ. Bởi vậy, sự chết lởn vởn ở đâu là con người lo trốn tránh hoặc đối phó. Dịch hạch, lụt lội, tai ương, chiến tranh, bom đạn v.v… đều là những đe dọa gieo rắc sự chết khiến con người phải đối phó hay chạy trốn.

Nhưng thảm hại ! Dù sợ hãi chạy trốn, con người cũng chỉ thoát vòng vây hãm của nó, trong một thời gian dài hay vắn tùy tiện, còn ai trước sau cũng một lần phải rơi vào tròng của nó hết. Đó chính là cái bi đát của thân phận con người mà người ta không muốn chấp nhận nhưng vẫn phải chấp nhận. Vì thế, các nhà triết học hiện sinh mới cho chết là vô lý. Cái “vô lý” như đã “chộp” ngay lấy người vẫn thường chủ trương va xưng tụng nó : Albert Camus, nhà văn đoạt giải Nobel năm 1957 đã tử nạn xe hơi ba năm sau (4-1-1960) trên đường từ Sens về Paris, một cách bề ngoài xem ra cũng rất vô lý. Số là ông đã mua vé xe lửa để về Paris. Nhưng nể lời mời của bạn, ông đã bỏ xe lửa để cùng về chung xe hơi. Và cái chết đã đột nhiên lôi cuốn ông đi!

Tìm quên trong vui chơi

Nếu chạy trốn không được, người ta sẽ lo âu sợ hãi hoặc cố tìm quên trong hành động hay vui chơi giải trí. Thường chỉ những lúc gian nan cực khổ hay phải đụng chạm thiết thực với cái chết, như khi bị lụt lội, dịch hạch, chiến tranh, tật bệnh, con người mới nghĩ tới chết; còn ngoài ra trong lúc bình thường ít ai để ý đến chết; mà ngược lại còn hết sức đẩy xa những ý tưởng chết chóc vì chúng làm cho cuộc đời ra đen tối và ngăn trở lòng ham sống yêu đời.

Nhưng, nếu chết làm cho con người hoang mang lo lắng thì nó cũng dễ đưa người ta đến chỗ tìm quên lãng. Điều này càng rõ rệt ở những nơi cuộc đời hiến cho con người nhiều tự do, bảo đảm hoặc dễ dàng về vật chất. Đó là trường hợp những nước kỹ nghệ tiên tiến, hoặc những đô thị xa hoa trên thế giới.

Người ta có làm một cuộc điều tra về những nỗi lo âu của con người hiện đại, trong giới công nhân. Kết quả cuộc điều tra cho biết : phần đông sợ thất nghiệp, bệnh tật, già lão mà không sợ chết. Bị gạn hỏi, có người đã trả lời : không nghĩ tới chết bao giờ, hoặc không sợ, phải cố chịu, vì chết là một định mệnh.

Không nghĩ đến chết đối với nhiều người trong thời đại ta, âu cũng là một lối thoát, tuy giả tạo, để khỏi phải bận tâm tới một sự “rầy rà” đè nặng lên cuộc đời. Vì vậy, mới thấy xuất hiện mạnh mẽ lòng ham sống, yêu đời đến độ cuồng nhiệt của mọi giới, nhất là giới trẻ, trong thời bình cũng như thời chiến. Bởi thế, bao người mới chôn vùi đời mình trong “canh bạc thâu đêm, trận cười suốt sáng”. Người ta lý luận rằng, cuộc đời gang tấc, xuân thì mau qua, nếu không tìm cách hưởng thụ “ cái già sồng sộc nó thì theo sau”, thật uổng quá! Bởi vậy,

Cuộc hành lạc bao nhiêu lãi đấy,

Nếu không chơi thiệt ấy ai bù
”? (Nguyễn Công Trứ)

Thảm hại, nhiều người trẻ tuổi đã coi đó như một lý tưởng và không ngần ngại áp dụng vào cuộc sống. Mầm mống yêu đời đã có sẵn, lại thêm tính thích bắt chước lối sống của một số thanh niên nam nữ Tây phương, một phần thanh thiếu niên nữ tại các đô thị lớn đang bày ra trước mắt chúng ta một cảnh tượng ham sống đến quên chết.

Quả vậy, hàng ngày báo chí đăng tải biết bao tai nạn lưu thông. Phần đông nạn nhân là giới trẻ, lái xe máy Nhật bản, Trung quốc, Đại hàn như bay trên các đường phố (đặc biệt trên xa lộ), vào những buổi chiều hay những ngày nghỉ. Xe nổ dòn trên đường lộ thênh thang, lòng thanh xuân đương độ phơi phới, lại được tăng cường thêm bởi một người bạn tâm tình có tầm vóc mảnh mai và tiếng nói nhỏ nhẹ, thì thật khó còn chỗ cho hình bóng sự chết trong lòng người thanh niên nữa! Vì thế các cô cậu mới ít dè tai nạn xảy ra và cũng không nghĩ đến chết.

Nhưng, dù ham sống đến quên chết, áng mây sầu vần cứ hiện ra tỏa bóng râm che rợp cuộc đời như có nhà thơ viết :

Bấy lâu nay xuôi ngược trên đường đời,

Bạn thấy chăng tôi chỉ hát chỉ cười,

Như vui sống mãi trong vòng sung sướng,

Là vì tôi muốn để cho lòng tôi tưởng

Không bao giờ còn thấy vết thương đau,

Không bao giờ còn thấy bóng mây sầu

Vương vít nữa.

Bạn ơi! Nào có được
!” (Thế Lữ)

Tìm quên trong hành động

Nếu không tìm quên cái chết trong sự hưởng lạc, con người lại cố tìm quên trong hành động, hành động để thay đổi một chế độ, vì theo họ chế độ đó bất công, lỗi thời, chậm tiến, ngõ hầu thiết lập một trật tự mới huy hoàng và tiến bộ. Đó là chủ trương của những người làm cách mạng mà André Malraux đã diễn tả, trong cuốn Thân phận con người (La condition humaine) của ông, qua những nhân vật như Tchang và Kyo. Theo họ, cuộc đời đã dồn ta vào một ngõ bí thì phải nhất tề đứng lên phá cái ngõ bí đó bằng hành động. Hành động, vì thế, đã trở thành ma lực hấp dẫn biết bao thanh niên thiếu nữ đi vào con đường cách mạng. Họ lý luận :“ Cái chết của tôi là điều chướng tai gay mắt, phi lý đối với cá nhân thì lại có nghĩa đối với đoàn thể.“ “Cái chết của cha mẹ là sự sống cho con cái”, Hegel nói thế. Xét một đàng nó là điều kiện tiến bộ cho các thế hệ mai sau. Không có nó thì trái đất sẽ tràn ngập những ông già. Tuổi trẻ không cùng của nhân loại đòi cá nhân phải chết, cái chết chỉ là một thời khắc trên bước đường tiến hóa. Hơn nữa, nó còn là điều kiện của di chuyển và tiến bộ, điều kiện của sự sống. Quả vậy, chính trong sự tranh đấu không ngừng giữa những cái đối nghịch mà cái mới nổi lên tiêu diệt cái cũ. Mỗi khi vật chất phát sinh ra một hình thức mới thì phải hủy bỏ hình thức cũ đi. Mùa xuân ra đời thì mùa đông phải chết. Tuổi thơ ấu phải chết, ta mới bước sang tuổi trưởng thành được. Những tâm tình bền vững nhất cũng phải đổi mới không ngừng mới mong bền vững.

Nhưng không phải chỉ những người theo cách mạng hay chủ nghĩa hành động mới lấy việc làm để quên chết. Còn biết bao tâm hồn hiền nhân quân tử hiến cả cuộc đời tận tâm khai hóa cho đồng bào, hoặc hết mình săn sóc cho bệnh nhân Rồi lại có những văn nhân nghệ sĩ, bác học suốt đời cặm cụi sáng tác, truy tầm nghiên cứu, những mong để lại cho đời cái phần tinh hảo nhất của mình mà quên chết.

Sống bình thường nên hay quên chết

Còn một loại người cuối cùng (mà số này đông đảo hơn cả trong nhân loại),là chúng ta, những người sống bình thường hay dễ quên chết. Ta sống như mọi người, vẫn ăn, vẫn ngủ, vẫn chơi, vẫn làm việc, nhưng thường không mấy khi đặt vấn đề chết, trừ trường hợp bị đe dọa cấp bách. Ta chỉ biết sống rồi bao giờ chết sẽ hay Thành ra, trong cuộc đời, người ta sống dường như quên mình sẽ phải chết!

Thái độ này phải chăng đáng trách? Các nhà giảng thuyết và đạo đức thường nghĩ như vậy. Vì thế, các vị luôn thôi thúc “con chiên bổn đạo” phải năng nhớ đến sự chết. Đã một thời và nay nhiều nơi vẫn còn, sự chết được diễn tả với những vẻ rùng rợn ghê gớm trong các bài giảng và những tuần cấm phòng, vì đối với các ngài, không gì hữu hiệu hơn, để lôi cuốn người ta ăn năn trở lại cùng Chúa, cho bằng nghĩ tới giờ chết của mình. Càng sợ chết, càng dễ ăn năn trở lại. Muốn kích động trí tưởng tượng của thính giả, tất nhiên phải dùng những hình ảnh thật gợi cảm với một giọng nói lâm ly rùng rợn. Ta hãy nghe một trong những linh mục giảng về sự chết do một thính giả thuật lại:

Chiều hôm đó, giảng về sự chết, ánh sáng chung quanh chúng tôi đều tắt hết, trừ một ngọn nến nhỏ hiu hắt toả sáng. Bóng đen dày đặc xoáy chặt chung quanh chúng tôi. Quỉ lướt cánh trên chúng tôi. Chúng tôi sống trong cơn ác mộng…” Rồi vị giảng thuyết thuật lại cái chết bất ưng của một người trước kia đã từng dự tuần cấm phòng với ngài: “Anh chị em thân mến ! Chàng đã chết, một tay cầm một cuốn tiểu thuyết, một tay cầm ảnh một người đàn bà son phấn loè loẹt. Chết rồi, xác chàng đen thui như bị cháy”.

Nghĩ đến chết và phải đụng chạm thiết thực với cái chết, quả thực, dễ làm cho nhiều người mềm lòng lo đến phần rỗi linh hồn.. Nhưng, ngược lại, cũng rất nhiều người trơ trơ như đá. Hình ảnh sự chết không làm họ rung động. Còn nói gì đến ăn năn trở lại ! Vì thế, họ không muốn nghe nói đến chết. Có khi họ còn cười thầm và cho là ngớ ngẩn,“mị dân” lúc phải nghe giảng về sự chết. Theo họ, chết là một đề tài lỗi thời, chỉ hợp cho những người yếu bóng vía và nên dùng trong một thời đại văn hóa, khoa học, kỹ thuật còn yếu kém. Ở thời đại này, không thể lấy cái chết như một áp lực cảm hóa lòng người được.

Cái chết: ngưỡng cửa cuộc đời

Như vừa bàn giải sơ lượt trên đây, người ta ai cũng nói đến chết, sợ chết, trốn chết, quên chết, hoặc đón nhận cái chết. Mỗi người quan niệm về sự chết một lối, nhưng chưa thấy ai nói đến chết như ngưỡng cửa đưa vào cuộc đời hay cái chết con đường đưa tới sự sống.

Vậy cái chết có ý nghĩa gì đối với người tin Chúa?

Đối với người tin Chúa, chết không phải là hết. Chết là ngưỡng cửa đưa vào cuộc đời hay con đường đưa tới sự sống. Nhưng cần xác định ngay ngưỡng cửa cuộc đời hay con đường đưa tới sự sống ở đây không phải kéo dài mãi đời sống hiện tại hay tái sinh con người, đưa nó từ chỗ phân hóa, tê liệt, bất động khi trút hơi thở cuối cùng về chỗ sinh hoạt sống động trong cõi người ta. Chết là không còn góp mặt với người đương thời trong mọi biểu dương của nó, đi từ vật lý,tâm lý đến siêu nhiên như ăn, ngủ, làm việc, thương mến, suy nghĩ, chiêm niệm, ngưỡng vọng v.v… Chết là tan nát, rã rời, đứt đoạn, tiêu tán hình hài, không còn giao cảm được với ai trên cõi đời này nữa.

Khi chết, người tin Chúa cũng chết theo nghĩa đó. Nhưng họ lại sống trường sinh bất diệt ở một cõi đời khác, như Chúa Giêsu đã hứa cho những ai tin Người: “Chính Thày là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thày thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thày, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11, 25-26). Người tin Chúa thì dù có chết cũng sẽ sống. Nhưng sự sống đây không giống, và cũng không còn là sự sống, như ta đang sống hiện nay, với một không gian cư ngụ rõ rệt, và những phiền hà, vui tươi, phấn khởi, lo lắng v.v… ”Vì khi từ trong đám người chết sống lại, người ta không lấy vợ lấy chồng nữa, mà sẽ như thiên thần trên trời”. (Mc 12,25). Đó là lời tiên báo cuộc đời mới con người sẽ được sống, sau khi trút bỏ thân xác, đợi lúc hồn xác tái hợp trong buổi thẩm chung ngày tận thế.

Nhưng không phải chết bất cứ cách nào cũng sẽ được hưởng sự sống như Chúa hứa, mà phải sống và chết như Chúa. Điều này có nghĩa gì ? Sống theo Chúa là làm theo ý Đức Chúa Cha, mỗi người trong cảnh đời riêng và tùy theo ơn gọi đã nhận được. Mà ý Đức Chúa Cha là muốn chúng ta ăn ngay ở lành, tin nhận và tuân theo lề luật của Người. Đó là tất cả chương trình sống đã được phác họa ngày ta chịu phép Rửa tội. Phép Rửa tội là lời giao ước giữa Chúavới ta; một đàng Chúa nhận ta làm con, ban sự sống thần linh đặc biệt của Người cho ta; một đàng ta công nhận chủ quyền tuyệt đối của Người trên ta. Ví thế, ta hứa tin nhận Người là Chúa Ba Ngôi và từ bỏ ma quỷ, tội lỗi, thế gian và những sự phù hoa nó bày ra để quyến rũ ta.

Tuy nhiên, trung thành với lời cam kết đó không phải dễ. Vì thế người tín hữu phải luôn luôn tranh đấu vật lộn với những đam mê của mình, để giữ vững lời cam kết từ bỏ. Sự cố gắng từ bỏ liên lỷ này cũng đồng nghĩa như một cái chết tiệm tiến, liên tục vì phải xâu xé giằng co giữa hai trật tự : trật tự của Thiên Chúa và trật tự của thế gian. Cái chết trong sự từ bỏ đó là điều kiện tiên quyết để bước vào sự sống của Chúa. Thành ra, người tín hữu Chúa Kitô, khi chịu phép Rửa tội là bằng lòng chết cho tội lỗi và những mầm mống sinh tội, để được tự do làm chủ mình theo trật tự của Chúa.

Trong phép Rửa tội, ta thấy Hội thánh dùng những chất liệu có ý nghĩa tượng trưng rất mạnh mẽ như nước, lửa, muối. Nuớc thanh tẩy, cứu sống và tiêu diệt. Lửa đốt cháy, soi sáng dẫn đường. Muối ướp mặn, giữ cho khỏi hư thối và tăng cường sinh lực. Ngoài ra, phép Rửa tội còn nhắc lại một sự kiện lịch sử rất ý nghĩa : đó là cuộc Vượt qua biển Đỏ của Dân Do thái, từ bỏ cảnh đời nô lệ để bước sang vùng tự do. Cuộc lặn lội này đã diễn ra và tiếp theo bằng nhiều gian khổ, cho tới khi Dân Chúa mon men tới bờ Đất Hứa. Đó cũng là hình ảnh cuộc hành trình của con người đi về cõi Sống. Bởi vậy, chịu phép Rửa tội là nhận chết để được sống.

Ngày xưa, lễ nghi Rửa tội trong những thế kỷ đầu còn thấm thía hơn bây giờ nhiều. Hồi đó, thường rửa tội bên bờ sông hay cạnh giếng nước. Người chịu rửa được đưa thẳng xuống nước, bị dìm trong lòng nước ba lần, sau mỗi câu trả lời về Ba Ngôi Thiên Chúa, rồi lại được vớt lên. Cử chỉ dìm xuống vớt lên đó ngụ ý chết đi và sống lại : chết trong lòng nước và sống lại khi đứng lên. Lòng sông, lòng giếng ở đây tượng trưng cho nấm mồ chôn xác. Người tín hữu phải chôn xác mình để rồi thoát xác mà sống lại.

Hơn nữa, phép Rửa tội cũng còn là vang bóng thâm trầm và ý nghĩa về lễ Vượt qua Biển đỏ năm xưa của người Do thái. Người Kitô hữu khi chịu phép Rửa tội cũng đã vượt qua cái chết, đi từ chỗ tình nguyện chịu khổ, chịu chết để sống lại vinh quang với Chúa trong ngày Phục sinh mà chúng ta cử hành long trọng mỗi năm. Phép Rửa tội cũng cho ta thấy Chúa Kitô đã chết (Lc. 12,50; Mc 10,38) và cái chết của Người chính là con đường đưa tới sự sống cho chúng ta. Người đã thành lập một đạo mới, lấy cái chết làm khởi điểm hồi sinh cho những ai tin theo lời Người giảng dạy. Đạo của Người không phải là một đạo cam chịu, bất lực, ủy mị, mà chính là đạo thắng vượt giải thoát, đặt căn cứ trên sự chấp nhận gian khổ, kể cả cái chết về phần xác, để biến đổi, thăng tiến, và mặc cho nó một ý nghĩa cứu chuộc phong phú như lời Người dạy: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quí mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12, 24-25).

Sự tan biến, nát ải của hạt miếng cũng như sự hy sinh mạng sống mình ở trần gian này để sống theo Tin Mừng của Chúa Cứu Thế, nghĩa là bằng lòng chịu thử thách, gian lao, vất vả để trung thành với Nguời, xét về một phương diện là thiệt thòi, nhưng xét về phương diện khác lại là thành công, vì đối với tín hữu, chết là một mối lợi, bởi lẽ Chúa Kitô là sự sống của họ: “ Quả thực, sự sống của tôi là Chúa Kitô và chết đối với tôi là một thắng lợi” (Pl 1,21)

Sở dĩ, thánh Phao-lô quan niệm chết là một thắng lợi, vì giam mình trong thân xác hữu hạn này, ngươi cảm thấy nặng nề, bức rứt và chỉ mong được thoát xác trần tục bay về với Chúa (2 Cr 5,8) : người mong chóng được mặc áo vinh quang phục sinh để gỡ bỏ những gì là mong manh, mỏng dòn trong thân xác mình (2 Cr 5,1-4; I Cr 15, 51-53). Và ngay từ bây giờ, tuy còn mang thân xác, người tín hữu đã bắt đầu chết theo ý nghĩa mới bàn giải theo thánh Phao-lô.

Kết Luận

Chết theo đạo Phục Sinh : Con đường đưa tới sự sống


Đạo Phục sinh là một kiểu nói mới được phục hồi ít lâu nay, để diễn tả một thực tại vô cùng phong phú, bấy lâu bị chìm sâu trong kho tàng truyền thống của Hội thánh mà Hiến chế Phụng vụ đã khơi lên, để phơi bày ra ánh sáng địa vị chủ yếu của mầu nhiệm Phục sinh trong cuộc đời tín hữu. Hiến chế nói: "Sự nghiệp cứu chuộc nhân loại và tôn vinh Chúa Cha cách hoàn hảo đó, Chúa Kitô đã chính yếu hoàn thành bởi mầu nhiệm Phụcsinh qua cái chết, sự sống lại và vinh thăng của Người, nhờ đó, khi chết, Người đã phá hủy cái chết của chúng ta và khi sống lại, Người đã phục hồi sự sống". (Hiến chế Phụng vụ số 5).

Căn cứ theo đó, ta thấy đạo Phục sinh là đạo xoay quanh Chúa Kitô, dựa vào cái chết và sự sống lại của Người. Sống và chết hai điều đối nghịch nhau. Thế mà hai điều đó lại đã xuất hiện nơi Chúa Giê-su. Người đã phải chịu nhục và được vinh quang, đã chết và sống lại: "Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?" (Lc 24,26). "Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại" (Mc 8,31; 9,31; 10,34). Vì thế, đạo Phục sinh cũng là đạo tinh luyện con người qua con đường đau khổ để tiến tới vinh quang. Đó chính là niềm vui, sự hy vọng và phấn khởi cho mọi tín hữu, vì như thánh Phao-lô nói: "Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng… Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi thì chúng ta là những kẻ đáng thuơng hơn hết mọi người (1Cr 15,14 và 19).

Như vậy, cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu là trung tâm điểm của đời tín hữu, và đạo Phục sinh là đạo xoay quanh cái chết và sự sống lại của Người. Tưởng cần nhớ lại cuộc lên đường của dân Do thái thoát Ai cập, vượt Biển đỏ (Xh 14,15-30) tiến về đất hứa và đặt liên quan giữa việc thoát ly Ai cập của Do thái với phép Rửa tội, mới cảm thấy ý nghĩa thâm thúy của việc Chúa sống lại để giải thoát chúng ta, cũng như xưa đã giải thoát Do thái khỏi ách nô lệ Ai cập. Chúa đã đem chúng ta từ bóng tối đến ánh sáng, từ cõi chết đến sự sống. (1Ga 3,14). Chúng ta đã chịu chết với Chúa khi chịu phép Rửa tội, chết cho thế gian (1 Ga 2,16), cho tội lỗi và những đam mê bất chính (Rm 6,12) đồng thời cũng đã sống lại với Người (Cl 2,12; Rm 6,4). Phép Rửa tội là con đường cứu thoát chúng ta, nhờ đó ta vượt qua tội lỗi, dứt khoát và đoạn tuyệt với cảnh đời nô lệ do nó gây nên và cầm chân chúng ta lại trong đó.

Nhờ đâu mà được như thế? Thưa chính là nhờ cái chết và sự sống lại của Chúa Giê-su. Cho nên nguồn mạch mọi ơn cứu thoát của ta phát sinh từ thánh giá Phục sinh của Người. Bởi vậy, Thánh giá và Phục sinh không thể tách biệt nhau. Đó là hai mặt của một mầu nhiệm duy nhất : mầu nhiệm Phục sinh. Hằng tuần, ngày Chủ nhật, lúc họp mừng phụng vụ và cử hành thánh lễ, là chúng ta tưởng niệm ngày sống lại của Chúa. Hàng năm, khi vào mùa Chay để sửa soạn mừng lễ Chúa sống lại là chúng ta chuẩn bị "ăn mừng" ngày giải thoát và chiến thắng của chính chúng ta. Sau này khi được đi đón Chúa trở lại trong vinh quang là lúc thân xác tội lỗi yếu hèn của chúng ta được biến thành thân xác chói lọi hào quang, rực rỡ vinh hiển. (Rm 8,22tt; Pl 3,10tt. 20tt). Lúc ấy chúng ta được sống lại hoàn toàn trong cuộc đời vô cùng vô tận (Dn 12, 2-3).

Chung qui, trước sau, cuộc đời của chúng ta vẫn phải hướng về mầu nhiệm Phục sinh, vì ơn cứu thoát và hạnh phúc muôn đời của chúng ta tùy thuộc ở đó. Đối với mỗi người chúng ta, Thiên Chúa có một chương trình và dự định riêng. Chương trình và dự định đó là mỗi người nhận biết Chúa Cha và Đấng Người đã sai, để được sống đời đời (Ga 17,3) Chúng ta có một sự nghiệp phải hoàn thành. Sự nghiệp đó là chiếm lãnh cho kỳ được Nước Trời Chúa hứa cho những ai theo và tuân giữ lời Người (Mt 13,44tt; 5,3; Mt 8,1-4; Mt 6,33; Mt 7,21). Nếu coi thường việc hoàn thành sự nghiệp đó ở trần gian này thì thật là chúng ta làm mất ý nghĩa và đánh lạc cùng đích của đời mình vậy ! Mà mong muốn thực hiện công trình này, tất nhiên không thể không sống mầu nhiệm Phục sinh.

Vì thế, đạo của chúng ta phải là đạo chết và sống diễn ra song song trong cuộc đời : chết cho tội lội, tính mê nết xấu, chết cho con người cũ và sống cho Chúa, mặc lấy những tâm tình từ bi, nhân hậu, bác ái, vị tha, tôn trọng các điều răn vì mến Chúa, vì hiểu biết, chứ không phải vì bị ép buộc hay sợ hãi, bởi lẽ chúng ta là con cái Người (Gl 4,6; Rm 14,29).

Cuối cùng, lời nhắn nhủ sau đây của thánh Phao-lô sẽ phác họa cho chúng ta một mẫu đạo Phục sinh để sống :

" Anh em đã được trỗi dậy cùng với Chúa Kitô,

nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới,

nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa.

Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới,

chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.

Thật vậy, anh em đã chết và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa.Khi Đức Ki-tô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Người và cùng Người hưởng phúc vinh quang"
(Col, 3,1-4)