Phong cảnh thiên nhiên hữu tình
Những ngày sau đó lưu lại ở Đan Viện là thời gian giúp tôi đi sâu hơn vào đời sống nội tâm. Ngoài những giờ phụng vụ, kinh nguyện và tham dự thánh lễ, tôi đã có dịp đi tản bộ một đoạn đường dài bao quanh Đan Viện, lúc xế chiều, với cha T., qua những lối đi giữa rừng cây và cỏ dại, thỉnh thoảng tiếng chim hót cất lên đâu đây. Xa xa là những ngọn suối chảy róc rách qua những khe đá.
Phong cảnh thiên nhiên kỳ thú nầy gợi lại trong trí tưởng tượng của tôi một cảnh trí được ghi lại trong “Hồn Bướm Mơ Tiên” (trang 29-30):
“Chúng tôi đi trên con đường quanh co ngoắt ngoéo, ở giữa hai trái đồi. Cây cối um tùm, ánh trăng chiếu sáng qua những khe lá, bóng in xuống đất như gấm như hoa. Một lúc chúng tôi đến một cảnh bồng lai. Dưới chân một ngọn núi, giòng sông chảy róc rách như tiếng gõ mõ, trên cành chim hót véo von…Ay chính lúc đó, tiếng chuông chùa làm tôi thức giấc.”
Sinh viên Phật tử trở thành linh mục
Trong những ngày đó, tôi được cha T. chia sẻ nhiều điều lý thú. Đại chủng viện thuộc sự quản lý của Đan Viện Biển Đức có độ 200 đại chủng sinh. Đó là con số tối đa mà đại chủng viện có thể chấp nhận. Cách đây mười năm, một tân linh mục VN được chịu chức - cha L. mà cuộc đời cũng khá nhiều thăng trầm kỳ bí!
Khi còn là một thanh niên, L. được gia đình cho đi vượt biên một mình, trước khi cả gia đình được định cư ở Hoa-Kỳ về sau nầy theo diện H.O. Hồi đó, L. và một nhóm trẻ VN độ năm sáu người được một bà mẹ nuôi VN rất thương mến, tận tình săn sóc, giúp đỡ nơi ăn chốn ở hầu tiếp tục công việc học vấn.
Khi ở bậc đại học, một câu chuyện rất thương tâm xảy ra. Một hôm nọ, một thanh niên vì có chuyện giận dữ với bà mẹ nuôi VN nên đã giết chết bà già đầy từ tâm đó. Không biết có phải do cái chết đau thương của bà cụ mà sau đó không lâu, L. đã tìm đến với niềm tin Công giáo.
Trong quá trình L. tìm đến với niềm tin Công giáo, rồi sau đó vào tu học ở đại chủng viện thuộc dòng Biển Đức Mount Angel để làm linh mục không dễ dàng gì đối với gia đình, vì họ vốn là những Phật tử sùng đạo. Nhưng vì “vâng lời Thầy, con thả lưới”, cha đã chấp nhận mọi nghịch cảnh để tiến tới chức linh mục. Hiện cha L. đang chăm sóc mục vụ cho một giáo xứ người Mỹ. Đến nay, thân mẫu và bào đệ của cha đã theo đạo Công giáo.
Nữ tín hữu Mormon trở thành nữ tu ẩn sĩ
Vào mỗi sáng sớm, lúc 8 giờ, tôi thấy một nữ tu chiêm niệm ẩn sĩ, với dáng điệu trầm tư mặc tưởng, đi từ dưới chân đồi lên nhà dòng tham dự thánh lễ.
Về sau tôi được biết nữ tu đó vốn sinh trưởng trong một gia đình Mormon, rất giỏi âm nhạc vì đã học đàn ngay từ thuở bé. Một ngày kia, chị đi du lịch vùng Québec Canada và tình cờ vào viếng đại thánh đường Thánh Anna ở Beaupré. Khi bước vào thánh đường, nhìn lên tượng nữ Thánh thì lạ lùng thay, chị cảm thấy tiếng gọi trở thành người Công Giáo.
Hiện chỉ là nữ tu ẩn sĩ duy nhất ở trong một căn nhà dưới chân đồi Đan Viện, theo như sự chấp thuận của Đức Tổng Giám Mục giáo phận Portland. Trong năm học chị dạy âm nhạc cho các đại chủng sinh.
Nhạc sĩ trữ tình ngoại đạo trở thành Phó Tế vĩnh viển
Ở Portland ai cũng biết thầy phó tế vĩnh viễn Vũ Thành An, một nhạc sĩ đã một thời nổi danh với những bài “không tên”. Nhưng thầy đã gác lại giòng nhạc trữ tình để phổ nhạc vào những thánh vịnh và thánh ca.
Cuộc đời ly kỳ của Vũ Thành An đã được Nguyễn Ngọc Chấn, CNN, phỏng vấn và ghi lại trên tạp chí “Tự Do Vancouver”, số 151 ngày 15-05-2004 (trang 100 & 102).
Lời Vũ Thành An:
“Không phải tôi từ giả nhạc mà chỉ ngưng viết nhạc tình yêu lứa đôi. Tôi chuyển mình đi vào một loại nhạc khác ca ngợi tình yêu cao quí hơn, phổ quát hơn đó là Thánh nhạc và Thánh Vịnh.
……
Kể từ năm 1981 tôi được ơn cứu rỗi lúc cải tạo tại Hà Tây. Thoạt đầu vì những dằn vật của tình yêu, cuộc đời và danh vọng, tôi bị chứng mất ngủ tệ hại. Trong một đêm trằn trọc, tôi nghe hai anh bạn tù thì thầm với nhau, mỗi lần mất ngủ họ đọc kinh “Kính Mừng” là sẽ tìm ngay được giấc ngủ yên lành.
Tôi là người ngoại giáo, năm 17 tuổi có theo đuổi một cô gái rất ngoan đạo. Một trong những lần gặp gỡ cô bé chép cho tôi kinh Kính Mừng, khuyến khích tôi học thuộc. Vì chiều lòng cô, tôi thuộc kinh ấy cho đến nay.
Nghe hai người bạn tù thủ thỉ, tôi thử đọc nhẩm kinh Kính Mừng. Vừa đọc xong kinh tôi tìm được giấc ngủ lần đầu tiên sau nhiều tháng trằn trọc. Tôi bắt đầu tìm hiểu về Thiên Chúa giáo. Được sự giúp đỡ của những Kitô hữu trong trại cấm, tôi được ơn cứu rỗi. Nghiệm thấy vài phép lạ, lén học Thánh kinh, lén làm dấu thánh và lén làm nhạc ca ngợi Thiên Chúa, nhất là Mẹ Maria. Tôi được các tín đồ Công giáo chấp nhận, thêm sức và rửa tội cho tôi trong một đêm thật thiêng liêng và cảm động.
Tôi viết nhạc Thánh ca từ đó và chỉ ghi nhớ trong đầu, không dám chép thành văn bản. Việc truyền giáo trong trại cải tạo là một hình thức phạm kỷ luật của trại có thể bị phạt rất nặng.
……
Nhiều bản nhạc được làm trong thời gian cải tạo nhưng chỉ ghi nhớ trong đầu, chưa từng phổ biến. Nội dung những nhạc khúc trong thời gian đó nhấn mạnh đến cái nhân bản. Sau những chém giết, đổ vỡ, con người trở lại với bản ngã của chính mình, cùng một màu da, một sắc máu…Tỉ dụ bài “Nhân Bản 1” sáng tác năm 1983 tại Nam Hà thế nầy:
Từ đầu trời cuối đất ta đã là người nhà.
Về đầu trời cuối đất ta vẫn một mẹ cha.
Hãy xích lại đây chắp tay nguyện cầu,
Hãy dắt dìu nhau cho qua cơn lửa máu,
Ta xiết chặt tay chung xây đời mới,
Rồi mai sánh vai ta về trời.
……
Lên Portland Oregon, sinh hoạt trong các ca đoàn, từ đó tôi mới có dịp viết lại khoảng 200 bản Thánh ca đã thuộc trong đầu từ ngày vô đạo. Tại Portland tôi có thời gian để nghiền ngẫm thánh kinh, viết thành 150 bài Thánh vịnh. Hình thức cũng là những giai thoại trong Thánh kinh nhưng diễn giải qua điệu nhạc cho dịu dàng và dễ nhớ. Trong số 200 bài Thánh ca, hai cuốn CD đã được phát hành và phổ biến rộng trong giới Công giáo.
……
Từ ngày lễ tạ ơn vừa rồi, quyết định ngưng viết nhạc tình đã chính thức đến với tôi. Tôi nghĩ rằng cuộc đời mình cũng chẳng còn bao lâu, muốn dành hết khoảng thời gian còn lại để tu bổ đời sống tâm linh, chuẫn bị cho đời sau. Tôi tin tưởng sau cuộc sống hiện tại sẽ có một đời sống về sau vĩnh cửu, vì thế tôi chuẫn bị tâm hồn để sẵn sàng cho đời sau.”
Nữ giáo dân làm chưởng ấn Tòa Tổng Giám Mục Portland
Trong thời gian tôi ở Đan Viện, một nhóm linh mục thuộc tu viện Holly Cross cũng tham dự tuần lễ tỉnh tâm tại đây. Các cha được đặt dưới sự điều động của một nữ giáo dân giữ chức chưởng ấn tòa Tổng Giám Mục Portland.
Các linh mục nầy là những giáo sư thuộc nhiều trường đại học khác nhau, thuộc những ngành chuyên môn khác nhau. Các ngài rất vui vẻ và không tỏ lộ một chút mặc cảm nào về sự kiện một nữ giáo dân chưởng ấn của tòa tổng giám mục lãnh trách nhiệm điều hướng cuộc tĩnh huấn.
Thăm viếng các cộng đồng tu sĩ
Cha T. đã giúp tôi có cơ hội thăm viếng nhà dòng nữ Saint Mary ở thành phố Beaverton, cạnh công ty điện tử Intel. Đây là nhà dòng Mỹ, nhưng cũng có vài nữ tu VN, như chị L. là người mà tôi quen thân. Nhà dòng tọa lạc trên một vùng đất hơi cao, chuyên trách một trường trung học và tiểu học trên 800 học sinh. Ngoài ra nhà dòng còn đảm trách một viện dưỡng lão nữa.
Tôi cũng được dịp thăm viếng dòng Mến Thánh Giá Portland. Ngoài chị bề trên, tôi còn được một một nữ tu trên 76 tuổi tiếp chuyện. Tuy đã cao niên, nhưng chị rất vui vẻ, nói cười ôn tồn hòa nhã, tỏ lộ một tâm hồn thanh thản bình an. Những nữ tu khác, phần nhiều còn trẻ, thì phục vụ trong giáo xứ VN, giữ trẻ hay đảm trách những phần vụ khác ở nhiều nơi.
Tôi cũng được thăm viếng dòng nữ Biển Đức và dòng nam Cát-Minh của người Hoa Kỳ. Đặc biệt là những ơn gọi rất trẻ, cả nam lẫn nữ. Điều dó xem ra khó tưởng tượng được trong bối cảnh sống đầy đủ tiện nghi vật chất của xứ Hoa-Kỳ.
(CÒN TIẾP)
Những ngày sau đó lưu lại ở Đan Viện là thời gian giúp tôi đi sâu hơn vào đời sống nội tâm. Ngoài những giờ phụng vụ, kinh nguyện và tham dự thánh lễ, tôi đã có dịp đi tản bộ một đoạn đường dài bao quanh Đan Viện, lúc xế chiều, với cha T., qua những lối đi giữa rừng cây và cỏ dại, thỉnh thoảng tiếng chim hót cất lên đâu đây. Xa xa là những ngọn suối chảy róc rách qua những khe đá.
Phong cảnh thiên nhiên kỳ thú nầy gợi lại trong trí tưởng tượng của tôi một cảnh trí được ghi lại trong “Hồn Bướm Mơ Tiên” (trang 29-30):“Chúng tôi đi trên con đường quanh co ngoắt ngoéo, ở giữa hai trái đồi. Cây cối um tùm, ánh trăng chiếu sáng qua những khe lá, bóng in xuống đất như gấm như hoa. Một lúc chúng tôi đến một cảnh bồng lai. Dưới chân một ngọn núi, giòng sông chảy róc rách như tiếng gõ mõ, trên cành chim hót véo von…Ay chính lúc đó, tiếng chuông chùa làm tôi thức giấc.”
Sinh viên Phật tử trở thành linh mục
Trong những ngày đó, tôi được cha T. chia sẻ nhiều điều lý thú. Đại chủng viện thuộc sự quản lý của Đan Viện Biển Đức có độ 200 đại chủng sinh. Đó là con số tối đa mà đại chủng viện có thể chấp nhận. Cách đây mười năm, một tân linh mục VN được chịu chức - cha L. mà cuộc đời cũng khá nhiều thăng trầm kỳ bí!
Khi còn là một thanh niên, L. được gia đình cho đi vượt biên một mình, trước khi cả gia đình được định cư ở Hoa-Kỳ về sau nầy theo diện H.O. Hồi đó, L. và một nhóm trẻ VN độ năm sáu người được một bà mẹ nuôi VN rất thương mến, tận tình săn sóc, giúp đỡ nơi ăn chốn ở hầu tiếp tục công việc học vấn.
Khi ở bậc đại học, một câu chuyện rất thương tâm xảy ra. Một hôm nọ, một thanh niên vì có chuyện giận dữ với bà mẹ nuôi VN nên đã giết chết bà già đầy từ tâm đó. Không biết có phải do cái chết đau thương của bà cụ mà sau đó không lâu, L. đã tìm đến với niềm tin Công giáo.Trong quá trình L. tìm đến với niềm tin Công giáo, rồi sau đó vào tu học ở đại chủng viện thuộc dòng Biển Đức Mount Angel để làm linh mục không dễ dàng gì đối với gia đình, vì họ vốn là những Phật tử sùng đạo. Nhưng vì “vâng lời Thầy, con thả lưới”, cha đã chấp nhận mọi nghịch cảnh để tiến tới chức linh mục. Hiện cha L. đang chăm sóc mục vụ cho một giáo xứ người Mỹ. Đến nay, thân mẫu và bào đệ của cha đã theo đạo Công giáo.
Nữ tín hữu Mormon trở thành nữ tu ẩn sĩ
Vào mỗi sáng sớm, lúc 8 giờ, tôi thấy một nữ tu chiêm niệm ẩn sĩ, với dáng điệu trầm tư mặc tưởng, đi từ dưới chân đồi lên nhà dòng tham dự thánh lễ.
Về sau tôi được biết nữ tu đó vốn sinh trưởng trong một gia đình Mormon, rất giỏi âm nhạc vì đã học đàn ngay từ thuở bé. Một ngày kia, chị đi du lịch vùng Québec Canada và tình cờ vào viếng đại thánh đường Thánh Anna ở Beaupré. Khi bước vào thánh đường, nhìn lên tượng nữ Thánh thì lạ lùng thay, chị cảm thấy tiếng gọi trở thành người Công Giáo.
Hiện chỉ là nữ tu ẩn sĩ duy nhất ở trong một căn nhà dưới chân đồi Đan Viện, theo như sự chấp thuận của Đức Tổng Giám Mục giáo phận Portland. Trong năm học chị dạy âm nhạc cho các đại chủng sinh.
Nhạc sĩ trữ tình ngoại đạo trở thành Phó Tế vĩnh viển
Ở Portland ai cũng biết thầy phó tế vĩnh viễn Vũ Thành An, một nhạc sĩ đã một thời nổi danh với những bài “không tên”. Nhưng thầy đã gác lại giòng nhạc trữ tình để phổ nhạc vào những thánh vịnh và thánh ca.
Cuộc đời ly kỳ của Vũ Thành An đã được Nguyễn Ngọc Chấn, CNN, phỏng vấn và ghi lại trên tạp chí “Tự Do Vancouver”, số 151 ngày 15-05-2004 (trang 100 & 102).
Lời Vũ Thành An:
“Không phải tôi từ giả nhạc mà chỉ ngưng viết nhạc tình yêu lứa đôi. Tôi chuyển mình đi vào một loại nhạc khác ca ngợi tình yêu cao quí hơn, phổ quát hơn đó là Thánh nhạc và Thánh Vịnh.
……
Kể từ năm 1981 tôi được ơn cứu rỗi lúc cải tạo tại Hà Tây. Thoạt đầu vì những dằn vật của tình yêu, cuộc đời và danh vọng, tôi bị chứng mất ngủ tệ hại. Trong một đêm trằn trọc, tôi nghe hai anh bạn tù thì thầm với nhau, mỗi lần mất ngủ họ đọc kinh “Kính Mừng” là sẽ tìm ngay được giấc ngủ yên lành.
Tôi là người ngoại giáo, năm 17 tuổi có theo đuổi một cô gái rất ngoan đạo. Một trong những lần gặp gỡ cô bé chép cho tôi kinh Kính Mừng, khuyến khích tôi học thuộc. Vì chiều lòng cô, tôi thuộc kinh ấy cho đến nay.
Nghe hai người bạn tù thủ thỉ, tôi thử đọc nhẩm kinh Kính Mừng. Vừa đọc xong kinh tôi tìm được giấc ngủ lần đầu tiên sau nhiều tháng trằn trọc. Tôi bắt đầu tìm hiểu về Thiên Chúa giáo. Được sự giúp đỡ của những Kitô hữu trong trại cấm, tôi được ơn cứu rỗi. Nghiệm thấy vài phép lạ, lén học Thánh kinh, lén làm dấu thánh và lén làm nhạc ca ngợi Thiên Chúa, nhất là Mẹ Maria. Tôi được các tín đồ Công giáo chấp nhận, thêm sức và rửa tội cho tôi trong một đêm thật thiêng liêng và cảm động.
Tôi viết nhạc Thánh ca từ đó và chỉ ghi nhớ trong đầu, không dám chép thành văn bản. Việc truyền giáo trong trại cải tạo là một hình thức phạm kỷ luật của trại có thể bị phạt rất nặng.
……
Nhiều bản nhạc được làm trong thời gian cải tạo nhưng chỉ ghi nhớ trong đầu, chưa từng phổ biến. Nội dung những nhạc khúc trong thời gian đó nhấn mạnh đến cái nhân bản. Sau những chém giết, đổ vỡ, con người trở lại với bản ngã của chính mình, cùng một màu da, một sắc máu…Tỉ dụ bài “Nhân Bản 1” sáng tác năm 1983 tại Nam Hà thế nầy:
Từ đầu trời cuối đất ta đã là người nhà.
Về đầu trời cuối đất ta vẫn một mẹ cha.
Hãy xích lại đây chắp tay nguyện cầu,
Hãy dắt dìu nhau cho qua cơn lửa máu,
Ta xiết chặt tay chung xây đời mới,
Rồi mai sánh vai ta về trời.
……
Lên Portland Oregon, sinh hoạt trong các ca đoàn, từ đó tôi mới có dịp viết lại khoảng 200 bản Thánh ca đã thuộc trong đầu từ ngày vô đạo. Tại Portland tôi có thời gian để nghiền ngẫm thánh kinh, viết thành 150 bài Thánh vịnh. Hình thức cũng là những giai thoại trong Thánh kinh nhưng diễn giải qua điệu nhạc cho dịu dàng và dễ nhớ. Trong số 200 bài Thánh ca, hai cuốn CD đã được phát hành và phổ biến rộng trong giới Công giáo.
……
Từ ngày lễ tạ ơn vừa rồi, quyết định ngưng viết nhạc tình đã chính thức đến với tôi. Tôi nghĩ rằng cuộc đời mình cũng chẳng còn bao lâu, muốn dành hết khoảng thời gian còn lại để tu bổ đời sống tâm linh, chuẫn bị cho đời sau. Tôi tin tưởng sau cuộc sống hiện tại sẽ có một đời sống về sau vĩnh cửu, vì thế tôi chuẫn bị tâm hồn để sẵn sàng cho đời sau.”
Nữ giáo dân làm chưởng ấn Tòa Tổng Giám Mục Portland
Trong thời gian tôi ở Đan Viện, một nhóm linh mục thuộc tu viện Holly Cross cũng tham dự tuần lễ tỉnh tâm tại đây. Các cha được đặt dưới sự điều động của một nữ giáo dân giữ chức chưởng ấn tòa Tổng Giám Mục Portland.
Các linh mục nầy là những giáo sư thuộc nhiều trường đại học khác nhau, thuộc những ngành chuyên môn khác nhau. Các ngài rất vui vẻ và không tỏ lộ một chút mặc cảm nào về sự kiện một nữ giáo dân chưởng ấn của tòa tổng giám mục lãnh trách nhiệm điều hướng cuộc tĩnh huấn.
Thăm viếng các cộng đồng tu sĩ
Cha T. đã giúp tôi có cơ hội thăm viếng nhà dòng nữ Saint Mary ở thành phố Beaverton, cạnh công ty điện tử Intel. Đây là nhà dòng Mỹ, nhưng cũng có vài nữ tu VN, như chị L. là người mà tôi quen thân. Nhà dòng tọa lạc trên một vùng đất hơi cao, chuyên trách một trường trung học và tiểu học trên 800 học sinh. Ngoài ra nhà dòng còn đảm trách một viện dưỡng lão nữa.
Tôi cũng được dịp thăm viếng dòng Mến Thánh Giá Portland. Ngoài chị bề trên, tôi còn được một một nữ tu trên 76 tuổi tiếp chuyện. Tuy đã cao niên, nhưng chị rất vui vẻ, nói cười ôn tồn hòa nhã, tỏ lộ một tâm hồn thanh thản bình an. Những nữ tu khác, phần nhiều còn trẻ, thì phục vụ trong giáo xứ VN, giữ trẻ hay đảm trách những phần vụ khác ở nhiều nơi.
Tôi cũng được thăm viếng dòng nữ Biển Đức và dòng nam Cát-Minh của người Hoa Kỳ. Đặc biệt là những ơn gọi rất trẻ, cả nam lẫn nữ. Điều dó xem ra khó tưởng tượng được trong bối cảnh sống đầy đủ tiện nghi vật chất của xứ Hoa-Kỳ.
(CÒN TIẾP)