“Ai được lên núi Chúa?

Ai được ở trong đền thánh của Ngài?

Đó là kẻ tay sạch lòng thanh,

Chẳng mê theo ngẫu tượng, không thề gian thề dối.”


(Thánh Vinh 24, 3-4).

Vào một ngày đầu thu năm 2003, tôi nhận được một lá thư của linh mục T. gởi từ Đan Viện Biển Đức ở Mount Angel Portland tiểu bang Oregon Hoa Kỳ, hỏi mua dịch phẩm “NHƯ TIẾNG CHIM CA”. Từ đó sự trao đổi thư từ giữa cha và tôi trở nên thân mật và, theo sự ngỏ ý của tôi, cha sẵn sàng giúp tôi tĩnh tâm vài ngày ở Mount Angel, khi thuận tiện. Mùa hè năm nay, tôi nhắc lại điều mong ước đó và cha đã giúp tôi toại nguyện.

Tôi rời thành phố Vancouver BC Canada vào chiều thứ bảy 8-5-2004 để đi đến Seattle Washington Hoa Kỳ tham dự một buổi dạ tiệc sinh nhật thứ 50 của một người thân quen. Đúng là một đêm tưng bừng náo nhiệt! Sau khi chấm dứt bữa ăn vào lúc 9 giờ tối, khách khứa bắt đầu nhảy nhót theo tiếng nhạc êm và điệu múa thời trang nhạc trẻ. Sức sống tuổi trẻ trào dâng. Cuộc vui chấm dứt lúc 1 giờ sáng, sau khi mọi người mệt mỏi ra về.

Đền Thánh Đức Mẹ Sầu Bi

Tôi rời Seattle lúc xế trưa thứ hai 10-5-2004 để đi bus Greyhound tới Portland. Như đã ước hẹn, cha T. lái xe từ Đan Viện Mount Angel đến đón tôi tại trạm xe bus. Lòng hiếu khách của các tu sĩ Biển Đức là một truyền thống có tự ngàn xưa, kể từ thời thánh tổ phụ Biển Đức.

Trời mưa lâm râm, mây mù ảm đạm. Dù thế, cha đã đưa tôi đến viếng Đền Đức Mẹ Sầu Bi ở đây. Cha và tôi đã tản bộ trong “mưa rừng”, tuy không nặng hạt, để đi lại hành trình thương khó của Đức Mẹ.

Đi dưới mưa rơi lốp đốp qua những lớp lá rừng bao quanh Đền Thánh Đức Mẹ Sầu Bi, tôi bỗng nhớ tới bài thơ của tù nhân Vũ Tuấn Khanh, 22 tuổi, viết từ nhà tù Washington để nói lên tình yêu vĩ đại của người mẹ sầu bi trần thế đối với đứa con khờ dại phải “sa chân vào cùm”, trong bài thơ “ĐÊM KHÔNG NGỦ”:

Có những đêm dài Mẹ không ngủ

Mẹ đến bên cửa nhìn mưa rơi.

Mẹ đây! Lòng luống ngẩn ngơ sầu,

Chạnh lòng nhớ đến con khờ dại.

Ruột không cắt mà thấy nhói đau.

Mẹ cầu mong ngày tháng qua mau,

Để con trở lại mái nhà xưa.

Dù con ở đó, Mẹ ở đây

Nhưng sao Mẹ thấy quá xa xôi.

Con hỡi có nhớ mái nhà xưa,

Có bà Mẹ già đang khóc con,

Thương con khờ, quên cả tương lai.

Vì bạn bước vào vòng lao lý,

Thêm cuộc đời vào chốn tối tăm.

Khi hiểu ra nào là lẽ phải

Thì đã muộn rồi phải không con?”


(“Dấu An Tình Yêu”, Nguyễn Sông Núi, trang 58).

Đường lên Đan Viện Mount Angel

Kế đó, sau khi dẫn tôi thăm viếng Cộng Đoàn Đức Mẹ Lavang ở Portland, Cha T. đã lái xe đưa tôi lên Đan Viện Mount Angel khoảng 45 phút. Trời càng về chiều, mưa càng nặng hạt. Những đồng ruộng xanh ngắt nằm san sát bên những khóm nhà lác đác, được bao bọc bởi những cánh rừng cây um tùm ở xa xa, chạy dài bất tận…đã tạo nên cảnh thiên nhiên hùng vĩ đầy huyền bí.

Khi xe từ từ lăn bánh vào Đan Viện, màn đêm bắt dầu buông xuống, nhưng tôi vẫn nhận ra ba dãy nhà đứng sừng sững làm thành Đan Viện, Đại Chủng Viện và căn nhà tĩnh tâm cho khách vãng lai. Những dãy nhà gạch cổ kính gợi lên trong trí óc tôi cảnh chùa Long Giáng được mô tả trong cuốn “HỒN BƯỚM MƠ TIÊN” của Khái Hưng (trang 14):

Phía tây, sau dãy đồi cỏ biếc, sắc trời đỏ ửng lấp loáng qua các khe đám lá xanh đen. Mái chùa rêu phong đã lẫn màu cùng đất, cùng cây, cùng cỏ. Khoảnh khắc, mấy bức tường và mấy cái cột gạch quét vôi chỉ còn lờ mờ in hình trong cái cảnh nhuộm đồng một màu tím thẫm.

Trong làn không khí yên tĩnh êm đềm, tiếng chuông thong thả ngân nga…như đem mùi thiền làm tăng vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên. Lá cây rung động, ngọn khói thướt tha, bông lau sột soạt, như cảm tiếng gọi của Mâu-Ni muốn theo về nơi hư không tịch mịch.”


Đêm càng về khuya, mưa cũng ngừng rơi, cỏ cây hoa lá trở nên tươi mát sau mấy ngày nắng hạ chói chang. Cảnh trí yên tĩnh về đêm khiến tâm hồn con người lắng đọng để nghe tiếng thì thầm của thiên nhiên vũ trụ. Tôi lại liên tưởng đến một đoạn văn khác trong “Hồn Bướm Mơ Tiên” (trang 94):

“Trên sườn đồi, nhìn về phía tây, nương chè nằm phơi dưới ánh nắng gay gắt mùa hè. Sau trận mưa hôm qua, các lá sạch hết bụi, như có người lấy khăn lau đi một lượt, lóng lánh phản chiếu ánh thái dương, bóng nhoáng tựa trăm nghìn chiếc kính bầu dục.”

Cậu Đại Úy trong đoàn quân pháo thủ

Trong cảnh thiên nhiên trầm lắng đó, tôi bỗng nhớ tới một thanh niên quí danh là Louis Martin - cậu Đại Úy trong đoàn quân pháo thủ, thân phụ Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Cậu đã thực hiện một cuộc du hành đi tìm Ơn Gọi đan sĩ, được ghi lại trong Lời Tựa cuốn nhật ký “MỘT TÂM HỒN” (trang 7):

Tháng 9 năm 1843, trên con đường dốc và gồ ghề lên nhà Dòng Thánh Bernard xây trên ngọn núi, người ta trông thấy bước đi không nhọc, một thanh niên trạc độ 20 tuổi, dáng bộ rất tư lự và như đang mơ mộng đắm theo một lý tưởng cao khiết của đời sống, đôi mắt nhìn sâu và đượm vẻ rầu rầu, tỏ lộ một tính tình ôn tồn hòa nhã.

Phong cảnh đẹp oai hùng và tráng quan chiêm của dãy núi Alpes, làm nảy nở trong tâm hồn người trai tráng hằng trăm nghìn tư tưởng quảng bá. Nguồn cảm hứng ứa lên như nước triều dâng, xúc động tấm long tri ân Đấng Thiên Chúa uy quyền phép tắc, người thanh niên tấm tắc khen ngợi…phải dừng bước giờ lâu và để rơi những giọt ngọc…Rồi lại bước đi, đi tới ngọn non xây nhà Dòng. Nhà Dòng như ngọn hải đăng tung ra xa xa tứ phía ánh sáng hi vọng và bác ái.

……

Có phải vì muốn du lịch, muốn lên thăm nhà Dòng mà người trai anh tuấn kia bước đi đường miền cảnh đẹp như ru, nhưng xa xăm và hiểm trở? Từ Normandie đến Suisse nhiều lần phải chống gậy dò từng bước. Không, không phải người thanh niên ấy muốn du lịch, muốn đến xin tạm trú một đêm ở ngọn non hiu quạnh nầy đâu. Người thanh niên muốn xin ở tu trọn đời.”


(CÒN TIẾP)