Maria, Trinh Nữ Của Niềm Vui: Vui Vì Tin Tưởng

“Xin vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa,

xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”


(Lc 1: 26-38)

Thiên Chúa đã dựng nên con người với bản tính tự nhiên là tìm kiếm hạnh phúc. Cựu Ước nói về lịch sử đi tìm kiếm hạnh phúc của dân tộc Israel, dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn. Toàn bộ Kinh Thánh là sách nói về niềm vui. Bốn Phúc Âm được gọi là Tin Mừng. Cuộc đời của các thánh với những đường lối nên thánh tuy khác nhau, nhưng đều là những phương thức thực hành cụ thể để tìm thấy niềm vui đích thật của tâm hồn. Thánh Phaolô đã mong muốn cho mọi người tín hữu ở Philípphê luôn vui vẻ khi ngài khuyên họ rằng: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Thiên Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em!” (Pl 4:4).

Châm ngôn để sống của các thầy dòng chiêm niệm đã được chính Thánh Bênêđictô tu viện trưởng viết ra như sau: “Hãy cầu nguyện, hãy làm việc, và đừng bao giờ chán nản!” Thánh Philipphê Nêri, một vị thánh với tính tình luôn luôn vui vẻ, thông cảm và hòa hợp với mọi người, đã chủ trương sống vui vẻ bình dân để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân. Ngài thường nói: “Với người yêu mến Chúa thì không có gì nặng nhọc, mệt mỏi, nhưng đầy hân hoan trong nguồn sống chân thật”. Thánh Don Bosco, vị sáng lập dòng Salêdiêng để giáo dục giới trẻ thanh thiếu niên vô gia cư, đã vạch ra một lối sống vui tươi cho giới trẻ. Một vị thánh gương mẫu cho giới trẻ trong dòng Salêdiêng là Ðôminicô Saviô thường khuyên nhủ các bạn mình như sau: “Ở đây, chúng tôi quan niệm sự thánh thiện hệ tại luôn luôn giữ mình cho vui vẻ.”

Vào thế kỷ thứ 17, Thánh Phanxicô Salê, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh, một nhà giảng thuyết vui tươi, đã đưa khoảng 72 ngàn người trong bè rối Calvin ở Challais nước Pháp về với Giáo Hội, đã nói một câu rất nổi tiếng: “Một vị thánh buồn là một thánh đáng buồn!” (A sad saint is a sorry saint!).

Ðức tin tôn giáo mang lại niềm vui. Chính sự thánh thiện là nguồn vui. Chúng ta càng vui tươi càng dễ dàng phục vụ Thiên Chúa. Trải qua bao nhiêu thế kỷ, những người Kitô hữu đã nhìn lên Ðức Maria như là “Căn nguyên của niềm vui” (Cause of Our Joy) với lời xác tín trong Kinh Cầu Ðức Bà: “Ðức Bà làm cho chúng con vui mừng”. Ðức Maria đã được suy tôn là “Căn nguyên của niềm vui” vì Mẹ đã đặt trọn vẹn niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa một cách tuyệt đối như lời Phúc Âm ghi nhận: “Xin vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1:38). Dù chưa biết tương lai của cuộc đời sẽ ra sao, nhưng niềm tin tưởng phó thác trong tay Thiên Chúa hướng dẫn đã tạo nên niềm vui, sự bình an và hoan lạc là khởi điểm cho ơn gọi của Ðức Maria.

Những chứng từ sau đây đều là những người con đã bước theo gương mẫu của Ðức Mẹ Maria mà tìm thấy niềm vui và hạnh phúc trong cuộc đời. Bản dịch “Mảnh Xương Khô Trong Sa Mạc” của linh mục Bùi Ðức Tiến dịch từ cuốn sách “Budhists Find Christ”, “Những Người Phật Tử Nhận Ra Chúa Kitô” của Pat. O'Connor, một tuyển tập gồm các chứng từ của những người đã tìm thấy niềm vui và hạnh phúc do đức tin Công Giáo mang lại.

Một trong những chứng từ có sức thu hút nhất là của Ðức cha Ratna. Ðức cha Ratna đã viết trên 20 cuốn sách bằng tiếng Thái Lan. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Phật Tử tại Bangkok vào năm 1916, được rửa tội năm 1937, lúc 21 tuổi. Lãnh chức linh mục năm 1949. Năm 1969, được ÐGH Phaolô VI chọn làm Giám Mục địa phận Ratchaburi, Thái Lan. Năm 1972, ngài được Hội Ðồng Giám Mục Thái Lan cử làm đại diện tại Thượng Hội Ðồng Giám Mục ở Roma.

Thuở bé ngài được học trường tiểu học của các thày dòng Thánh Gabriel, rồi lên học viện Wan Yan và Hồng Kông của các cha Dòng Tên. Mặc dù ngài chỉ học môn giáo lý như mọi môn học khác với sự thờ ơ và lạnh nhạt, nhưng hạt giống đức tin đã gieo xuống và nảy nở trong tâm hồn, cho đến một ngày, ngài đã tự thuật lại như sau:

“Một người bạn nọ gặp tôi và cho biết có một vài người cho rằng cách sống của tôi thay đổi nhiều sau kỳ cấm phòng. Tôi suy nghĩ về việc này và thật sự tôi cảm thấy có một niềm vui, một tia sáng phát xuất từ tâm tư mà trước đó tôi chưa bao giờ cảm thấy. Tôi cười và cười thật to với một hạnh phúc dường như đầy ắp trong tâm hồn, tôi nhận thấy được rằng có một ân sủng thiêng liêng đang bao phủ tôi, không trách gì một vài người bạn tinh ý đã nhận ra điều này.

Một nguồn ân sủng thiêng liêng đã ào đến làm trôi đi sự lạnh nhạt thờ ơ trong tâm hồn tôi, làm thỏa mãn sự khao khát chân lý và hạnh phúc tự nhiên trong đời sống. Những mầu sắc tươi vui đã xuất hiện trên sự héo úa của linh hồn tôi. Mảnh xương khô trong sa mạc nay đã có dấu hiệu của sự sống. Tất cả những điều này phát khởi và kết tụ trong linh hồn tôi một cách lặng lẽ, âm thầm đến nỗi chính tôi cũng chẳng mảy may hay biết.

Như bị lôi cuốn bởi một sức mạnh ân sủng không thể cưỡng chế nổi, con tàu linh hồn tôi đang chuẩn bị bỏ neo tại một hải cảng thánh thiện: Giáo Hội Công Giáo. Ðêm đã rút lui, nhường không gian cho ánh sáng ban ngày. Sương mù đã tan biến cho con mắt linh hồn tôi chiêm ngưỡng thế giới thiêng liêng. Bàn tay thần linh đã đụng đến tìm tôi và sự tiếp xúc đem đến một nguồn sáng, một lẽ sống cho linh hồn tôi.”
(Trích từ CD VieCatholic 2003).

Ông Phạm Ðan Ngữ đã chia sẻ về ảnh hưởng của “Niềm Tin Trong Ðời Sống Hôn Nhân” như sau: “Với kinh nghiệm 30 năm trong đời sống vợ chồng, tuổi đời nhiều hơn hai lần 30, xin hân hạnh đưa ra một vài kinh nghiệm của mình, của bạn bè quen biết và của các bậc lão thành lâu năm trong ngày tháng hôn nhân. Tất cả chứng từ của những cặp 25 năm, 30 năm, 40 năm hay hơn 50 năm, có chuỗi ngày dài vui buồn bên nhau với đàn con cháu đông đúc. Cùng xác tín rằng nếu là người Công Giáo Việt Nam, thì đời sống vợ chồng hạnh phúc mới chỉ đạt tới kết quả 50%. Vậy phân nửa còn lại kia là ở đâu và tại sao? Xin thưa đó là đức tin Công Giáo, hay nói rõ hơn là đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa. Có niềm tin sâu xa sẽ giúp những đôi lứa, cặp vợ chồng tìm được lối thoát nhẹ nhàng những ràng buộc trong cuộc sống, để cùng sống mãi mãi với nhau và cho nhau, giáo dục con cái và nhất là sống cho người khác.” (VietCatholic News, Thứ Năm 1/4/2004).

Chị Hoa Hồng Vân trên Nguyệt San Dân Chúa Úc Châu đã chia sẻ ảnh hưởng của “Ðức Tin Tôn Giáo” đối với vai trò làm mẹ của chị như sau:

“Tôi là người theo đạo dòng, tức là khi sanh ra 'đã bị' tóm đầu mang đến nhà thờ đè ra, dội nước rửa tội, rồi cha mẹ nuôi vứt xó, đạo Chúa không dạy, dạy toàn đạo thờ tiền, thờ danh giá giả tạo. Vì không có căn bản yêu thương, nên từ nhỏ tôi chỉ thấm sâu nỗi buồn nhiều hơn vui. Ðức tin tôn giáo của tôi bỗng bừng lên và từ từ mỗi ngày thêm vững mạnh, khởi đầu là lúc tôi sanh cháu trai đầu lòng, lần đầu tôi cho con bú, nhìn cái miệng xinh xắn nhỏ bé, lòng yêu con nức nở phát sinh trong tâm hồn tôi. Nhìn con tôi bỗng thấy sự mầu nhiệm của Thiên Chúa, Ðấng Tối Cao của tôi, nếu không có Ngài cho tôi hiện diện trên cõi đời này, làm sao tôi biết được là tôi được Ngài yêu dấu và trao ban thiên chức làm mẹ cho tôi. Rồi từ ngày khởi đầu làm mẹ 6/3/1990 đó, nay tôi đã có tất cả là bốn đứa con, bốn hồng ân Thiên Chúa cho tôi. Ðó là đức tin của tôi, tôi tin những mầu nhiệm Thiên Chúa cho tôi”. (VietCatholic CD 2003).

Quả thật, nhà giảng thuyết nổi danh của Anh Giáo vào thế kỷ 19, Charles Haddon Spurgeon đã nói bằng kinh nghiệm tâm linh của ông rằng: “Một đức tin nhỏ thì đưa linh hồn bạn vào thiên đàng. Một đức tin lớn thì sẽ đưa thiên đàng vào linh hồn bạn.” Phải, với đức tin tôn giáo dù lớn hay nhỏ đều có thể đưa con người đến thiên đàng. Khi chúng ta làm điều thiện, việc lành, tự trong tâm hồn mình cảm nhận được một niềm vui sướng hân hoan. Hãy quan sát những người làm việc thiện nguyện, khuôn mặt họ thật rạng rỡ vui tươi, thấy họ là thấy thiên đàng trước mặt! Hãy quan sát các nữ tu trẻ trung đang phục vụ cho những bệnh nhân ở các trại cùi, những người bị bệnh Sida (Aids), những người già yếu ở các viện dưỡng lão, những người vô gia cư hấp hối bên vệ đường, các em cô nhi tàn tật với một nụ cười lúc nào cũng tươi nở trên môi, thấy họ là thấy thiên đàng ngay trên dương thế!

Ðức tin tôn giáo không những mang lại niềm vui trong tâm hồn con người mà còn giúp mang lại hạnh phúc cho cộng đồng nhân loại nữa. Ðã có những việc thiện mà không ai có thể làm nổi ngoại trừ các nhà truyền giáo, các nữ tu, những người có niềm tin vào Thiên Chúa.

Lịch sử đã chứng minh những gì Kitô giáo góp phần xây dựng và bảo vệ hòa bình, công lý và nhân phẩm của con người. Trong phần chú giải về Dụ Ngôn Men Trong Bột, William Barclay đã nói lên cái thành quả của men Kitô giáo trong việc biến đổi thế giới trần gian này như sau:

1- Kitô giáo đã biến đổi đời sống các cá nhân. Trong 1 Cor. 6:9-10, thánh Phaolô đã liệt kê ra một danh sách những điều ghê tởm của con người tội lỗi, rồi ngài nói: “Trước kia, có vài người trong anh em đã là như thế. Nhưng anh em đã được tẩy rửa, được thánh hóa, được nên công chính...” Sự biến đổi của Kitô giáo bắt đầu từ đời sống cá nhân, vì qua Chúa Kitô, nạn nhân của cám dỗ có thể trở thành người chiến thắng.

2- Kitô giáo đã biến đổi đời sống của phụ nữ. Lời cầu nguyện của một người đàn ông Do Thái vào ban sáng là tạ ơn Thiên Chúa vì đã không tạo dựng nên ông là một người ngoại đạo, một nô lệ hay một người phụ nữ! Trong văn hóa Hy Lạp, người phụ nữ phải sống ẩn dật, làm việc nội trợ... Trong những vùng đất ở phương đông, nhất là một gia đình du mục: người cha được ngồi trên lưng lừa; người mẹ phải đi bộ, và có thể còn phải mang vác một gánh nặng. Lịch sử chứng tỏ rằng Kitô giáo đã biến đổi thân phận và đời sống của phụ nữ.

3- Kitô giáo đã biến đổi đời sống của người yếu đuối và bệnh nhân. Trong cuộc sống chưa văn minh, họ bị coi là một mối phiền muộn. Ở Sparta, một trẻ thơ khi vừa sinh ra, phải nộp để khám xét; nếu khỏe mạnh, nó được phép sống; nếu yếu đưối hay dị dạng, sẽ bị phơi nắng cho đến chết ở bên sườn núi... Kitô giáo là đức tin đầu tiên chú ý vào những sự đau khổ của cuộc sống.

4- Kitô giáo đã biến đổi đời sống cho người già. Giống như người yếu, người già là một sự quấy rầy... Người già, sau thời gian làm việc đã hoàn tất, không còn thích hợp với bất cứ điều gì hơn là bị loại trừ ra trên đống rác của cuộc sống. Kitô giáo là đức tin đầu tiên coi con người như là những ngôi vị chứ không phải là những dụng cụ có khả năng làm việc càng nhiều càng tốt.

5- Kitô giáo biến đổi đời sống cho trẻ thơ. Trong thời Chúa Giêsu những vụ ly dị xảy ra lan tràn. Con cái là mối phiền muộn; và theo thói quen thường xảy ra là cứ để mặc cho trẻ em chết một cách bi thảm. Trong thời xa xưa trẻ em có nhiều dịp để chết trước khi bắt đầu sống. Chỉ một nhóm nhỏ những người Kitô giáo đã làm thay đổi tất cả vấn đề này.

Ảnh hưởng của Kitô giáo đóng góp vào việc xây dựng xã hội tốt đẹp hơn và hạnh phúc hơn, được chứng minh bằng sức mạnh mang tính chất giống như men trong bột của một số nhỏ những người theo Chúa Kitô. Ðiều này giúp ta hiểu tại sao sách Công Vụ Tông Ðồ đã ghi rằng khi Kitô giáo đến Thessalonica, những người Do Thái phải la lên : “Những người đã làm điên đảo thế giới nay đã có mặt ở đây”. (Cv 17: 6).

Ðức tin Kitô giáo thường được ví với ánh sáng để hướng dẫn và soi đường, bởi Chúa Giêsu đã nói: “Ta là ánh sáng thế gian” (Ga 8:12). Người nào đi về phía ánh sáng thì không thể có bóng tối nào ở phía trước mình được, nhưng nếu người đó quay lưng lại với ánh sáng sẽ phải bước đi ngay trong bóng tối của chính mình. Ánh sáng đức tin mang lại niềm vui, vì chúng ta học biết được chính bản thân mình và những giá trị của thế giới. Trong ánh sáng đức tin chúng ta nhận biết được sự thật, ý nghĩa của cuộc sống hiện sinh trên trần thế và sự cao cả của đời sống siêu nhiên được ban cho chúng ta bởi tình yêu Thiên Chúa.

Con người ước ao đi tìm sự thật. Ðó là khát vọng về Ðấng Tuyệt Ðối. Chỉ có đức tin mới thỏa đáng được cái khát vọng vô biên này, mang lại niềm hy vọng, tạo nên cảm giác hài lòng và vui tươi cho con người. Chính thánh Augustinô đã nói: “Hạnh phúc không gì khác hơn là niềm vui của sự thật”.

Trái lại, nếu không có ánh sáng đức tin thì vũ trụ, cuộc sống nhân sinh và tất cả những gì có liên quan tới con người chỉ là một trò hề diễu cợt, một khối hỗn mang vô nghĩa. Cuộc sống con người sẽ trở nên tuyệt vọng và buồn bã do sự đe dọa của nỗi cô đơn và trống rỗng. Nếu không có ánh sáng đức tin, chúng ta sẽ giống như anh mù Báctimê ở Giêrikhô (Mc 10:46), một mình ngồi yên bên vệ đường trong cơn sợ hãi vì không biết những bước chân sắp tới sẽ rơi xuống đâu.

Chúng ta đang đi tìm kiếm hạnh phúc. Chỉ có một cách duy nhất là con đường đức tin. Giống như chim sơn ca líu lo dưới ánh hừng đông, chúng ta cũng vui mừng ca hát dưới ánh sáng của niềm tin tôn giáo vào Thiên Chúa. Càng tin tưởng mạnh mẽ, chúng ta càng trông thấy tỏ tường. Càng nhìn thấy rõ, chúng ta càng say mê yêu mến. Và càng yêu nhiều, chúng ta càng cảm thấy hạnh phúc, vì chỉ một mình Thiên Chúa mới ban tặng được cho chúng ta mà thôi. Ðức Maria đã được gọi là “có phúc”“đã tin rằng Thiên Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói” (Lc 1:45). Ðây là bài học cho tất cả chúng ta, những người đang đi tìm kiếm hạnh phúc và niềm vui.

Lm Giuse Nguyễn Văn Thái.