Suy niệm: Chúa Nhật VI sau Phục Sinh

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Chúng ta chẳng lạ gì khi Phụng vụ Mùa Phục sinh tạo nhiều cơ hội cho chúng ta nhìn xem, chiêm ngắm và suy tư về Cộng đoàn Kitô hữu thế kỷ đầu. Các bài Thánh Kinh Chúa nhật 06 Phục Sinh hôm nay cung cấp đủ chất liệu cho chúng ta nghiên cứu, chiêm niệm và học hỏi cùng cộng đoàn ấy, để chúng ta làm sống lại các đặc điểm của Cộng đoàn ấy vào cộng đoàn giáo xứ (dòng tu) và giáo phận của chúng ta ngày nay. Nhất là trong khung cảnh Năm Thánh Truyền Giáo 2004 này là dịp Giáo hội Việt Nam mừng 470 năm Tin Mừng Cứu độ được rao giảng và đón nhận trên quê hương này, thì việc tìm hiểu và làm sống lại nếp sống của Cộng đoàn Kitô hữu thế kỷ đầu là việc làm vô cùng ý nghĩa và cần thiết.

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA

2.1 Bài đọc 1: Cv 15, 1-2.22-29: (a) Cv 14,21b-27: là tường thuật của Luca về cách giải quyết bất đồng quan điểm hay xung đột trong cộng đoàn Kitô hữu thời sơ khai: Vấn đề đặt ra là những anh em dân ngoại khi gia nhập Kitô giáo có bị bắt buộc phải chịu phép cắt bì không? (là điều bắt buộc đối với mọi người nam Do Thái). Có hai quan điểm khác nhau và đối nghịch nhau về vấn đề này: (1o) Người dân ngoại trở lại Kitô giáo phải chịu phép cắt bì; (2o) Người dân ngoại gia nhập Kitô giáo không phải chịu phép cắt bì theo luật Môsê. Ý kiến thứ nhất là của một số người từ Giuđê đến Antiôkhia là nơi Phaolô và Barnaba đang giảng đạo. Ý kiến thứ hai là của hai vị này. Để giải quyết vấn đề gay go có nguy cơ gây phân hóa và làm tan rã cộng đoàn, Hội thánh Antiôkhia quyết định cử Phaolô, Barnaba và một ít người khác lên Giêrusalem để gặp các Tông đồ và kỳ mục, để bàn về vấn đề tranh luận này. Kết quả là sau khi cầu nguyện và bàn bạc, các Tông đồ và các kỳ mục, cùng với toàn thể Hội thánh Giêrusalem quyết định chọn Giuđa và Xila là những người có uy tín trong cộng đoàn, để phái hai ông đến Antiôkhia cùng với Phaolô, Barnaba cùng với bức thư của Hội Thánh Giêrusalem gửi Hội Thánh Antiôkhia. Nội dung bức thư được tóm gọn trong câu:“Thánh Thần và chúng tôi quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết này…” Thế có nghĩa là anh em lương dân không bị bắt buộc phải chịu cắt bì khi gia nhập Đạo mới là Kitô giáo. Bao tâm hồn được giải tỏa khỏi nỗi lo âu và khó chịu, vì đối với người Do Thái thì việc cắt bì là một chuyện bình thường, vì đã được dân tộc này thực thi từ ngàn năm, nhưng đối với những người gốc lương dân thì việc ấy gây khó chịu không nhỏ.

(b) Khách quan mà nói: Hội thánh Công giáo thế kỷ đầu đã biết giải quyết vấn đề tranh chấp, bất đồng hay xung đột quan điểm về giáo lý và phong hóa Kitô giáo một cách hết sức tài tình: vừa có tình vừa có lý, vừa tôn trọng truyền thống Do Thái vừa tôn trọng sự khác biệt giữa các dân tộc các nền văn hóa địa phương của các tân tòng mới gia nhập Kitô giáo. Cách giải quyết của Hội thánh lúc ấy lại phân biệt điều nào là chính, điều nào là phụ, tạo thuận lợi cho những người mới làm quen và gia nhập Đạo. Sở dĩ Hội thánh sơ khai giải quyết được vấn đề gay cấn trên một cách êm đẹp là vì ai nấy đều tin tưởng vào Chúa Thánh Thần và chạy đến với Người. Ngoài ra các Tông đồ và kỳ mục là những người có uy tín hết sức lớn trong cộng đoàn nên được mọi tín hữu mến yêu, tin tưởng và vâng nghe.

2.2 Bài đọc 2: Kh 21,10-14.22-23: Thánh Gioan kể lại thị kiến về Thành thánh Giêrusalem huy hoàng rực rỡ và nguy nga tráng lệ. Không hẳn là Thành thánh Giêrusalem theo nghĩa đen, mà là Vương quốc rộng lớn của Thiên Chúa. Đây là nơi dung nạp và đón nhận hết mọi người, hết mọi dân. Các Tông đồ là rường cột của Vương quốc. Còn trung tâm của Vương quốc là chính Con Chiên, tức Chúa Giêsu Kitô: Người vừa là đền thờ, vừa là ánh sáng chiếu tỏa toàn Vương quốc.

2.3 Bài Tin Mừng: Ga 14,23-29: Nội dung đoạn Tin Mừng này của Gioan gồm ba ý chính như sau:

(1o) Các môn đệ mà yêu mến Thầy Giêsu thì phải thể hiện lòng yêu mến ấy bằng việc tuân giữ lời hay giáo huấn của Thầy cũng chính là lời hay giáo huấn của Chúa Cha, Đấng đã cử Thầy đến. Mối tương quan tốt đẹp ấy không chỉ dừng lại giữa Thầy và trò, mà còn mở rộng và nâng cao lên tận Chúa Cha: “Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy sẽ đến và ở lại trong người ấy”. Vì thế cộng đoàn các môn đệ là cộng đoàn hiệp thông với Thiên Chúa và chan chứa Tình Yêu của Thiên Chúa.

(2o) Chẳng những Thầy đã hết sức ân cần dạy dỗ và chỉ bảo mọi điều cho các môn đệ mà Thầy còn xin Chúa Cha gửi Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ đến với các môn đệ để Người dạy họ mọi điều và làm cho họ nhớ lại những điều Thầy Giêsu đã nói đã dạy trước mà họ chưa đủ sức mà hiểu, mà đón nhận.

(3o) Đức Giêsu ban bình an là quà tặng riêng của Người cho các môn đệ để họ không còn phải sợ hãi bất cứ một điều gì mà vững tin và phó thác vào Tình yêu và sự trợ giúp đầy yêu thương của Chúa Giêsu Phục Sinh và của Chúa Thánh Thần.

III. ĐÓN NHẬN & SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA

3.1 Cộng đoàn Hội thánh thế kỷ đầu: Cả ba bài Thánh Kinh đều gợi ý cho chúng ta suy niệm về Cộng đoàn tín hữu của Chúa Giêsu Phục Sinh ở thế kỷ đầu. Cộng đoàn ấy xuất phát từ biến cố Phục Sinh và Ngũ Tuần. Cộng đoàn ấy có sứ mạng làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh. Ai nấy chúng ta đều biết rằng không phải người đương thời nào cũng tin theo Chúa Giêsu khi Người còn sống. Cũng không phải người môn đệ đương thời nào cũng được thấy Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra. Người có hiện ra với nhiều người thật, nhưng không phải là với tất cả mọi người. Vậy làm sao để cho những người đương thời, những người ở xa Giêru-salem, những người thuộc các thế hệ sau có thể tin rằng Đức Giêsu đã phục sinh. Cộng đoàn Hội thánh thời sơ khai có trách nhiệm nặng nề ấy. Cộng đoàn ấy đã rao giảng bằng lời, nhưng nhất là đã chứng minh bằng việc làm và bằng đời sống. Nếu người ta không nhìn thấy Chúa Kitô Phục Sinh, nếu người ta chưa tin nhận Người là Chúa, thì người ta phải thắc mắc tại sao những người Kitô hữu kia lại có một cách sống “lạ đời” như thế! Lạ đời vì bình thường thi người ta không sống như thế, vì ngược với xu hướng và ý thích tự nhiên của con người. Nổi bất nhất trong các đặc điểm của cộng đoàn tín hữu đầu tiên là sự yêu thương, giúp đỡ, san sẻ cho nhau giữa những người cùng đạo, cùng tin Chúa Giêsu đã Phục Sinh. Ba bài Thánh Kinh hôm nay phác họa Cộng đoàn Kitô hữu ở thế kỷ đầu với những nét tiêu biểu như sau:

* Đó là Cộng đoàn của Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần yêu thương, chăm sóc và bảo vệ các môn đệ của Chúa Giêsu. Tình yêu hiệp thông gắn kết mọi thành viên của cộng đoàn nên một gia đình. Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ nên Người giáo huấn các môn đệ để giúp họ hiểu sâu và gắn bó với Thầy Giêsu. Thánh Thần là sức mạnh và ánh sáng soi đường cho các môn đệ biết cách phải sống và biết cách phải cư xử với nhau như thế nào cho xứng danh là cộng đoàn môn đệ Đấng Phục Sinh.

* Đó còn là Cộng đoàn vừa đa dạng vừa hiệp nhất: vì Cộng đoàn được tạo nên bởi nhiều người nên trong cộng đoàn có suy nghĩ, quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược mâu thuẫn với nhau là chuyện bình thường, ngay cả trong những vần đề hệ trọng liên quan tới đức tin và phong hóa. Nhưng cộng đoàn của Chúa Kitô Phục Sinh có Chúa Thánh Thần ở cùng, nên luôn biết tìm ra phương cách giải quyết mọi khác biệt và xung đột để bảo toàn sự hiệp nhất. Nguyên lý của hiệp nhất của Cộng đoàn là mọi người suy nghĩ, trao đổi, bàn bạc với nhau và với Chúa Thánh Thần để tìm ra biện pháp tốt nhất, yêu thương và đoàn kết nhất.

3.2 Cộng đoàn Hội thánh ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XXI: Nhìn vào đời sống các giáo xứ và các giáo phận ở Việt Nam, chúng ta thấy có khá nhiều vấn đề phải suy nghĩ: cách sống đạo ù lì và lạc hậu của đại đa số giáo dân, lòng ham muốn chức quyền, danh vọng, giầu sang của một ít người, thậm chí cả ở hàng giáo sĩ, việc giáo dục đức tin yếu kém và việc truyền giáo không hiệu quả v.v.. Nhưng có lẽ vấn đề quan trọng nhất là sự đoàn kết, tình hiệp thông, tình huynh đệ và đời sống yêu thương san sẻ giữa các thành viên của cùng một cộng đoàn chưa được phát huy đúng mức. Chính vì thế mà nhìn vào các cộng đoàn ấy, người ta không thấy có gì hấp dẫn, thu hút, khiến phải bận tâm suy nghĩ và đặt vấn đề. Thậm chí, có một số trường hợp, càng nhìn sâu vào các cộng đoàn ấy, hay cành biết rõ nội bộ của các cộng đoàn ấy, người ta càng thấy phát chán và thất vọng, vì các cộng đoàn ấy mang nặng dấu ấn của những con người trần tục với đủ thứ sân si tầm thường và thấp hèn.

3.3 Quyết tâm: Góp sức vào việc xây dựng cộng đoàn của mình theo các đặc điểm (tiêu chuẩn) của Cộng đoàn Hội thánh thế kỷ đầu.

IV. CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã căn dặn các môn đệ rằng: “Người ta cứ dấu này mà nhận ra chúng con là môn đệ của Thầy, là chúng con yêu thương nhau” Chúng con phải thể hiện tình huynh đệ với nhau một cách cụ thể: bằng sự đoàn kết, gắn bó, hiệp thông, san sẻ, giúp đỡ lẫn nhau, bổ sung cho nhau và quí trọng nhau chân tình. Chính nhờ chứng tá này của Cộng đoàn Hội thánh đầu tiên mà có rất nhiều người xin gia nhập Đạo. Xin Chúa cho các cộng đoàn Giáo hội ngày nay, nhất là những người có trọng trách lãnh đạo, biết làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã Phục Sinh và hiện vẫn đang sống và hoạt động trong thời đại ngày nay qua Thánh Thần của Người. Amen. Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.