CHÚA NHẬT 5 PHỤC SINH. C

(Ga 13,31-35)

Thưa quý vị,

Tuần này tôi chuyển sang suy niệm hai bài đọc đầu của thánh lễ chúa nhật. Bởi lẽ đã lâu tôi xao nhãng chúng, một việc làm đáng trách, bởi chúng cũng là những nguồn phong phú cho việc rao giảng, nhất là vào mùa Phục Sinh này. Đa phần các nhà giảng thuyết đi thẳng vào bài Phúc Âm, bỏ qua các bài đọc đầu. Chính tôi cũng hay làm việc đó, như vậy là khuyết điểm, bài đọc nào cũng đáng chúng ta để tâm suy niệm, bởi vì đều là Lời Chúa cả. Bài đọc nào cũng cống hiến những đường lối lành thánh để hoàn thiện con người thiêng liêng. Tập trung vào một số bài, bỏ qua số khác e rằng thiếu sót nặng. Lần này tôi cố gắng suy niệm cả hai, nhưng chưa biết rõ bài nào sẽ thu hút tâm trí tôi nhiều hơn. Xin cứ để Chúa Thánh Linh soi sáng.

Từ Chúa Nhật phục sinh tới nay, bài đọc 1 vẫn trích sách Tông Đồ Công Vụ, việc này còn được kéo dài cho đến hết lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Vào chính ngày lễ Ngũ Tuần phụng vụ sẽ đọc đoạn mở đầu của cuốn sách và chúng ta sẽ được nghe kể về biến cố Chúa Thánh Linh ngự xuống trên các tông đồ trong nhà Tiệc Ly. Bài đọc của các chúa nhật hiện thời là về hiệu quả của biến cố ấy. Phải chăng có sự đảo lộn gây bối rối? Thực ra không đúng như thế. Mục tiêu của sự đảo lộn này là để các tín hữu ngày nay nóng lòng chờ đợi Chúa Thánh Linh, bởi lẽ họ đã được nghe kể về hiệu quả của Ngài trên Giáo Hội tiên khởi. Sau khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, các Tông Đồ bung ra rao giảng danh Chúa Giêsu, họ làm nhiều dấu lạ, thu hút đông đảo tín hữu. Hội Thánh lớn mạnh trong khắp miền Tiểu Á, lan rộng sang Phi Châu, La Mã, Ấn Độ. Ngày nay, Hội Thánh cũng khao khát kết quả đó, nên đã dọn lòng giáo dân bằng những bản văn Công Vụ, ngõ hầu khích lệ suy tư và hành động. Nói cách khác chúng ta sửa soạn đón nhận Chúa Thánh Thần bằng việc nhớ lại các ân huệ của Ngài trong thời buổi sơ khai của Hội Thánh. Điều Ngài đã thực hiện thuở xưa thì nay Ngài cũng vẫn làm. Chúng ta có nhạy bén với ơn Ngài hay không? Vậy thì các bài đọc Công Vụ trước lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống là vì lợi ích đức tin, cá nhân cũng như cộng đoàn.

Bài đọc hôm nay kể lại việc tông đồ Phaolô và Barnaba trở lại xứ Lystra, Icôniô và Antiôkhia. Hành trình giống như một cuộc du lịch, tương tự chúng ta nói đi Nha Trang, Đà Lạt, Vũng Tàu… Nhưng các độc giả lúc ấy không nghĩ như vậy. Họ nhớ rằng ba thành phố ấy đã từng tẩy chay hai nhà truyền giáo, không chấp nhận giáo lý của các ngài. Vậy việc trở lại thật khó khăn và nguy hiểm. Câu chuyện như thế này: Đầu tiên Phaolô và Barnaba rao giảng về danh Chúa Giêsu ở Antiôkhia, Lystra và Icôniô. Các ngài rất thành công, thuyết phục được nhiều linh hồn chấp nhận Chúa Giêsu. Nhưng rồi các lãnh đạo tôn giáo, các thầy bùa ngải bị mất quyền lợi, các kẻ vô đạo thách thức các Tông Đồ. Họ xúi giục dân chúng chống lại các ngài, đuổi các ngài ra khỏi Antiôkhia và dự tính giết chết tại Icôniô, ở Lystra thánh Phaolô chữa lành cho một người què, dân thành hồ hởi và bị khích động cao độ. Nhưng các lãnh đạo hội đường từ Antiôkhia và Icôniô kéo xuống xúi giục dân chúng ném đá ông. Tưởng ông đã chết, họ bỏ về (Cv 14,19). Thiên Chúa đã cứu chữa Phaolô và cho ông hồi phục.

Tưởng như thế là đã đủ cho hai truyền giáo rồi. Các ngài nên trở về nghề nghiệp cũ như Phêrô và các tông đồ hai tuần lễ trước đây (tuần 3). Họ quên hết chuyện cũ và lại làm nghề đánh cá. Nhưng không, sách Công Vụ kể tiếp: “Ông Phaolô và ông Barnaba trở lại Lystra, Icôniô và Antiôkhia”. Thì ra họ đã đổi khác từ khi nhận lãnh ơn Chúa Thánh Linh. Hai ông nói: “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào nước Thiên Chúa”. Nhờ Chúa Thánh Thần, các vị rao giảng trong Hội Thánh tiên khởi, đầy nghị lực, can đảm, quyết tâm và phấn khởi. Không những họ, dường như toàn thể Giáo Hội sơ khai đều có tinh thần như vậy. Cho nên đây là một gương sáng truyền giáo cho chúng ta hôm nay. Chúng ta phải tỏ rõ Chúa Thánh Linh đang hoạt động giữa gia đình, làng xóm, xã hội và thế giới. Không phải bằng những sinh hoạt ồn ào, nhưng bằng cầu nguyện sốt sắng và tâm hồn bình an. Chúa Thánh Linh sẽ soi sáng những chọn lựa hoạt động của chúng ta. Bởi lẽ sự ồn ào có thể chỉ là sự khoả lấp của một linh hồn bất an hay trống rỗng. Chúng ta cầu xin cho Giáo Hội địa phương luôn được tinh thần mới mẻ của Chúa Thánh Thần trong các sinh hoạt của mình, hầu khai mở những con đường thích hợp cho nước Thiên Chúa.

Xin Thánh Linh Chúa ngự đến, đổi mới Hội Thánh, đổi mới địa cầu, chữa lành các vết thương gây nên do hàng giáo sĩ và tu sĩ bất xứng. Xin ngự đến và ban ơn gấp đôi cho những kẻ rao giảng Lời Chúa, ngõ hầu họ có khả năng nói lên Lời ban sự sống và kiện cường những tấm lòng còn nghi nan. Ban cho chúng con các nhà lãnh đạo khôn ngoan và can đảm như các tông đồ thuở xưa. Họ không sợ hãi trở về nơi nguy hiểm và đầy đau thương để gieo vãi sự thật cứu độ. Họ sẽ khích lệ chúng con trong sứ vụ Chúa và Hội Thánh đã trao. Cũng như các tín hữu tiên khởi, chúng con đầy yếu đuối, mỏng giòn, đối mặt với muôn vàn hiểm nguy từ bên trong và từ bên ngoài. Xin khơi dậy ơn thanh tẩy mà chúng con vừa tuyên hứa lại trong đêm phục sinh, để chúng con nhiệt thành phụng thờ Chúa, lắng nghe theo tiếng Chúa bằng đời sống: “Lúc thuận tiện cũng như khi không thuận tiện”.

Các bài đọc Công Vụ luôn nêu lên sự kiện: Chúng ta không phải là những tín đồ đơn độc mà luôn có bạn đồng hành, tức các tín hữu nhiệt thành sốt sắng hơn. Cho nên không được phép thất vọng hay tự kiêu. Thất vọng vì cô đơn hay tự kiêu, phong mình là giáo dân hạng nhất. Thánh Phaolô và Barnaba đã cùng nhau hoạt động vì Phúc Âm Chúa. Họ thành lập các giáo đoàn và trở lại viếng thăm, khi có nhu cầu, bất chấp khó khăn và hiểm nguy. Khi trở lại các cứ điểm gốc như Antiôkhia, Giêrusalem, họ đã tường trình cho Hội Thánh địa phương những hoạt động của mình ở các nơi khác, chia sẻ với giáo dân những gian nan khốn khó, cũng như vui mừng mà các ông đã gặp trên con đường truyền giáo. Hết thảy mọi người đều được thông tin và an ủi. Do đó chúng ta hôm nay cũng nên bắt chước: Chúng ta cảm tạ Thiên Chúa về cộng đồng giáo xứ, về anh em, bạn bè quen thuộc thường gặp, về những khuôn mặt lạ di dân, về những gia đình mới nhập đạo, tóm lại, về mọi thành phần trong giáo xứ. Chúng ta cũng kể cho nhau nghe về công ăn việc làm, về những kinh nghiệm tông đồ. Nhiều người là chức việc của cộng đồng, kẻ khác thì không, nhưng vẫn quan tâm công việc chung. Khi có khả năng, chúng ta giúp đỡ người kém may mắn hơn, nhưng nhiều lúc chúng ta lãnh nhận sự giúp đỡ của giáo xứ. Chúng ta được an ủi khi gặp buồn sầu, nâng đỡ khi khó nghèo, được khích lệ do gương sáng của đồng đạo, cầu nguyện và xức dầu khi đau ốm, hoan hỷ và vui mừng khi rửa tội hoặc hôn phối cho con cái. Nghĩa là chúng ta luôn có tinh thần liên đới trong Đức Kitô, biết rằng nhiều linh hồn khác cùng đi con đường tiến về Thiên Chúa và phục vụ thế giới. Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta nhận được chính Chúa Giêsu hằng sống. Thần Khí của Ngài tiếp tục khai sinh Hội Thánh mới trên toàn cõi địa cầu, mặc dù đôi khi rất khó khăn và nhọc nhằn. Giáo dân Việt Nam cũng là thành phần của Hội Thánh, cho nên cũng lãnh nhận số phận chung. Kiên trì sẽ vượt thắng tất cả, mọi khó khăn rồi sẽ đến ngày tan rã như kết thúc sách Công Vụ tiên báo.

Bài đọc 2 của các chúa nhật mùa này trích từ sách Khải Huyền của thánh Gioan. Đoạn trích hôm nay thường được phụng vụ nhắc lại luôn. Nó mô tả trật tự cũ của thế giới sẽ qua đi. Sẽ có trời mới đất mới. Nghĩa là niềm hy vọng phục sinh của các tín hữu sẽ đến ngày thành toàn viên mãn. Thời đại mới không còn xa lắm. Xin nhớ, cuốn sách được viết ra để an ủi Hội Thánh non trẻ đang bị bách hại. Và như vậy sự dữ sẽ bị đập tan, sự lành sẽ toàn thắng, đau khổ sẽ chấm dứt, tội lỗi không còn nữa, thần chết sẽ bị loại trừ. Chẳng có Tin Mừng nào đẹp hơn hy vọng của người tín hữu, hy vọng ấy sẽ được chính Thiên Chúa làm cho vuông tròn: “Đấng trên ngai phán: này đây Ta đổi mới mọi sự”. Thiên Chúa là nguồn mạch mọi thành công và toàn thắng, Ngài làm cho ước vọng lành thánh của các tín hữu trở nên hiện thực: Thành thánh Giêrusalem mới từ nơi Thiên Chúa mà đến, tức từ tư tưởng Thiên Chúa. Đó là mẹ Hội Thánh và Chiên Con là đèn soi của thành. Nói cách khác Chúa Giêsu chính là vinh quang và thánh thiện của Giáo Hội. Khi cử hành thánh lễ, sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Thánh Thể là việc thể hiện của lời Kinh Thánh này. Nói tóm lại Chúa Giêsu phục sinh là trời mới đất mới của mọi tín hữu.

Hồi còn nhỏ, mỗi khi đến mùa bóng chày (baseball) tôi lại háo hức về tính mới mẻ của nó. Nguyên nhìn trái banh mới, mùi da mới phát xuất từ chiếc hộp đựng banh, là tôi cảm thấy chiến thắng. Trường học đóng cửa, học sinh nghỉ hè. Ao ước của tôi là trở thành cầu thủ lừng danh. Tôi chẳng bao giờ đạt tới mục tiêu đó, nhưng mỗi mùa banh tới thì lòng tôi lại đầy hy vọng. Đó là điều bài đọc 2 hôm nay khơi dậy cho mỗi tín hữu. Tuy nhiên hy vọng của chúng ta không phải là giấc mơ này nhưng là hiện thực. Chúa Giêsu chỗi dậy từ cõi chết, chúng ta đặt tin tưởng vào Ngài và Thiên Chúa sẽ cho chúng ta hưởng trời mới đất mới. Một ngày nào đó thế gian sẽ được chứng kiến: “Trời cũ đất cũ sẽ biến mất và biển không còn nữa, nhường chỗ cho Giêrusalem mới có Thiên Chúa ngự trị. Không còn sự chết, không còn khóc than, tang tóc vì những điều cũ đã qua đi”.

Vài lời về bài Tin Mừng. Khi Giuđa rời phòng Tiệc Ly, Chúa Giêsu tự do tín thác tâm sự và nỗi lòng mình cho các Tông Đồ. Trước đó, vì có mặt tên phản bội Ngài không làm được. Chúa nói đến ba điều: 1. Vinh quang của Ngài trong cuộc khổ nạn. 2. Đau buồn vì các cuộc chia ly. 3. Điều răn mới. Ngài dùng cụm từ “con người” là dụng đến cốt yếu của mầu nhiệm bản thân Ngài. Ngài được vinh quang và Chúa Cha được hiển vinh, không phải bằng binh hùng tướng mạnh, mà qua sự vâng lời hy sinh, chịu khổ nạn và chết trên thập giá, để mang lại ơn cứu độ cho nhân loại. Vinh quang này khởi sự khi Giuđa ra khỏi phòng và đi vào đêm tối. Tư tưởng của Chúa Giêsu và suy niệm của thánh Gioan đi thẳng đến nội dung với vài lời ngắn gọn. Xin nhớ câu chuyện xảy ra trước lễ Vượt Qua, cho nên vinh quang Thiên Chúa đã được thiết lập ngay chính nơi bản thân Chúa Giêsu. Điểm thứ hai: Đau buồn vì chia ly. Ở đây có hai cuộc xa cách: Cái chết và sự thăng thiên của Ngài. Ngài uý lạo các môn đệ, gọi các ông bằng tên thân thương: “Hỡi những người con bé nhỏ của Thầy”. Ngài an ủi và hứa sẽ không để họ mồ côi, Ngài sẽ hiện diện bằng thể thức khác, thể thức thiêng liêng nhưng cũng rất thực như khi Ngài còn ở với họ. Họ sẽ được tự do chiêm ngưỡng vinh quang của Ngài cùng với Chúa Cha. Điểm thứ ba có phần khó hiểu hơn. Làm sao Chúa có thể truyền khiến một ý tưởng, một hành động nội tại như yêu, ghét, sợ sệt, mừng vui,…? Người ta chỉ có thể ra lệnh về các việc bề ngoài như quét nhà, nấu nước hay đi đây đi đó mà thôi. Đúng ra, Chúa nhắn nhủ các môn đệ nhìn vào bản tính chân thật của mình mà hành động. Chúng ta uống khi khát và ăn khi đói. Lúc Ngài còn ở với họ thì sự hiện diện của Ngài khiến họ yêu thương nhau. Bây giờ Ngài ra đi, họ vẫn cần đoàn kết để tưởng nhớ đến Ngài. Tình bác ái ở đây là dấu chỉ chân chính họ yêu mến Ngài. Nó là sự nối dài tình yêu của họ đối với Ngài. Họ sẽ trung thành khi biết yêu thương nhau. Nếu muốn kiếm tìm Ngài thì chính trong tha nhân, họ sẽ thấy Ngài cụ thể và sống động. Đây là điều mới mẻ trong lệnh truyền của Chúa Giêsu. Mới ở động lực yêu thương (tình yêu Chúa Kitô) và mới trong nguyên lý (tình yêu Thiên Chúa đổ vào lòng tín hữu do Chúa Thánh Thần). Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn cảm nghiệm tình yêu ấy. Thế là đủ cho chúng con rồi. Amen. Halleluia.