NỘI TƯỚNG

TRONG GIA ÐẠO VIỆT


(Chương 5, từ tác phẩm Ðường Nở Hoa Lê Thị Thành của Lm. Trần Cao Tường, Thời Điểm xuất bản, như một đóng góp vào nỗ lực hình thành Đường Tu Đức Việt. Mong được đón nhận ý kiến của những ai đang ưu tư cho một con đường mang bản sắc Việt.)


Nội tướng là người chỉ huy điều động mọi việc trong nhà, sao cho êm ấm tình thương, trông cho chân cứng đá mềm, trời yên bể lặng mới yên tấm lòng. Ðây lại là cả một “nghệ thuật”, một di truyền có sẵn trong máu người đàn bà Việt, lo cho chồng con từng miếng cơm ngon, từng bát canh ngọt. Hạnh phúc phải được xây từ bên trong.

Ở bên Tây bên Mỹ mà muốn tìm nhà người Việt thì cứ việc nhìn xem phía sân nhà nào có trồng húng, tía tô, kinh giới, ngò gai, diếp cá, mồng tơi, rau đay... là không thể trật được. Nấu ăn phải có đủ hương vị, thịt nào gia vị ấy có sẵn trong vườn. Trồng chanh để có lá ăn thịt gà mới đúng điệu, chứ hơi đâu mà đi trồng cỏ, rồi còn phải mất giờ cắt xén! Bà mẹ vừa trồng hành trồng riềng vừa hát ca dao cho con dễ nhớ:

Con gà cục tác lá chanh

Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi

Con chó khóc đứng khóc ngồi

Mẹ ơi mẹ hỡi mua tôi đồng riềng.


Làm món ăn, nấu nướng, đúng là một nghệ thuật sống nữa. Con gái lớn là mẹ dạy biết cách nấu ăn, biết cách pha chế chua cay mặn ngọt là những buồn vui đen trắng cuộc đời thành những món ăn ngon được, lại đượm tình nghĩa nữa. Con cái nếm vào vị đậm đà này là cảm được con tim của mẹ, nhớ thương mẹ suốt đời cũng có thể một phần vì vậy. Ðồ ăn ở tiệm dù có ngon mấy cũng không mang được chất mầu nhiệm này.

Gỏi cá của mình thì bảo đảm nhậu đã nhất thế giới, hơn cái món sushi của Nhật xa. Phải có nhiều thứ lá để mà “kiệu lá,” nên các bà mẹ tính sẵn những thứ phụ tùng cần thiết: trồng cảnh bằng lá mơ, thứ lá ăn vào là biết mơ... mộng ngay, làm cho cá hết mùi tanh, tự nhiên thấy thơm hẳn ra, tiêu diệt mọi thứ vi khuẩn. Bên này không có sung thì trồng cây lá bơ ăn đỡ vậy, cũng “bắt” lắm. Rồi thì trong vườn không thiếu một thứ rau thơm nào. Chồng con hả hê ra mặt.

NƯỚC CHẤM GỎI LÊ THỊ THÀNH

Nhà xứ Lê Thị Thành ở New Orleans “chuyên trị” một loại nước chấm gỏi nổi tiếng, ai ăn được một lần là quên mọi thứ nước chấm khác. Vì cách pha chế tài tình biến thành khoái khẩu như thế mà được đặt tên là Nước Chấm Gỏi Lê Thị Thành, dung hóa được những chanh chua, mắm mặn, đường ngọt, riềng ớt cay. Ấy cũng là để ca ngợi một người mẹ, biết “điều quân” biến chế mọi mùi vị cuộc đời.

Nguyên tắc nhớ: 2 chanh, 1 mắm, 5 đường.

THÍ DỤ THỰC HÀNH CÁCH PHA CHẾ NƯỚC CHẤM

2 cúp nước chanh vắt.

1 cúp mắm tôm.

2 cúp rưỡi đường, nấu nước sôi pha thành 5 cúp.

1/2 cúp riềng xay (riềng tươi càng tốt).

1/2 cúp rượu lễ.

1/2 cúp mè (vừng).

Thêm ớt nếu thích.


CÁCH SỬA SOẠN

1. Trộn mắm và chanh, quấy khoảng 1 giờ, mắm thơm dần ra. Có thể dùng máy đánh trứng mà đánh cho nhàn và nhuyễn hơn. Nên để ngoài trời hay dưới máy hút cho khỏi hôi nhà.

2. Nấu nước sôi, pha đường, để nguội.

3. Rang mè cho vàng, để nguội.

4. Riềng xay hay giã. Riềng tươi thì ngon nhất. Có thể dùng riềng nhiều hơn nếu thích.

CÁCH PHA CHẾ

Sau khi đã quấy mắm xong, lấy mắm pha với nước đường, quấy cho đều. Cho riềng, rượu lễ, ớt (tùy thích ăn ớt hay không), quấy đều. Nếm thử, nếu thấy nhạt thì thêm nước mắm vào, nếm cho vừa. Ðây là lúc khá quan trọng.

Khi ăn, đổ mắm ra tô, rắc mè lên cho thơm và đẹp.

Mắm dùng để ăn gỏi cá, thịt nướng, bún. Tuyệt lắm, khỏi chê vào đâu được.

NGÀY NAY LÊ THỊ

Ðã có thời nhiều người thích hát cái bài “Ngày Xưa Hoàng Thị”, thật thơ mộng, thật dễ thương, kể câu chuyện tình “lá me bay” đi trồng “cây si” với một cô học trò tên là Ngọ:

Em tan trường về

Ðường mưa nho nhỏ...


Bài ca hôm nay có thể mang tựa đề là “Ngày Nay Lê Thị” về Lê Thị Thành. Không phải chỉ một số người hay người Việt hát, mà là cả Hội Thánh Công Giáo hoàn vũ hát, cả thế giới đều hát, hát dài dài, để ca tụng, tôn vinh, noi gương và cầu khấn với vị thánh nữ đầu tiên của Việt Nam.

Thực vậy, đi tìm một người đàn bà kiểu mẫu lý tưởng có thể mang lại hạnh phúc cho gia đình vẫn là một mơ ước, đặc biệt trong những rối loạn ngày nay. Thì đây, Hội Thánh Công giáo giới thiệu một vị thánh nữ đáp ứng được đúng nhu cầu thời đại là cống hiến một phương cách tạo dựng tổ ấm gia đình, biến chế mọi buồn vui cuộc sống thành yêu thương hạnh phúc. Không phải như một lý thuyết, mà là một hiện thân nơi một người đàn bà Việt Nam đã từng là một người vợ nội tướng đảm đang, một người mẹ quán xuyến, khác với cảm nghĩ của nhiều trào lưu đang hủy hoại gia đình hiện nay.

THỊ LÀ NHÀ

Tên đệm của người nữ Việt Nam thường là Thị, như Hoàng Thị Ngọ, Triệu Thị Trinh, Lê Thị Thành, Phan Thị Hoa... Từ này có gốc có ngọn lắm đấy chứ chẳng thường đâu. Theo từ điển của Huỳnh Tịnh Của thì Thị có nghĩa là nhà, dòng tộc, dòng họ. Như Nguyễn Thị, Lê Thị, có nghĩa là dòng tộc nhà Nguyễn, nhà Lê. Hồng Bàng Thị là dòng họ Hồng Bàng. Cụ Trần Văn Kiệm trong Giúp Ðọc Nôm và Hán Việt thì bảo Thị như trong “thị tộc chế độ” là bộ lạc theo họ đàn bà, nghĩa là theo mẫu hệ.

Những nhà nghiên cứu về văn hóa Việt tha hồ mà viết về mẫu hệ, về mẹ Aạu, về đàn bà lãnh đạo thời Trưng Trắc, Trưng Nhị, về lòng sùng kính Ðức Maria rất đặc biệt nơi người tín hữu Việt.

Chẳng lạ gì mà người Việt gọi vợ mình là nhà tôi. Vợ là mái ấm, là nhà để trời che đất chở. Ðặt tên đệm là Thị, người Việt muốn nói lên cái nét văn hóa đề cao vai trò quá ư quan trọng của người đàn bà trong gia đình. Ðó là cả một lối sống, một đạo thể hiện. Mặc dù về sau này ảnh hưởng văn hóa phụ hệ của Tàu, nhưng trong máu người Việt vẫn thấy nổi nét nữ. Thị là người biểu trưng cho một dòng họ theo mẫu hệỳ, giữ và chuyển được dòng sức sống của một dòng tộc, một dân tộc vẫn tiếp tục chảy tới. Thì ra người ta nói hoài về dòng sinh mệnh dân tộc, nào có ngờ đâu, chính cái nét Thị, chính người vợ, người mẹ, mới là hiện thân cho cái dòng sức sống, cái truyền thống Việt này. Vì thế ca tụng mẹ là quê hương, mẹ là mái ấm, mẹ là nhà, mẹ là cái hồn của gia đình... chẳng quá lời đâu.

Vậy đấy mà một số người lại chẳng thích cái nét Thị cao quí này. Phải bỏ tên đệm là Thị đi cho có vẻ tân thời. Uổng thật, tự nhiên bỏ địa vị mình đi, chứ có ai bắt đâu để mà tranh đấu. Như kiểu đàn bà cạo trọc đầu cho bằng đàn ông, đàn ông đeo bông tai cho bằng đàn bà. Lung tung quá đi.

KHI CÁC BÀ LÊN TIẾNG ỒN ÀO

Tháng 9 năm 1995, một hội nghị quốc tế về phụ nữ được tổ chức thật ồn ào tại Bắc Kinh, thủ đô nước Tàu. Khoảng 20 ngàn đại biểu các bà đã đến từ khắp thế giới. Trong đó có những bà tai to mặt nhớn như bà thủ tướng Pakistan là Bhutto, bà vợ tổng thống Mỹ Clinton...

Tổng thư ký hội nghị là bà Gertrude Mongella người Tanzania xứ Phi Châu đã tuyên bố thẳng thừng: “Ðàn bà không còn phải là khách trên hành tinh này nữa. Trái đất này cũng thuộc về đàn bà. Một cuộc cách mạng bắt đầu”.

Hèn chi những phong trào tranh đấu cho quyền đàn bà bên Mỹ này mạnh lắm. Ðụng vào là mất nồi cơm như chơi. “Lady first” mà. Các bà hè nhau chửi dân Tàu độc ác, đã dám bóp mũi giết chết những trẻ nữ vừa sinh ra, vì quá dư người. Ðáng đời những người xấu máu, trọng nam khinh nữ, dám cho là thập nữ viết vô, mười vị đàn bà mà họ cả gan bảo là “đồ bỏ” thì láo quá.

Ðáng lẽ các bà phải tố luôn dân Nhật nữa mới đúng. Vì người ta vẫn thường nói: ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật. Người vợ Nhật phục vụ chồng như chủ, chồng đi làm về thì vợ đon đả ra cởi giầy cho. Chồng coi sở làm và bạn sở trọng hơn vợ. Tối đi nhậu hay đi nghỉ hè thì đi với bạn bè hãng sở chứ ít dắt vợ theo kè kè như kiểu Aạu Mỹ.

Chả biết làm sao chứ thấy các bà Mỹ vất vả tranh đấu quá chừng mà chỉ tổ làm mất chất nữ của người đàn bà đi thôi. Ðàn bà không còn thích làm chủ ở nhàợ, là Thị nữa. Cũng ra tranh cử, ngồi chỗ cao, làm bà bự, thích làm những việc đàn ông đang làm, kể cả việc đi lính, tưởng là bở. Ðang khi mình được bẩm sinh mang trái tim nhậy cảm chuyển được tình người thì lại dẹp thứ đó vào sọt rác. Và không thích làm mẹ nữa mới chết. Thật là luẩn quẩn và lẩm cẩm. Cái nhà thì rộng vì đắt tiền, nhưng vì thiếu tim người đàn bà nên mỗi ngày một lỏng lẻo nhạt nhẽo và lạnh lùng ra. Ðang khi Lâm Ngữ Ðường với “Một Quan Niệm Sống Ðẹp” thì cho rằng không có một cảnh nào đẹp và cao quí bằng cảnh người mẹ đang bồng đứa con.

BÍ QUYẾT ÐƠN GIẢN

Một đại gia đình kia tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm ngày bố mẹ cưới nhau. Con cháu tụ họp đông đủ để chúc mừng hoan hỉ. Các con lấy làm lạ là tại sao đã 50 năm trong gia đình mà ít khi thấy bố mẹ to tiếng với nhau. Nhân dịp này thì mọi người nhao nhao hỏi xem đâu là bí quyết của bố mẹ chứ các cặp xồn xồn bây giờ chịu khó chạo nhau chí chóe đều chi.

Oạng bố bèn hắng giọng cảm động “đáp từ”: Thì cũng chẳng có gì gọi là bí quyết cả. Ngoài cái chuyện ai cũng biết là một sự nhịn chín sự lành ra, bố mẹ ngay từ ngày lấy nhau đã ra một điều lệ phân công rõ ràng: những chuyện lớn trong nhà là phải do bố là “thống tướng” quyết định; còn những chuyện nhỏ như chợ búa, bếp núc, con cái, giữ tiền, chi tiêu... thì mẹ là nội tướng phải quyết định. Cứ thế, cứ thế. (Ngẫm nghĩ một hồi, ông cụ nói tiếp): Nhưng xét cho đến cùng thì suốt năm mươi năm qua bố thấy chẳng có chuyện gì gọi là lớn để bố phải quyết định cả. Hóa ra mọi chuyện trong nhà là mẹ quyết định hết. Thế là mọi sự cứ là “êm như ru trời thanh gió mát”.

Con cháu thấy ông cụ nói dí dỏm mà đúng quá liền phá ra cười. Thế là mọi người hả hê học được bí quyết thật đơn giản, mà lại thật đúng với lối sống Việt từ xa xưa để lại. Mẹ là Phan Thị, Trần Thị, Nguyễn Thị, Lê Thị, Phạm Thị, Hoàng Thị, Ðinh Thị, Ðặng Thị, Vũ Thị, Ðỗ Thị... Người Việt gọi vợ là nội tướng, vì là người điều khiển mọi việc trong nhà, “lady first” đúng nghĩa nhất. Chồng phải xin từ mấy đồng lẻ đi mua thuốc hút. Có nền văn minh nào được như vậy không?

Khoa tâm lý thời mới sau nhiều khảo cứu mới dám tuyên bố rằng đàn ông thiên về đầu, đàn bà thiên về tim. Chứ người Việt thì từ xa xưa đã thấy rõ như vậy rồi. Trong nhà thì đàn bà là nhất. Ngoài đường, tức ngoài xã hội, thì đàn ông cứ coi là nhất đi. Phân định rất hợp tình, hợp cả tâm sinh lý xã hội học nữa đấy. Mỗi người nhất một thứ, do tự bẩm sinh vậy rồi, chứ có ai đòi nhất cả đâu. Khác đi với trật tự ấy là loạn ngay. Hơi đâu mà phải lo tranh đấu tối ngày như mấy bà trong nhóm đòi giải phóng phụ nữ lộn ngược.

MẸ LÀ THỊ THÀNH

Cái trò “tam tòng” là do mấy anh Tàu thời nhà Tống bày ra, gán cho đạo Nho, để bắt nạt đàn bà, chứ bên xứ Việt mình làm gì có cái trò tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, nghĩa là ở nhà thì phải theo bố, lập gia đình thì phải theo chồng, chồng chết thì phải theo con trai. Hạ giá người đàn bà quá!

Không khéo mà ngay cả cái kiểu lễ cưới của Mỹ cũng có vẻ “tam tòng” như kiểu đổi chác mua bán. Mở đầu lễ nghi lúc nhạc nổi lên réo rắt thì ông bố dắt tay con gái còn đang che mặt tiến lên. Chàng rể đứng chờ sẵn phía trên đợi chờ. Ðến nơi, bố vợ mở khăn che mặt con gái, rồi bắt tay chàng rể, trao con gái cho chàng rể.

Chả biết văn minh ở chỗ nào chứ như vậy thì cũng chẳng khác gì như ông chủ chiếc xe trao cho chủ mới, đổi giấy chủ quyền. Thế thôi. Tam tòng đúng điệu rồi còn gì. Chắc chắn là thua kiểu lễ cưới Việt xa, cả hai cùng ngang hàng bình đẳng tiến lên chia sẻ trách nhiệm, cùng xây tổ ấm yêu thương.

Vai trò người vợ, người mẹ, trong văn hóa Việt cao thật. Người Việt thì theo mẹ là phải, chất mẫu hệ vẫn còn ở trong máu, vì mẹ mới là người giữ được rường mối gia đình, là trái tim, là hơi ấm giữ nhà, là chìa khóa hạnh phúc gia đình. Người đàn bà được sinh ra với tất cả cơ năng để xây tổ ấm gia đình, khó hơn và cần hơn bất cứ một công việc nào khác. Nếu có phải đi làm thêm ở ngoài thì chỉ là phụ thêm vào và là chuyện bất đắc dĩ. Phần chính vẫn là trong nhà. Còn người đàn bà trong nhà thì nhà còn hơi ấm, còn hạnh phúc. Mất mẹ liếm lá đầu đường là vậy.

Người mẹ mà bỏ nhà ra ngoài kiếm chác là gia đình vỡ. Chỗ đứng của người mẹ rõ ràng chứ có phải tranh đấu gì đâu. Cái ‘dóp” (job) này phải làm “full-time” mới đúng. Dành đủ giờ và tâm huyết cho gia đình vẫn là ưu tiên số một trên mọi thứ lo toan khác.

Người Mỹ bây giờ cũng phát mệt với cái vòng luẩn quẩn rất phi lý: lo đi làm nhiều để kiếm tiền mua sắm tiện nghi. Mà càng tiện nghi thì càng phải đi làm nhiều hơn. Ði làm nhiều hơn đến nỗi chẳng còn giờ mà hưởng tiện nghi. Nhà có vườn cây rộng, có hồ tắm thật sang mà nhiều khi chả có giờ để ngó nữa, để cho lá rụng ngập ngụa. Chỉ vì người ta có thì mình phải có thôi!

Bà Gloria Quinones ở vùng East Harlem bỏ việc luật sư 74 ngàn Mỹ kim lương mỗi năm để có giờ ở nhà săn sóc hai đứa con và nhà cửa. Bây giờ thì cả nhà sống bằng lương chồng. Bà cho biết nay không còn tiền nhiều để mua sắm những bộ áo thời trang, nhưng “tôi đâu cần tới nó, tôi đã bẻ gẫy được cái vòng luẩn quẩn, tôi sẽ không trở lại lối sống đó nữa đâu”. Bà ta cảm thấy thoải mái tự do và sung sướng hơn.

TÌM SAI CHỖ

Ði tìm hạnh phúc, xây tổ ấm gia đình mà nhiều người cứ phải nhớn nhác đi kiếm chác ngoài đường. Riết mà hạnh phúc như vẫn ngoài tầm tay.

Trong “Tiếng Chim Hót” của Anthony de Mello có truyện “Tìm sai chỗ” được kể như thế này:

Một người thấy ông bạn láng giềng cứ lom khom tìm mãi một cái gì trên nền đất, dưới ánh đèn đường nên hỏi:

- Ông bạn tìm gì vậy?

Người láng giềng liền trả lời: Tôi tìm chìa khóa đánh rơi.

Thế rồi cả hai cùng chăm chú, lom khom cố gắng tìm tiếp. Một hồi lâu người này chợt nhận ra một điều gì nên hỏi người láng giềng:

- Mà ông bạn làm rơi nó ở đâu vậy?

- Ở trong nhà.

- Nhưng tại sao ông bạn lại tìm ở đây?

- Vì ở đây sáng hơn.

TÌM LẠI LÒNG MẸ

Có thể nhiều người cũng đang đi tìm chìa khóa hạnh phúc gia đình ở ngoài như vậy. Cứ thấy ánh sáng hào nhoáng văn minh là như con thiêu thân đâm rầm vào. Rồi lăn ra chết. Nơi Tivi, nơi quảng cáo, nơi các đua đòi theo sức ép... Khiến gia đình tan hoang, rồi cũng từ đó mà sinh ra một xã hội rối loạn như đang thấy hiện nay. Bao nhiêu bài khảo luận về tội ác, về băng đảng, về xì ke ma túy, sẽ chẳng ăn thua gì, một khi cái rễ nằm ngay tại trong mỗi gia đình đã bị cắt đứt, vai trò nội tướng của người vợ, người mẹ, đã bị bứng gốc.

Ngày nay Lê Thị. Thánh Lê Thị Thành cho thấy con đường tìm lại nét Thị, mở lối về bí quyết xây nhà theo phương cách và đường lối Việt Nam. Ðã có biết bao nhiêu kiểu mẫu về xây nhà, nhưng điều then chốt theo Thánh Lê Thị Thành vẫn là làm sao tạo được hạnh phúc cho gia đình. Chìa khóa đang để trong nhà, trong tay người vợ, người mẹ.

Mẹ Lê Thị Thành đã đi con đường sống bình dị cận nhân tình như đa số các bà mẹ Việt Nam, chứ không phải là những con đường khua múa xã hội mà bỏ bê trách nhiệm chính là lo tạo tổ ấm yêu thương gia đình. Vì người mẹ là trái tim của thân thể gia đình, trái tim còn đập thì còn sức chuyển máu cho cơ thể sống được.

Bất cứ hoàn cảnh nào, chìa khóa vẫn là tạo lại tình mẹ làm nhà. Vì thế mà mọi cải cách xã hội sẽ chẳng đi đến đâu, cho đến khi bắt đầu chú tâm vào việc xây lại mẫu sống con tim người vợ, khơi lên nguồn lòng mẹ. Tim vợ có rộng, lòng mẹ có bao la như biển Thái Bình, thì sẽ chẳng bao giờ lo thiếu phòng cho con, khiến không phải quá tính toán so đo. Nghĩa mẹ giầu thì sẽ dư sức nuôi con khôn lớn. Ðừng bỏ con cá bắt con sằn sặt. Hội Các Bà Mẹ được thành lập cũng trong chiều hướng này.

MẸ LÀ TỔ ẤM

Mẹ Lê Thị Thành có tất cả 6 người con: 2 trai là Ðê và Trân, và 4 gái là Thu, Năm, Nhiên và Nụ. Và lúc bà tử vì đạo thì đã được 17 người cháu.

Mẹ đã dạy dỗ con cái rất chu đáo, từng li từng tí. Học ăn, học nói, học gói, học mở. Sau khi đã hấp thụ một nền đạo lý vững vàng, chắc hẳn nhiều lần mẹ Lê Thị Thành đã dùng chính ca dao trong đạo sống tổ tiên mà dạy con:

Con ơi mẹ bảo con này

Học buôn học bán cho tày người ta.

Con đừng học thói chua ngoa

Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười.

Dù no dù đói cho tươi,

Khoan ăn bớt ngủ là người lo toan

Phòng khi đóng góp việc làng

Ðồng tiền bát gạo lo toan cho chồng.

Trước là đẹp mặt cho chồng,

Sau là họ mạc cũng không chê cười.


Dạy lễ giáo đã vậy. Nhưng điều cốt yếu là dạy cho con về lòng đạo. Cô Lu-xi-a Nụ, con gái út, đã cung khai với giáo quyền thẩm vấn trong việc điều tra phong thánh như sau:

“Mẹ chúng tôi rất chăm lo việc dạy dỗ các con. Chính người dạy chúng tôi đọc chữ và học giáo lý, sau lại dạy cách tham dự thánh lễ và xưng tội rước lểờ. Người không để chúng tôi biếng nhác việc xưng tội. Khi chúng tôi lơ là, người thúc giục chúng tôi bằng được mới thôi. Người cho chúng tôi nhập hội Con Ðức Mẹ, vào ban thiếu nữ thưa kinh ở nhà thờ.”

Dù con cái đã lập gia đình, bà vẫn còn theo dõi thúc dục đi lễ và lãnh bí tích. Một người con khác, cô Anna Năm cũng xác nhận rằng:

“Cha mẹ chúng tôi chỉ gả con gái cho những thanh niên đạo hạnh. Sau khi tôi kết hôn, mẹ tôi thường đến thăm chúng tôi và khuyên bảo những lời tốt lành. Có lần người dạy tôi:”

Người cũng thường khuyên vợ chồng tôi:

“Hai con hãy sống hòa hợp, an vui, đừng để ai nghe chúng con cãi nhau bao giờ.”

Mẹ dậy con biết tập hy sinh chịu đựng, vì người Việt quan niệm đi lập gia đình là đi gánh vác. Nói lên trách nhiệm và hy sinh quên mình hoàn toàn cho hạnh phúc chồng con. Không lý luận, không so đo hơn thiệt. Chứ chỉ chờ người khác phục vụ mình, chỉ chờ chồng con phải “biết điều” thì gia đình dễ vỡ lắm. Chính bà Lê Thị Thành đã dạy cô Năm là con gái của bà:

“Tuân theo ý Chúa con lập gia đình là gánh rất nặng. Con phải ăn ở khôn ngoan, đừng cãi lời cha mẹ chồng. Hãy vui lòng nhận lấy thánh giá Chúa gửi cho.”

Cứ xem vậy thì thấy rõ Mẹ Lê Thị Thành đúng là vị linh hướng trong gia đình như đa số các người mẹ Việt Nam. Lòng đạo của cả nhà lên hay xuống tùy thuộc rất nhiều nơi người mẹ. Vì Mẹ sống đúng bí tích hôn nhân, là chỉ cho chồng con thấy Chúa hiện ra trong nhà mình, qua mọi việc bình thường hằng ngày, qua những lam lũ vất vả làm ăn, qua từng bổn phận nhỏ bé âm thầm, và nhất là qua chính mình.

Chúa đang có mặt trong nhà mình là một cảm nghiệm có sức thay đổi tất cả, biến cải tất cả. Như Chúa đã có mặt tại tiệc cưới Cana, làm phép lạ cho nước lã nhạt nhẽo thành rượu ngon nồng ấm. Nội tướng là người mắt luôn sáng lên mở lớn kinh ngạc chỉ cho mọi người trong nhà thấy được phép lạ: Chúa đang hiện ra đây này.

NGHỀ DỆT CHIẾU CẢI

Quê quán mẹ Lê Thị Thành vùng Phát Diệm có nghề dệt chiếu cải. Vừa là kế sinh nhai mà vừa là nghệ thuật sống nữa chứ mới lạ. Chắc ngay từ nhỏ thánh nữ đã nhập tâm lối sống này khi cùng với mẹ dệt chiếu sinh sống, rồi sau này truyền nghề cho con cái.

Phát Diệm là đất trồng nhiều cói: đất ngọt trồng lúa, đất chua trồng cói. Vì thế mà nghề dệt chiếu rất thịnh và nổi tiếng. Ông bà Ðê chắc đã từng lam lũ sinh sống bằng nghề này, bên cạnh nghề chính là cầy cấy và nuôi tằm kéo sợi.

“Cải” là dệt kết hoa hay chữ bằng cói nhuộm mầu. Cói cắt ở ruộng, chẻ đôi, phơi khô thành sợi, nhuộm mầu rồi cải lại. Sợi cói nhỏ như vậy mà chẻ đôi cho đều là cả một chuyện tài tình. Phải nhiều công phu lắm. Cây văng để ruôn cói phải vót bằng thân cau mới thẳng được. Cái go để dệt thì bằng gỗ, răng bằng tre. Khung được căng sẵn bằng sợi dây đay rất bền.

Một người ngồi ngang ruôn cói vào bằng một cái văng, một người ngồi trên khung dập mạnh cái go mà nén sợi cói lại cho chặt, rồi bận đầu cói vào mép chiếu ngay. Hai người cùng làm một lúc mới được, rất nhịp nhàng, ràng buộc với nhau. Phải bắt đúng nhịp đúng chỗ trong cái khung lớn. Người ruôn cói phải làm ba động tác liên tiếp trong một nhịp: vê đầu sợi cói vào cái ngàm cây văng, đẩy cây văng vào khung dệt để cho sợi cói nằm lại đúng cỡ rồi rút cây văng lại kịp cho người ngồi trên dập cái go lại. Khéo quá, mọi động tác thật chính xác. Một người lỡ là làm người kia lỡ luôn. Cứ nhìn vậy thì hiểu ngay câu tục ngữ: Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn. Còn mỗi người một ý, một nẻo, thì chỉ béo mấy tay thợ cãi mướn thôi.

Những sợi cói được nhuộm với màu sắc xem ra lung tung vậy, mà khi được cải đã trở thành như những bức tranh hết xẩy không chê vào đâu được. Ðược nối kết bằng những sợi đay nhỏ, ràng lấy nhau, như chất keo mầu gắn lại tất cả. Bỏ những sợi dây xem ra lỉnh kỉnh này đi như nhiều gia đình kiểu mới thích độc lập tách rời thì gia đình chỉ còn là “nghĩa địa hoàng hôn”.

Chiếu Kim Sơn Phát Diệm nổi tiếng vì bền, dệt rất dầy sợi, dùng được tới mười năm. Mỗi chiếc chiếu như một tấm thảm hay tấm mền khâu ghép.

DẠY CÁCH ÐAN DỆT HẠNH PHÚC

Ðúng là ngay từ nhỏ mẹ Lê Thị Thành đã được học nghệ thuật dan dệt cuộc đời, chằng chịt ràng buộc bằng những “cây leo hạnh phúc” do những người thân yêu, ghép lại bằng đủ mọi mầu sắc buồn vui đắng ngọt. Cũng giống như “nghệ thuật” nấu ăn vậy. Hoàn cảnh nào cũng tìm cách biến cải được. Rắc rối xung khắc mấy rồi cũng đi vào đường lối nhịp nhàng, kết thành hoa thành chữ, có ý có nghĩa.

Ðức tính nhẫn nhục quên mình và kiên tâm trong mọi khó khăn và âm thầm trong bổn phận thường ngày là bí quyết làm cho gia đình luôn được an vui hạnh phúc. Ðó là bí quyết làm giầu và sống giầu của người Việt: dung hóa được mọi sự, biến chế được mọi sự, điều hợp được mọi sự. Cái gì cũng có ích trong đạo Trời:

Trời nắng tốt dưa

Trời mưa tốt lúa.


Sống như vậy mà không không giầu sang hạnh phúc nữa thì thôi. Còn ai sống giầu hơn được không? Vợ chồng cùng làm việc với nhau, cùng nơi cùng chỗ, cùng nhịp điệu. Mọi sự hòa hợp. Nhiều khi cùng hát ca dao, cùng ngâm nga Gia Huấn Ca. Về sau này con cháu biết ca vè Cụ Sáu Hiếu Tự Ca.

Công dụng chiếu cải thì nhiều lắm. Dùng để trải giường, trải lối đi, trang hoàng phòng trông thật đẹp. Mình nhớ hồi còn nhỏ vẫn thường thấy trải chiếu cải trong nhà thờ, trên cung thánh, trông thật sang, mà đơn giản, chứ không quá mắc tiền như những tấm thảm dệt kiểu Á Ðông thì chỉ có nhà giầu bên Aạu Mỹ mới dám động tới. Ngày xưa chưa có mền thì dùng chiếu đắp nữa, cũng ấm áp cuộc đời lắm.

BIẾT TRÔNG NHIỀU BỀ

Mẹ Lê Thị Thành đã dùng chính con tim của mình mà xây nhà, chứ không phải chỉ do đồng lương to hay bé. Từng giọt mồ hôi, từng sợi tóc bạc, từng vết chân chim trên đuôi mắt, đều ghi lại những chặng hy sinh quên mình, dấu vết của lam lũ vất vả cho chồng cho con. Mẹ chẳng bao giờ kể công, chẳng phải tranh đấu quyền phụ nữ. Bởi vì mẹ đã biết trông nhiều bề, sao cho mọi sự hòa hợp gia đạo, phải được vuông tròn một nhịp đất trời.

Người ta đi cấy lấy công

Tôi đây đi cấy còn trông nhiều bề.

Trông trời trông đất trông mây

Trông mưa trông gió trông ngày trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm

Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng.


Họa sĩ Vincent van Gogh đã vẽ những bức tranh được đấu giá rất mắc, về những người đang lao động hái nho, hái trái ô-liu, gặt lúa. Nhìn những bức tranh này, ai cũng nhận ra ngay một biển sinh lực đang nhảy múa như những khúc luân vũ, nhờ những nét vẽ chấm ngắn sinh động.

Cái thấy này cũng đúng là cái thấy của người Việt khi làm việc, biết thưởng thức được cái thú của chính công việc. Vừa làm việc vừa ca hát, vừa vui đùa. Từng động tác, từng cử chỉ đều đang là những cái cuống nhau nối vào dòng sinh lực đất trời. Nói khác hơn, là đang đi vào nhịp hơi thở của Thần Khí Chúa, thấy Chúa hiện ra và để Chúa biến đổi mọi sự.

Nếu chỉ tát nước vì phải chuyển nước vào đầy ruộng, thì đúng là đang phí phạm như múc vàng mà giục đi vậy. Cũng chính vì thấy cái dáng điệu của một người chỉ cốt làm cho xong khiến cho công việc hóa ra nhọc nhằn mà người nông dân đã hát lên để nhắc nhở:

Cô kia tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?


MẪU XÂY LẠI TỔ ẤM

Chính những bí mật tìm lại hạnh phúc theo gia đạo Việt qua gương sống của Thánh Lê Thị Thành mà Hội Thánh muốn giới thiệu cho thế giới. Qua tông thư “Ðệ Tam Thiên Nhiên Sắp Ðến” Ðức Gioan Phaolô II đã đề cao:

“Giáo Hội của đệ nhất thiên niên đã khai sinh trong máu của các vị tử đạo: máu tử đạo là hạt giống sinh tín hữu” (Tertuliano)... Trong thế kỷ chúng ta, các vị tử đạo xuất hiện lại: thường là những kẻ âm thầm, họ như những “chiến sĩ vô danh” cho đại nghĩa Chúa. Bằng mọi cách có thể, đừng nên làm mất đi chứng tá của họ trong Giáo Hội. Như hội nghị hồng y đoàn đã gợi lên, các Giáo Hội địa phương phải làm mọi cách để gương lành của những kẻ đã chịu tử đạo khỏi rơi vào quên lãng; nên cố gắng thu thập các tài liệu cần thiết trong ý hướng này...”

“Trong viễn tượng hướng về đệ tam thiên niên, tòa thánh sẽ ghi vào trang sử tử đạo của Giáo Hội hoàn vũ, lưu ý nhiều đến sự thánh thiện của những người, ngay ở thời đại chúng ta, đã hoàn thành đời mình trong chân lý của chúa Kitô. Một cách hết sức đặc biệt, cần ghi nhận sự anh dũng của các nhân đức nơi những người nam, nữ, đã thực hiện ơn gọi làm người Kitô trong cuộc sống hôn nhân: trong xác tín rằng nhiều hoa trái thánh thiện nảy sinh trong bậc sống này, chúng tôi thấy cần phải tìm ra những phương cách thích hợp nhất để đề cao và nêu lên cho toàn thể Giáo Hội làm mẫu mực và khích lệ những người chồng người vợ Kitô giáo” (trang 40-42)

Một người vợ, một người mẹ là một nội tướng, đúng là người mang trách nhiệm thắng thua của ‘đoàn quân” trong nhà. Tướng mà không còn biết trực tiếp xếp đặt lo toan cho “đoàn quân mình”, lại đi kiếm chác chuyện khác hay thuê người coi “quân” giùm, thì nguy cơ tan vỡ đến nơi rồi. Một nền văn minh mà người đàn bà bị bó buộc phải bứng ra khỏi gia đình là một nền văn minh bệnh hoạn, có cái gì bất ổn trầm trọng.

Trong những rối loạn về gia đình hiện nay, bao nhiêu khảo cứu về phương pháp tâm lý, sinh lý, xã hội học, cũng chẳng làm gì hơn. Vậy mà Mẹ Lê Thị Thành lại có thể cung ứng một đường lối rất hiệu nghiệm mà thật đơn giản. Mẹ biết cách pha chế, rồi để lửa Trời biến những miếng thịt hay cá tanh thành những món ăn ngon. Con tim Mẹ mới là ngón tay thần, để lửa tình Chúa biến đổi tất cả. Bằng sức mạnh của cầu nguyện, của thánh lễ, của những bổn phận săn sóc con cái với cả thương yêu. Phép lạ là đây. Gia đình êm ấm là đây. Kìa, Mẹ thấy Chúa đang hiện ra ngay trong nhà mình.

Trong một tấm thiệp Giáng Sinh, hình hang đá Bê Lem không hề có vách núi hang đá, cũng không có lều tranh. Hài nhi Giêsu nằm gọn ngủ ngon ở giữa. Hình Ðức Maria và Thánh Giuse cúi khum xuống thành mái nhà che chở, giữ hơi ấm, bật sáng lung linh giữa đêm đen lạnh buốt.

Ðúng rồi. Mẹ là Thị. Mẹ là nhà. Mẹ là tổ ấm. Lòng mẹ bao la, là suối hiền ngọt ngào. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Từ bên trong, không thể từ bên ngoài được.

Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường