MARIA, TRINH NỮ CỦA NIỀM VUI:

VUI TRONG THIÊN CHÚA


“Linh hồn tôi ca ngợi Chúa,

thần trí tôi mừng vui trong Thiên Chúa, Ðấng Cứu Ðộ Tôi.”


(Lc 1 : 46-47)

Tôi thường nghe các bạn trẻ nói rằng: “Thà được hưởng một phút huy hoàng còn hơn suốt đời điêu tàn”. Câu nói trên bắt nguồn từ hai câu thơ của Xuân Diệu: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt. Còn hơn le lói suốt trăm năm.” Thật tai hại, câu nói này đã trở thành châm ngôn cho nhiều bạn trẻ hành động. Họ đã đánh đổi tất cả những giá trị đang có để hưởng cái giây phút huy hoàng đó, ngay cả sự trinh tiết, đạo đức và phẩmgiá của con người. Cái "giây phút huy hoàng” đó là gì?

1- Khoái lạc:

Tôi nghĩ ngay đến cảm giác khoái lạc. Vì khoái lạc tạo cho con người cảm giác thích thú ở mức độ cao, nhưng rất chóng qua trong giây phút. Nói đến khoái lạc, người đời thường đề cập đến tứ khoái: ăn uống, ngủ nghỉ, làm tình, đi cầu. Ðó là các hoạt động sinh lý bình thường của con người. Bản tính của con người được sinh ra với những cảm giác khoái lạc này. Nhờ đó đời sống con người mới được quân bình.

Thế nhưng dục vọng không cùng của con người muốn biến cảm giác khoái lạc tự nhiên trở thành cùng đích để theo đuổi và đánh đổi bằng mọi giá. Người ta tôn thờ chủ nghĩa khoái lạc (hedonism, epicurism): tìm kiếm khoái lạc bằng mọi giá. Từ “tứ khoái” dẫn đến “tứ đổ tường”: uống rượu, chơi gái, đánh bạc, hút thuốc phiện. Tuy rằng nền văn minh hiện nay đã tạo thêm muôn ngàn cách thức hưởng thụ khoái lạc khác nhau, nhưng căn bản vẫn là tứ đổ tường.

Trong thực tế, "tứ đổ tường" đã sinh ra rất nhiều đau khổ. Bệnh Sida (Aids) bành trướng mạnh mẽ ở những chỗ ăn chơi, tôn thờ chủ nghĩa khoái lạc, và ở những quốc gia nghèo muốn làm giàu bằng ngành du lịch, khuyến khích dân chúng sử dụng thân xác như một tài nguyên thiên nhiên để hưởng “giây phút huy hoàng”. Các thứ tệ đoan trong xã hội xảy ra đều là hậu quả của tứ đổ tường. Biết bao gia đình tan vỡ, đau khổ vì sự ích kỷ và chủ trương tìm kiếm khoái lạc! Cuộc đời không phải chỉ “le lói” như ông Xuân Diệu diễn tả, mà thực sự là “điêu tàn”, giống như một con người đang sống nhưng đã chết (1 Tm 5:6). Họ sống nhưng chỉ là cái xác chết chưa chôn!

Thánh Phaolô đã gọi những người chạy theo chủ nghĩa khoái lạc là “ngu xuẩn và lầm lạc”, vì nó làm cho con người trở thành “nô lệ cho đủ thứ đam mê và khoái lạc, sống trong gian ác và ganh tị” (Tt 3:3). Chủ nghĩa khoái lạc làm cho người ta trở nên: “Ích kỷ, ham tiền bạc, khoác lác, kiêu ngạo, nói lộng ngôn, không vâng lời cha mẹ, vô ân bạc nghĩa, phạm thượng, vô tâm vô tình, tàn nhẫn, nói xấu, thiếu tiết độ, hung dữ, ghét điều thiện, phản trắc, nông nổi, lên mặt kiêu căng, yêu khoái lạc hơn yêu Thiên Chúa” (2 Tm 3: 2-4).

Thực ra, khoái lạc chỉ mang lại cho con người sự trống rỗng và ảo tưởng như sách Châm Ngôn đã nói: “Cả khi cười, lòng vẫn vương sầu muộn, sau niềm vui lại đến nỗi buồn phiền” (Cn 14:13). Chúng không tạo nên được hạnh phúc thực sự, mà chỉ là phù vân như sách Giảng Viên dạy: “Tôi tự nhủ: 'cứ đến đây, ta sẽ cho ngươi thử hưởng thú vui và nếm mùi hạnh phúc.' Thế nhưng cả cái đó cũng chỉ là phù vân... Bấy giờ nhìn vào hết mọi việc do chính tôi làm, và bao gian lao vất vả tôi phải chịu, tôi nhận thấy: tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát; dưới bầu trời có lợi lộc gì đâu!” (Gv 2:1-11).

2- Hạnh phúc:

Cái ước muốn về một “giây phút huy hoàng” đó còn có thể phản ảnh một ngưỡng vọng về hạnh phúc trần gian mà con người hằng khao khát. Từ rất xa xưa, triết gia Aristote đã cảm nghiệm được cái ước vọng căn bản này khi ông nói: “Hạnh phúc là cái mà tất cả mọi người tìm kiếm.” Pascal còn thêm rằng: “Ai cũng tìm hạnh phúc, kể cả người đi treo cổ tự tử.”

Trong thực tế, đại đa số đều nghĩ rằng cái “giây phút huy hoàng” này chính là hạnh phúc được tạo nên do tình, tiền, tài hay danh vọng. Người ta chỉ cảm thấy sung sướng khi có vợ đẹp, con khôn, nhà cao cửa rộng, tiền bạc rủng rỉnh, xe cộ láng bóng, cuộc sống sung túc, đầy đủ tiện nghi, với thể xác khỏe mạnh, trẻ trung, và đẹp đẽ.

Nhận xét về con người hiện đại, linh mục Anthony de Mello đã cho rằng ngày nay người ta không có niềm vui thực sự vì họ quan niệm sai lầm về hạnh phúc. Con người chỉ sung sướng khi chiếm hữu nhiều của cải vật chất. Họ chỉ cảm thấy hạnh phúc khi có đủ thứ này hay thứ nọ. Ðối với họ, hạnh phúc là một cái gì đó chỉ có thể tìm thấy được ở bên ngoài con người! Không, hạnh phúc hệ tại chính chúng ta.

Trong trại tập trung cải tạo, tù nhân chỉ được ăn rất ít, nhưng phải lao động suốt ngày vất vả. Một tù nhân không thể ngủ được ban đêm vì bụng đói. Hôm sau anh bẻ một miếng bánh, rồi cất đi để dành. Ðến khuya, thức giấc, anh lấy miếng bánh ra ăn cho đỡ đói, và ngủ lại ngon giấc. Thế là hôm sau, khi lao động khổ cực, cứ nghĩ đến miếng bánh sẽ ăn vào ban đêm làm anh vui vẻ cả ngày.

Tất cả những gì ở bên ngoài của con người đều có thể đến rồi đi, có rồi mất trong giây phút! Ðó là thứ hạnh phúc giả tạo tùy thuộc vào những điều kiện, cơ hội và dịp may. Hạnh phúc đến từ những cái bên ngoài của con người, chứ không phát xuất từ nội tâm và tinh thần của con người mà ra sẽ chỉ mang lại đau khổ cho con người hơn là hạnh phúc thực sự. Hãy trở về với chính mình. Hạnh phúc thật vốn có nơi chúng ta. Hạnh phúc là cái tình trạng tự nhiên của chúng ta.

“Con rất cần đến sự giúp đỡ của thầy, nếu không, con sẽ quẫn trí luôn. Chúng con ở trong một căn phòng độc nhất, gồm có vợ chồng, con cái, và dâu rể! Do đó chúng con luôn bị căng thẳng thần kinh, la hét cãi cọ nhau om sòm. Căn nhà thật là chốn địa ngục.” Minh sư đáp một cách trịnh trọng: Con có hứa là làm bất cứ những gì thầy dạy bảo không?” “Con xin thề là sẽ làm bất cứ điều gì.” “Ðược rồi. Con có bao nhiêu gia súc?” “Một con bò cái, một con dê và sáu con gà.” “Con hãy đem hết các con vật đó vào trong căn phòng của con. Rồi con hãy trở lại sau một tuần lễ.”

Ðệ tử kinh hoàng. Nhưng đã trót hứa vâng lời. Do đó, anh ta đã mang các gia súc vào nhà. Một tuần lễ sau anh trở lại, gương mặt rầu rĩ thảm não và nói: “Con bị thần kinh căng thẳng đến tột độ. Nào là nhơ uế! Hôi hám! Ồn ào! Tất cả chúng con sắp sửa hóa điên mất!” Minh sư truyền dạy: “Con hãy trở về và đem hết súc vật ra ngoài.”

Anh chạy một mạch về nhà. Và hôm sau, anh trở lại, ánh mắt rực sáng niềm vui: “Ðời êm đẹp làm sao! Các gia súc đã đi khỏi. Căn phòng là một thiên đường. Yên tĩnh làm sao! Sạch sẽ làm sao! Và khoảng khoát làm sao!”
(Hạnh Phúc, Một Phút Minh Triết, Anthony de Mello, S.J., tr. 28 dịch giả Ðỗ Tân Hưng và Trần Duy Nhiên).

Theo Ðức Phật Thích Ca, chính dục vọng, sự khao khát “giây phút huy hoàng” này đã tạo nên đau khổ trong cuộc đời. Cùng quan điểm này, linh mục Anthony de Mello đã đưa ra giải pháp như sau: “Trước hết, bạn hãy tóm cho được sự khao khát nấp dưới nỗi đau khổ ấy - bởi bạn có khát khao mãnh liệt một cái gì đấy, vì nếu không, bạn đã không đau khổ. Bạn khám phá xem nỗi đau khổ ấy là gì? Ðiểm thứ hai, nó không chỉ đơn thuần là một sự khát khao; ở đây còn có một sự đồng hóa nữa... Mọi đau khổ đều do bởi người ta đồng hóa mình với một cái gì đó - cái đó có thể hoặc ở trong hoặc ở ngoài họ.” (Awareness, Thức Tỉnh, trang 59).

3- Thiên Chúa là nguồn mạch của niềm vui:

Thánh Thomas Aquinas đã nói: “Không ai có thể sống mà không có niềm vui. Ðó là lý do tại sao khi người ta bị đánh mất niềm vui tinh thần thì liền đi tìm khoái lạc xác thịt.” Hay nói một cách khác, bởi vì con người không biết đến niềmvui tinh thần, hay không thể hưởng được niềm vui thánh thiện vì tội lỗi của họ, nên mới phải quay sang tìm kiếm “một phút huy hoàng” của trần gian, để rồi dù có phải chịu đau khổ thế nào, con người cũng vẫn cắm đầu lao vào!

Ðể giúp chúng ta phản tỉnh và biết tìm đến nguồn mạch của niềm vui đích thực, Thánh Kinh không ngừng kêu gọi con người phải quay trở về với Thiên Chúa để được sống hạnh phúc và an bình. Sách Cựu Ước đã nói lên rất nhiều những câu chuyện và kinh nghiệm đau khổ của dân Do Thái vì muốn từ bỏ Thiên Chúa để đi tìm hạnh phúc trong việc thờ phượng bò vàng và các thần dân ngoại (Xh 32:1-10).

Tác giả của bài hát nổi tiếng “Amazing Grace” - “Nguồn vui Ơn Thánh” John Newton. Ðang khi đi tìm kiếm hạnh phúc bằng của cải và sự giàu có trần gian, ông dấn thân vào công việc làm ăn rất tàn bạo và vô nhân đạo. Ðó là buôn bán những người nô lệ. Vào thế kỷ thứ 18, những người Phi Châu nghèo khổ đã bị bắt cóc, xiềng xích, tù đày và bị bán cho các lái buôn. Các con buôn nhốt họ như những con súc vật chật cứng trong các hầm tầu đen tối rồi chở sang Mỹ Châu. Họ bị vĩnh viễn rời bỏ gia đình, xứ sở, và quê hương để đến một nơi xa cách hằng ngàn dặm làm nô lệ cho những ông chủ người da trắng. Ông John Newton là một thuyền trưởng của những con tầu buôn bán nô lệ này. Ðang khi đi tìm kiếm hạnh phúc ở của cải vật chất thì trong tâm hồn ông đang âm ỉ một nỗi bất hạnh làm ông luôn luôn áy náy và bối rối.

Trong một giấc mơ, ông gặp một người lạ mặt cho ông chiếc nhẫn thần và nói rằng nếu ông giữ chiếc nhẫn này ông sẽ được hạnh phúc và bình an suốt đời. Ông đã giữ chiếc nhẫn được một thời gian ngắn. Rồi ông lại gặp một người khác cười nhạo ông vì chiếc nhẫn mà ông cho là tối quan trọng đó. Vì bị nhạo cười quá đáng, ông đã ném chiếc nhẫn này xuống biển. Bỗng nhiên ngay chỗ chiếc nhẫn rơi xuống đã bùng lên một ngọn lửa cháy mạnh mẽ như cuồng phong nuốt lấy con người ông.

Cũng trong giấc mơ, một người thứ ba nữa xuất hiện, nhưng có lẽ là người thứ nhất thì đúng hơn, hỏi ông tại sao có vẻ buồn bã như thế. Ông mới kể lại câu chuyện đã làm mất chiếc nhẫn thần là một điều quan trọng nhất trong cuộc đời. Người lạ mặt này nghe xong bèn lặn xuống biển vớt lại được chiếc nhẫn thần. Nhưng vị đó đã không trả lại cho ông mà chỉ căn dặn rằng: “Tốt nhất ta nên giữ chiếc nhẫn này cho ngươi. Khi nào ngươi cần sức mạnh của chiếc nhẫn, ta sẽ giúp đỡ vì ta luôn luôn ở bên ngươi.”

Khi tỉnh thức, ông John đã suy nghĩ về ý nghĩa của giấc mơ, vì ông biết rằng ông đã ném đi tất cả những gì quí trọng nhất trong cuộc đời để đổi lấy tiền bạc. Ông đã cảm thấy rằng Chúa Giêsu đã đến với ông như một người lạ trong giấc mơ để bảo ông biết rằng ông phải thay đổi cuộc sống. Rồi cơ hội đã đến. Trong một chuyến tàu buôn nô lệ băng qua đại dương, con tàu của ông gặp bão tố kinh hoàng đe dọa đến tính mạng của ông. Ông đã quỳ xuống cầu nguyện: “Lạy Chúa, nếu Chúa làm cho biển cả im lặng, bão tố qua đi, và đưa con về bến yên lành thì con hứa với Ngài sẽ không làm nghề buôn bán nô lệ nữa, và sẽ trở nên người nô lệ của Ngài.”

Con tàu của ông đã thoát qua được cơn giông bão. Ông John Newton đã giữ lời hứa với Chúa, trở thành Mục sư đi rao giảng Tin Mừng, và đã viết lên bài ca “Amazing Grace”- “Nguồn Vui Ơn Thánh”: “Nguồn vui ơn thánh êm đềm dịu dàng, hồn con được Chúa ủi an. Con đã lỗi lầm bỏ nhà Cha hiền giờ đây con thấy đường về.”

Các tiên tri cũng đã không ngừng kêu gọi dân Do Thái phải trở về với Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc đích thực: “Phúc thay cho người tin tưởng vào Thiên Chúa” (Gr 17:5-8). Họ tìm thấy niềm vui khi ca tụng Thiên Chúa (Tv 33:1), Ðấng là Vua của họ (Tv 149:2) luôn kêu gọi họ cùng hoan hỷ trước sự hiện diện của Ngài (Ðn 12:18).

Bốn Phúc Âm được gọi là Tin Mừng, những bản kể về những Tin Mừng cứu độ của Ðức Giêsu Kitô (Lc 1:14, 2:10, 28:44; Mt 2:10). Thánh Luca bắt đầu câu chuyện Truyền Tin bằng lời chào của sứ thần với Ðức Maria như sau: “Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ân sủng, Ðức Chúa ở cùng bà” (Lc 1:28). Sự hiện diện của Thiên Chúa là nguồn mạch của niềm vui, bởi thế Ðức Maria đã hát lên bài kinh “Ngợi Khen”: “Linh hồn tôi ca ngợi Chúa, thần trí tôi mừng vui trong Thiên Chúa, Ðấng Cứu Tôi.” (Lc 1 : 46-47)

Niềm vui của Ðức Maria là hoa trái của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Ðó là ơn phúc của Thiên Chúa ban cho Ðức Maria: đầy ân sủng có nghĩa là được sủng ái, được yêu thương. Ðây không phải là điều do con người tạo ra mà có được, nhưng bởi Thiên Chúa ban cho những ai gắn bó và liên hệ mật thiết với Ngài.

Thật vậy, kể từ sau lời “xin vâng” , Con Thiên Chúa đến ngự trị trong cung lòng và tâm hồn Ðức Maria, và đã mang lại cho Ðức Maria một niềm vui không thể diễn tả được bằng ngôn ngữ trần gian như lời Chúa Giêsu đã phán: “niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (Ga 15:11), “và niềm vui của anh em không ai lấy mất được” (Ga 16:22), “để họ hưởng trọn vẹn niềm vui của con” (Ga 17:13).

Thánh Sophronius đã ca ngợi sự hân hoan vui mừng không những đối với Ðức Maria, mà còn đối với toàn thể nhân loại khi sứ thần đến Truyền Tin: “Trong niềm hân hoan phấn khởi, sứ thần đã mang đến cho Ðức Maria tin vui mừng. Sứ thần đã biết tỏ tường rằng đây là một lời công bố vui mừng cho tất cả mọi người, mọi tạo vật. Ðối với con người, đây là sự tận cùng của nỗi u buồn. Thế giới sẽ rạng ngời lên ánh sáng huyền diệu của Thiên Chúa.

Mừng vui lên! Hỡi Mẹ của niềm vui cao cả. Mừng vui lên! Hỡi Mẹ của niềm vui bất tử. Mừng vui lên! Hỡi kho tàng chứa đựng niềm vui vĩnh cửu của Thiên Chúa ”Mừng vui lên! Hỡi Trinh Nữ muôn đời! Mừng vui lên! Mẹ Thiên Chúa, huyền diệu của các kỳ công!”

4- Niềm vui của đời sống Kitô hữu:

Thánh Phaolô đã khuyên nhủ các tín hữu Philipphê những điều như sau: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi… Trong mọi hoàn cảnh, anh em hãy đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn mà giải bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Ðức Kitô Giêsu” (Pl 4: 4-7).

Thật vậy, niềm vui là hoa trái của đời sống thánh thiện được hướng dẫn bởi Thần Khí (Gl 5:22). Và chính tội lỗi, kẻ thù của Thiên Chúa, sẽ cướp đi mất niềm vui và sự an bình trong tâm hồn của chúng ta (Ps 51:5-8, 12). Con người sống trong tội lỗi sẽ không bao giờ có niềm vui đích thực, cho dù bề ngoài họ có của cải vật chất, cười nói vui vẻ, nhưng trong tâm hồn chất đầy sầu muộn như lời sách Cách Ngôn đã nói: “Cả khi cười, lòng vẫn vương sầu muộn, sau niềm vui lại đến nỗi buồn phiền” (Cn 14: 13)

Trong Phúc Âm Chúa Giêsu thường nói về sự giàu có, nhưng điều Ngài lên án không phải là việc có nhiều của cải vật chất, mà chính là lòng ham mê không kiềm chế, sự ao ước, thèm khát để chiếm cho bằng được những của cải và khoái lạc dâm tà (Mc 4:19; 7:6; Lc 11: 39-42; 16:15; Mt 23:25-27).

Chính cái ước vọng “một phút huy hoàng” đã phát sinh bao nhiêu sự gian tà, lo âu, âm mưu, toan tính và tội lỗi. Cái bản năng vô giới hạn này làm cho tinh thần của con người trở nên quyến luyến, gắn bó và trở thành nô lệ cho của cải trần gian. Mối giây ràng buộc vô hình này nằm sâu trong lòng con người còn độc hại hơn là chính sự chiếm hữu của cải nữa.

Các nhà tu đức thường khuyên chúng ta rằng lòng quyến luyến của cải trần gian thì nguy hiểm và tồi tệ hơn là việc thực sự chiếm hữu chúng. Càng tách rời ra khỏi những sự thèm khát này, tâm hồn chúng ta càng có cơ hội đón nhận sự cao cả của đời sống tinh thần. Trần gian cống hiến cho chúng ta khoái lạc chốc lát và nghèo nàn. Chỉ có Thiên Chúa mới ban cho chúng ta được niềm vui vô tận. Bởi thế, sau bao nhiêu ngày tháng kiếm tìm hạnh phúc, sau cùng Thánh Augustinô đã phải tự thú rằng: “Linh hồn tôi còn thao thức xao xuyến mãi cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa là Thiên Chúa chân thực của tôi.”

Chính vì đời sống thánh thiện của Ðức Maria, nên Mẹ đã được Thiên Chúa yêu thương và chọn lựa làm đền thờ cho Con Thiên Chúa ngự tri. Ở đâu có Thiên Chúa hiện diện, ở đấy tràn ngập niềm vui. Theo gương Ðức Trinh Nữ Maria, người Kitô hữu cũng phải đi tìm niềm vui nơi lòng yêu thương, sủng ái của Thiên Chúa khi được chọn làm con cái của Ngài. Chính sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống thánh thiện của người Kitô hữu sẽ mang lại niềm vui và an bình.

Lm Giuse Nguyễn Văn Thái.