CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH

Mùa Phục Sinh không những là mùa vui mừng và hy vọng mà còn là thời điểm hòa giải, tha thứ thể hiện cụ thể qua lời nói và việc làm của chính Chúa Kitô Phục Sinh sau ngày Người từ cõi chết sống lại.

Trước hết, Chúa sống lại là nguồn vui mừng lớn lao cho các Môn đệ của Người vì tất cả đều đã vô cùng buồn bã thất vọng khi chứng kiến cái chết thê thảm của Người trong ngày thứ Sáu trên Núi Sọ. Mặt khác họ cũng đã lấy lại được niềm tin và hy vọng từng bị cái chết của Chúa làm lung lay. Họ không những vui mừng vì được gặp lại Chúa mà còn cảm nghiệm sâu xa về tình thường khoan dung tha thứ của Người dành cho họ cách đặc biệt thể hiện qua thái độ đơn phương hòa giải của Chuá nữa.

Thật vậy, mỗi lần hiện ra với các Tông Đồ, Chúa Giêsu chỉ nói “ Bằng an cho các con”. Chúakhông hề quở trách các ông đa số đã hèn nhát chạy trốn khi Người bị bắt bớ và bị đem đi giết. Người cũng không trách mắng Phêrô đã công khai chối Người ba lần. Điều này cho thấy Chúa đã tha thứ tất cả, đã quên hết những gì các ông đã làm cho Người trong giờ phút đáng lẽ các ông phải chứng tỏ tình yêu trung kiên dành cho Chúa khi Người lâm nạn. Thường tình người ta dễ yêu nhau, gắn bó mật thiết với nhau khi không gặp nguy biến. Nhưng nếu gặp khó khăn, hoạn nạn mà không dám sống chết với nhau thì tình thân không có gì là keo sơn, bền chặt, thắm thiết thực sự như người ta nghĩ. Mặt khác, cũng thường tình thì người ta oán trách nhau, giận hờn nhau khi có sự phản bội, hoặc thiếu trung kiên gắn bó với nhau khi gặp hoạn nạn, thử thách gian nan. Chúa Giêsu đã đi ngược lại cái thường tình đó của loài người. Chúa bị phản bội, bị chối từ, bị lăng mạ, bị đánh đập tàn nhẫn trước khi bị treo trên thập tự và chết tất tưởi. Nhưng khi Người từ cõi chết sống lại, Chúa đã không một lời oán giận ai, không hài tội ai về những đối xử tàn tệ của của họ đối với Người. Những kẻ đóng đinh Người vào thập giá thì Chúa đã tha thứ ngay cho chúng trước khi Người tắt hơi thở cuối cùng. Đối với các môn đệ đã chây trốn và riêng Phêrô đã “chối Thầy” thì Chúa chỉ có những lời đầy yêu thương, khoan dung như “Bằng an cho anh em” (Jn 20:19) mổi khi Người hiện ra với các ông. Hơn thế nữa Chúa còn đặt Phêrô làm Tông Đồ Truởng để “ chăn dắt các chiên của Thầy” như chúng ta đọc thấy trong Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay. Cử chỉ này cuả Chúa thật bất ngờ cho Phêrô và khiến chúng ta phải suy nghĩ thêm nữa về luợng khoan dung khôn luờng cuả Chúa.

Thật vậy, Chúa đã đối xử đại lượng với các môn đệ, đặc biệt với Phêrô và những kẻ đã đóng đinh Chúa cũng như rất khoan dung đối với mọi nguời chúng ta; vì có biết bao lần chúng ta cũng đã chối từ, đã phản bội, đã đóng đinh Chúa khi chúng ta lỡ sa phạm tội, nhưng Chúa đã tha thứ hết để chấp nhận chúng ta cho đến giờ này.

Nếu Chúa đã làm gương tốt cho chúng ta về hòa giải, yêu thương và tha thứ như vậy, thì liệu chúng ta có nên chứng tỏ niềm tin và lòng mến của chúng ta đối với Người bằng cách tha thứ và hòa giải với nhau để có thể yêu thương nhau thực sự như Chúa đòi hỏi không ? Nếu chưa minh chứng được Đức Tin cách cụ thể như vậy thì chúng ta vẫn còn “yếu” hay chưa tin Chúa đủ như Tôma đã đòi phải được “xem thấy dấu đinh ở tay Người và đặt bàn tay vào cạnh sườn Người” thì mới tin là Chúa đã sống lại thật. Chúng ta không cần xem thấy Chúa hiện ra nhãn tiền rồi mới tin có Chuá.

Không thấy nhưng vẫn tin, vẫn sống những đòi hỏi của Đức Tin cách cân xứng, thì mới là tin thật và đó chính là điều Chúa mong đợi nơi mỗi người chúng ta ngày nay vì “Phúc cho những người không thấy mà tin” (Jn 20:29).