Sau biến cố đau thương của Dân Tộc - 30.4.1975 - người Việt Nam chúng ta trôi dạt khắp nơi trên thế giới. Định cư ở bất cứ nước nào đều phải học tiếng của nước ấy.
Lúc đầu chúng ta nghe hiểu thì ít, nói sai thì nhiều và thường thì ngần ngại không dám mở miệng nói vì tự biết vốn liếng ngoại ngữ của mình. Nhưng đa số trong chúng ta đều ý thức được tầm mức quan trọng và sự cần thiết của ngôn ngữ nên đã phải hạ quyết tâm: Phải cố gắng, phải tiếp tục, phải tập luyện.
Một em bé không phải tự nhiên biết cầm đũa ăn cơm, một học sinh muốn sử dụng thạo chương trình điện toán phải tập luyện. Trong thời chiến tranh, các quân trường Việt Nam đều có những câu châm ngôn và có những câu đã được phổ nhạc như: "Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu". Vậy để có kinh nghiệm, chúng ta phải luyện tập, phải lặp đi lặp lại, phải từng trải. "Có luyện tập mới thành tài hoặc có công mài sắt có ngày nên kim".
Câu nói: "Kinh nghiệm đức tin" nghe có vẻ thời trang, nhưng thực sự để có một đức tin vững mạnh chúng ta phải tập luyện thường xuyên. Chúng ta thường than thở với nhau: Rõ chán, sống ở cái xứ văn minh nầy càng ngày đức tin càng lung lay yếu kém! Làm thế nào để tập luyện đức tin? Làm thế nào để có kinh nghiệm về Thiên Chúa, Đấng thiêng liêng?
Kinh Thánh không dạy chúng ta "sống đức tin" bằng lý thuyết, nhưng đưa ra những trường hợp cụ thể, điển hình là Phêrô và các bạn chài lưới của ông trong bài Tin Mừng của Chủ Nhật thứ Ba Sau Phục Sinh... Các ông đã sống lăn lộn với Chúa trong suốt ba năm, thế mà hôm nay trên bờ hồ Tibêria, các ông không nhận ra Ngài. Mãi cho đến khi Ngài bẻ bánh và đưa cá, họ mới thốt lên "Chính Chúa đó".
Trong đời sống đạo, đôi lúc đức tin bị lung lay, chúng ta ta thường có cảm nghĩ Chúa ở xa quá. Bà thánh Catarina, một hôm bị cám dỗ về đức tin rất nặng, hôm sau được Chúa hiện ra, bà hờn dỗi Chúa: "Hôm qua, con đã đau khổ chiến đấu thì Chúa đã ỏ đâu?". Chúa Giêsu trả lời: "Cha ở trong con".
Chúng ta đã không gặp Chúa, có thể: chúng ta thiếu cầu nguyện hằng ngày, không thường xuyên tham dự thánh lễ Chủ Nhật, không siêng năng lãnh nhận các bí tích, có thể không đủ can đảm tuân giữ những đòi hỏi của Phúc Âm trong một xã hội bị tục hóa nầy.
Thực tế hơn nữa, trên mình, trên xe, trong nhà chúng ta có dấu chỉ nào chứng minh mình là những Kitô hữu không?Chúa mời gọi chúng ta lên đường làm sứ giả cho Chúa. Ngài kêu mời chúng ta hy sinh, từ bỏ, dấn thân phục vụ và yêu thương anh em không phân biệt màu da, sắc tộc. Thật vinh dự vì Chúa luôn đồng hành với chúng ta: "Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế".
Do đó, để việc truyền giáo được thành công, chúng ta phải lắng nghe tiếng Chúa, không nên cậy sức riêng của mình, đừng tự cao tự đại, nếu không khi thất bại không đạt được ý riêng của mình đâm ra chán nản, cau có, bực tức.
Mục đích chính của chúng ta ở đời nầy là đi tìm Chúa và đem Chúa cho anh em chứ không phải tìm chỗ cao chỗ nhất trong xã hội hay cộng đoàn. Ngoài xã hội thì có phe nầy nhóm nọ, bảo thủ, cấp tiến. Trong chính phủ thì có phe đốl lập. Trong Giáo Hội, chỉ có một phe duy nhất mà Chúa Kitô là đầu, tất cả chúng ta là chi thể của Ngài.
Do đó, nếu chúng ta là những thành phần của thân thể mầu nhiệm là Giáo Hộ thì phải biết lắng nghe tiếng Chúa qua sự điều hành của Giáo Hội hữu hình trong sứ mệnh truyền giáo.
Nếu chúng ta có điều kiện để thay mặt anh chị em, sống gần gũi, hợp tác với tu sĩ, linh mục là những người được Giáo Hội trao ban nhiệm vụ chăn dắt Cộng Đoàn Dân Chúa thì phải nhiệt tình cộng tác với Các Ngài với tinh thần đức tin và sự vâng phục vì trách nhiệm chính là của Các Ngài.
Đừng bao giờ có ý nghĩ sai lầm khi được mời gọi phục vụ, hoặc đề nghị việc nầy việc kia, cho dù những điều đó dưới cái nhìn của mình là đúng là phải nhưng không được thỏa lòng thì phiền hà bực dọc, bất hợp tác và đôi lúc lại tự cho mình là kẻ đối lập, phải phản đối linh mục nầy tu sĩ nọ.
Cộng Đoàn Dân Chúa không phải là địa bàn chính trị, phe nhóm tự do hay lao động, đối lập...đây là một cộng đoàn yêu thương mà mọi thành phần đều hợp tác cố gắng làm cho nước Chúa được hiển trị, danh Ngài được cả sáng. Khi có cơ hội phục vụ hay cộng tác với hàng giáo sĩ tu sĩ trong sứ mệnh truyền giáo chúng ta nên đặt để hồn tông đồ vào trong công tác hay trách nhiệm nhận lãnh từ Giáo Hội.
Bài học của Quê Hương và Giáo Hội Việt Nam đau khổ còn đó và các Cộng Đoàn Việt Nam ở hải ngoại hiện nay không thiếu gì những sự xích mích và thiếu sự hiệp nhất. Nó phát hiện trên nhiều bình diện, nó nằm ngay trong thành phần của mỗi Cộng Đoàn, giữa anh em với nhau, hoặc giữa Ban Thường Vụ hay Ban Mục Vụ Cộng Đoàn Dân Chúa với Linh mục Quản Nhiệm hay Linh mục Tuyên Úy.
Đôi lúc chia rẽ giữa cha nầy với cha khác... Mối tương quan giữa Linh mục Quản Nhiệm và Cộng Đoàn là mối tương quan đầu với thân thể, theo phẩm trật và sự hiệp thông. Mối tương quan "Đầu với thân thể" nầy đòi hỏi nơi người tín hữu đức vâng lời, đồng thời cũng đòi hỏi nơi vị chủ chăn tình thương lớn lao.
Trong những ngày nầy chúng ta hồi tưởng lại biến cố có một không hai của lịch sử Dân Tộc và Giáo Hội Việt Nam. Trên 2 triệu đồng bào đã liều chết ra đi, trong số nầy có hơn nửa triệu là Công Giáo. 29 năm qua buồn tủi và chờ đợi và cũng trong 29 năm nầy chúng ta đã chứng tỏ cho thế giới thấy khả năng và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam ở hải ngoại đã giúp chúng ta thành công trong nhiều lãnh vực kinh tế, thương mãi, học vấn chuyên nghiệp. Chúng ta đã chứng minh cho thế giới thấy ý chí quật cường của tổ tiên để lại trong vấn đề bảo vệ văn hóa, xã hội và tôn giáo ở hải ngoại.
Với đức tin cổ truyền chúng ta đã xây dựng lại được những cộng đoàn từ nhỏ đến lớn tùy khả năng và phương tiện. Các Cộng Đoàn đã trưởng thành và sống hòa nhịp với những nghi thức của năm Phụng Vụ như ở Việt Nam. Mỗi lần hồi tưởng lại biến cố 30.4.1975 là dịp để nhìn lại một năm nữa đã qua đi. Nhìn về quá khứ để quyết tâm sửa sai, rút kinh nghiệm lỗi lầm để làm một buớc tiến mới tùy theo trách nhiệm của mỗi người. Chúng ta đóng góp những ý kiến phương thức canh tân và thích nghi mới cho đường hướng mục vụ mới ở hải ngoại cho hợp thời mới và hoàn cảnh mới mà không vong bản Việt Nam.
Đây là phương thức tổng hợp dung hòa giữa hai nền văn hóa, để đối phó với những nhu cầu mới của con cháu và chính chúng ta đã và đang bước những năm đầu tiên của thế kỷ 21.
Chúng ta có trách nhiệm nặng nề đối với tương lai của Giáo Hội và Quê Hương Dân Tộc. Tương lai đây là thế hệ đàn em, con cháu đang sống và hội nhập vào những đất nước đa văn hóa. Tương lai đây là một Giáo Hội Việt Nam trưởng thành nằm giữa lòng dân tộc Việt Nam đã bị lung lay tận gốc rễ sau 30 năm nội chiến tương tàn và 29 năm nằm dưới chế độ vô thần.
Là con cái của Giáo Hội Mẹ Việt Nam tha hương chúng ta hãy sống đùm bộc và yêu thương và cùng nhau kiến tạo một Cộng Đoàn Việt Nam cho phù hợp với hoàn cảnh hiện nay, trong tinh thần hợp tác chân thành với những vị Mục Tử Việt Nam mà Giáo Hội gởi đến coi sóc các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam rải rác đó đó đây ở hải ngoại.
Lúc đầu chúng ta nghe hiểu thì ít, nói sai thì nhiều và thường thì ngần ngại không dám mở miệng nói vì tự biết vốn liếng ngoại ngữ của mình. Nhưng đa số trong chúng ta đều ý thức được tầm mức quan trọng và sự cần thiết của ngôn ngữ nên đã phải hạ quyết tâm: Phải cố gắng, phải tiếp tục, phải tập luyện.
Một em bé không phải tự nhiên biết cầm đũa ăn cơm, một học sinh muốn sử dụng thạo chương trình điện toán phải tập luyện. Trong thời chiến tranh, các quân trường Việt Nam đều có những câu châm ngôn và có những câu đã được phổ nhạc như: "Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu". Vậy để có kinh nghiệm, chúng ta phải luyện tập, phải lặp đi lặp lại, phải từng trải. "Có luyện tập mới thành tài hoặc có công mài sắt có ngày nên kim".
Câu nói: "Kinh nghiệm đức tin" nghe có vẻ thời trang, nhưng thực sự để có một đức tin vững mạnh chúng ta phải tập luyện thường xuyên. Chúng ta thường than thở với nhau: Rõ chán, sống ở cái xứ văn minh nầy càng ngày đức tin càng lung lay yếu kém! Làm thế nào để tập luyện đức tin? Làm thế nào để có kinh nghiệm về Thiên Chúa, Đấng thiêng liêng?
Kinh Thánh không dạy chúng ta "sống đức tin" bằng lý thuyết, nhưng đưa ra những trường hợp cụ thể, điển hình là Phêrô và các bạn chài lưới của ông trong bài Tin Mừng của Chủ Nhật thứ Ba Sau Phục Sinh... Các ông đã sống lăn lộn với Chúa trong suốt ba năm, thế mà hôm nay trên bờ hồ Tibêria, các ông không nhận ra Ngài. Mãi cho đến khi Ngài bẻ bánh và đưa cá, họ mới thốt lên "Chính Chúa đó".
Trong đời sống đạo, đôi lúc đức tin bị lung lay, chúng ta ta thường có cảm nghĩ Chúa ở xa quá. Bà thánh Catarina, một hôm bị cám dỗ về đức tin rất nặng, hôm sau được Chúa hiện ra, bà hờn dỗi Chúa: "Hôm qua, con đã đau khổ chiến đấu thì Chúa đã ỏ đâu?". Chúa Giêsu trả lời: "Cha ở trong con".
Chúng ta đã không gặp Chúa, có thể: chúng ta thiếu cầu nguyện hằng ngày, không thường xuyên tham dự thánh lễ Chủ Nhật, không siêng năng lãnh nhận các bí tích, có thể không đủ can đảm tuân giữ những đòi hỏi của Phúc Âm trong một xã hội bị tục hóa nầy.
Thực tế hơn nữa, trên mình, trên xe, trong nhà chúng ta có dấu chỉ nào chứng minh mình là những Kitô hữu không?Chúa mời gọi chúng ta lên đường làm sứ giả cho Chúa. Ngài kêu mời chúng ta hy sinh, từ bỏ, dấn thân phục vụ và yêu thương anh em không phân biệt màu da, sắc tộc. Thật vinh dự vì Chúa luôn đồng hành với chúng ta: "Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế".
Do đó, để việc truyền giáo được thành công, chúng ta phải lắng nghe tiếng Chúa, không nên cậy sức riêng của mình, đừng tự cao tự đại, nếu không khi thất bại không đạt được ý riêng của mình đâm ra chán nản, cau có, bực tức.
Mục đích chính của chúng ta ở đời nầy là đi tìm Chúa và đem Chúa cho anh em chứ không phải tìm chỗ cao chỗ nhất trong xã hội hay cộng đoàn. Ngoài xã hội thì có phe nầy nhóm nọ, bảo thủ, cấp tiến. Trong chính phủ thì có phe đốl lập. Trong Giáo Hội, chỉ có một phe duy nhất mà Chúa Kitô là đầu, tất cả chúng ta là chi thể của Ngài.
Do đó, nếu chúng ta là những thành phần của thân thể mầu nhiệm là Giáo Hộ thì phải biết lắng nghe tiếng Chúa qua sự điều hành của Giáo Hội hữu hình trong sứ mệnh truyền giáo.
Nếu chúng ta có điều kiện để thay mặt anh chị em, sống gần gũi, hợp tác với tu sĩ, linh mục là những người được Giáo Hội trao ban nhiệm vụ chăn dắt Cộng Đoàn Dân Chúa thì phải nhiệt tình cộng tác với Các Ngài với tinh thần đức tin và sự vâng phục vì trách nhiệm chính là của Các Ngài.
Đừng bao giờ có ý nghĩ sai lầm khi được mời gọi phục vụ, hoặc đề nghị việc nầy việc kia, cho dù những điều đó dưới cái nhìn của mình là đúng là phải nhưng không được thỏa lòng thì phiền hà bực dọc, bất hợp tác và đôi lúc lại tự cho mình là kẻ đối lập, phải phản đối linh mục nầy tu sĩ nọ.
Cộng Đoàn Dân Chúa không phải là địa bàn chính trị, phe nhóm tự do hay lao động, đối lập...đây là một cộng đoàn yêu thương mà mọi thành phần đều hợp tác cố gắng làm cho nước Chúa được hiển trị, danh Ngài được cả sáng. Khi có cơ hội phục vụ hay cộng tác với hàng giáo sĩ tu sĩ trong sứ mệnh truyền giáo chúng ta nên đặt để hồn tông đồ vào trong công tác hay trách nhiệm nhận lãnh từ Giáo Hội.
Bài học của Quê Hương và Giáo Hội Việt Nam đau khổ còn đó và các Cộng Đoàn Việt Nam ở hải ngoại hiện nay không thiếu gì những sự xích mích và thiếu sự hiệp nhất. Nó phát hiện trên nhiều bình diện, nó nằm ngay trong thành phần của mỗi Cộng Đoàn, giữa anh em với nhau, hoặc giữa Ban Thường Vụ hay Ban Mục Vụ Cộng Đoàn Dân Chúa với Linh mục Quản Nhiệm hay Linh mục Tuyên Úy.
Đôi lúc chia rẽ giữa cha nầy với cha khác... Mối tương quan giữa Linh mục Quản Nhiệm và Cộng Đoàn là mối tương quan đầu với thân thể, theo phẩm trật và sự hiệp thông. Mối tương quan "Đầu với thân thể" nầy đòi hỏi nơi người tín hữu đức vâng lời, đồng thời cũng đòi hỏi nơi vị chủ chăn tình thương lớn lao.
Trong những ngày nầy chúng ta hồi tưởng lại biến cố có một không hai của lịch sử Dân Tộc và Giáo Hội Việt Nam. Trên 2 triệu đồng bào đã liều chết ra đi, trong số nầy có hơn nửa triệu là Công Giáo. 29 năm qua buồn tủi và chờ đợi và cũng trong 29 năm nầy chúng ta đã chứng tỏ cho thế giới thấy khả năng và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam ở hải ngoại đã giúp chúng ta thành công trong nhiều lãnh vực kinh tế, thương mãi, học vấn chuyên nghiệp. Chúng ta đã chứng minh cho thế giới thấy ý chí quật cường của tổ tiên để lại trong vấn đề bảo vệ văn hóa, xã hội và tôn giáo ở hải ngoại.
Với đức tin cổ truyền chúng ta đã xây dựng lại được những cộng đoàn từ nhỏ đến lớn tùy khả năng và phương tiện. Các Cộng Đoàn đã trưởng thành và sống hòa nhịp với những nghi thức của năm Phụng Vụ như ở Việt Nam. Mỗi lần hồi tưởng lại biến cố 30.4.1975 là dịp để nhìn lại một năm nữa đã qua đi. Nhìn về quá khứ để quyết tâm sửa sai, rút kinh nghiệm lỗi lầm để làm một buớc tiến mới tùy theo trách nhiệm của mỗi người. Chúng ta đóng góp những ý kiến phương thức canh tân và thích nghi mới cho đường hướng mục vụ mới ở hải ngoại cho hợp thời mới và hoàn cảnh mới mà không vong bản Việt Nam.
Đây là phương thức tổng hợp dung hòa giữa hai nền văn hóa, để đối phó với những nhu cầu mới của con cháu và chính chúng ta đã và đang bước những năm đầu tiên của thế kỷ 21.
Chúng ta có trách nhiệm nặng nề đối với tương lai của Giáo Hội và Quê Hương Dân Tộc. Tương lai đây là thế hệ đàn em, con cháu đang sống và hội nhập vào những đất nước đa văn hóa. Tương lai đây là một Giáo Hội Việt Nam trưởng thành nằm giữa lòng dân tộc Việt Nam đã bị lung lay tận gốc rễ sau 30 năm nội chiến tương tàn và 29 năm nằm dưới chế độ vô thần.
Là con cái của Giáo Hội Mẹ Việt Nam tha hương chúng ta hãy sống đùm bộc và yêu thương và cùng nhau kiến tạo một Cộng Đoàn Việt Nam cho phù hợp với hoàn cảnh hiện nay, trong tinh thần hợp tác chân thành với những vị Mục Tử Việt Nam mà Giáo Hội gởi đến coi sóc các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam rải rác đó đó đây ở hải ngoại.