Cây Nến, Ngọn Lửa.

Nến đi chung với lửa. Trong ngọn lửa của cây nến, người ta tin rằng tất cả họat động của thiên nhiên đang vận hành. Sáp, tim nến, lửa, không khí hợp nhất trong ngọn lửa đang cháy, linh động và thiêu đốt, thắp sáng và tàn lụi, sắc màu và bóng tối. ý nghĩa những đối lập thật lớn lao. Vì thế, nến tập trung trong mình nó những biểu tượng thật quan trọng.

1. Cây Nến:

Nến biểu trưng sự sống hạnh phúc:

Bên bờ sông Hằng vào những ngày lễ hội Hoa Đăng, các thiếu nữ thắp nến đời mình, đi từ nhà ra bến sông, với hai tay che chắn gió khỏi thổi tắt vào giữa đêm thâm u, các thiếu nữ nâng niu ngọn nến đời mình, những ngọn nến được cắm trên mẩu bẹ chuối, thả trôi trên sông. Số phận của đời mình tùy thuộc vào ngọn nến tin yêu ấy. Các thiếu nữ ngắm nhìn cây nến mình vừa thả trên sông cho đến khi khuất tầm mắt, ngọn lửa nào thiêu đốt hết cây nến, thì báo hiệu điềm lành hạnh phúc, ngọn lửa nào tắt giữa chừng, tín hiệu của những ngày không vui. Bao nhiêu niềm mơ ước hạnh phúc ký gửi vào ngọn nến ấy, cho nên các thiếu nữ đã chuẩn bị thật kỹ trước khi ra sông thả đèn. Những ngọn nến lung linh sắc mầu cùng thả trên sông làm nên lễ hội của mừng vui. Sự mừng vui gói trọn trong đó tuổi đời dâng hiến cho bầu trời, bầu trời ấy là Đấng Tối Cao đón nhận để rồi ban lại hạnh phúc. Trong niềm tin ấy, họ tin rằng Đấng Tối Cao vừa là bầu trời và cũng là Tổ Ấm, Người lấy âm thanh, màu sắc, thanh hương để ấp ủ tâm hồn. Bằng Tình Yêu, Người biến đổi sáp kia nên ngọn nguồn hơi ấm và tin yêu. Thế nên, các thiếu nữ bên Sông Hằng đã chẳng đem thắp sáng cho chàng trai nào trước khi dâng ngọn đèn của mình cho bầu trời. Ta có thể nghe những dòng tâm tư của các thiếu nữ ấy qua bài thơ số 64, trong tập thơ Lời Dâng của Tagore: “Lúc chiều tối tịch mịch tôi hỏi nàng: “Trinh nữ ơi, đèn của em thắp sáng cả rồi, vậy còn mang đèn đi đâu nữa? Nhà tôi tối om, cô quạnh lắm, cho tôi mượn đèn nào!” Ngước mắt thâm u nhìn tôi, nàng đứng nghi ngờ một lúc. Cuối cùng nàng nói: “Em đem đèn dâng bầu trời”. Tôi đứng ngắm ngọn đèn cháy vô ích trong khỏang không”. Đối với chàng trai thì vô ích, nhưng với nàng thiếu nữ thì đầy một lòng tin tưởng: “Nơi ấy, Bầu Trời vô hạn trải rộng để linh hồn bay bổng vào trong, vẫn ngự trị vẻ huy hòang nguyên vẹn, trắng tinh. Ở đấy không có ngày đêm, không có hình thù, mầu sắc và chẳng bao giờ có lấy một lời” (Bài 67, Lời Dâng). Giải thoát là chốn ấy, trong cõi đời trần tục này, cần có những giờ phút linh thiêng để dâng hiến cho bầu trời khối lòng tinh bạch, lời nguyện cầu của hương kinh, niềm khát khao giữa miền u tối, để thấy niềm hạnh phúc.

Ngọn Nến biểu trưng sự tin yêu:

nayong coiaachaLòng tin yêu là gì, nếu chẳng phải là son sắt vẫn thẳng hướng lên bầu trời sau những trận gió đời làm ngả nghiêng. Người Tây Phương ví sự mềm mại, hướng lên ấy như cây sậy, nhà hiền triết Pascal nói đến “Cây sậy suy tư” hoặc cây sậy của La Fontaine. Sự mảnh dẻ và tính uyển chuyển của cây sậy cũng như của ngọn nến, theo người Ấn là mang hình ảnh trục thế giới, gần với cây sậy hướng trục sinh ra từ nước nguyên thủy của Nhật Bản. Bachelard nhận định: “Ngọn lửa là một đường thẳng đứng kiên cường và mong manh. Một làn gió nhẹ làm ngọn lửa lung lay, nhưng sau đó liền đứng thẳng trở lại. Một sức mạnh hướng thượng lại tăng thêm sức mạnh cho nó”. Ngọn lửa trên cây nến thật kỳ diệu, tuy mong manh ví tựa như thân phận con người, thế nhưng, những cản trở không hề làm cho nó bị bẻ cong, một sức mạnh hướng thẳng lúc nào cũng vực nó đứng dậy.

Người ta thường thắp trên chiếc bánh sinh nhật những ngọn nến, mỗi ngọn nến là kỷ niệm của từng năm đi vào quá khứ, vẫn còn đứng vững, vẫn còn thắp sáng những kỷ niệm, bao lần ngã rồi lại đứng lên. Những kỷ niệm ấy thắp sáng trên nền cuộc đời, nếu có thổi tắt đi bằng hơi thở của cuộc sống của hiện tại, cũng chỉ tỏ niềm mong ước, đẩy những vết bỏng nhỏ trong cuộc đời vào những ngày quên lãng. Như vậy, người ta có thể lại nghe trong đó một bài hát dễ thương của Augustin: “Khách đường mới, hát khúc tân ca, đừng hát những bản nhạc cũ, tình cũ làm chi”. Quên đi một quá khứ của những vết bỏng là chữa lành cho một tương lai không còn vết thương đau. Đó là ước mơ, đó là thành tựu kỳ diệu khi thắp nên cây nến ngày sinh nhật và thổi tắt nó bằng hơi thở sự sống siêu đẳng vượt xa bóng tối.

2. Ngọn lửa:

Lửa thiêu đốt, lửa thanh luyện:

Lửa thiêng nào Người đã thắp vào đời từ lúc khai nguyên thủa hồng hoang. Ngọn lửa biểu thị sự sống cho các bộ lạc, rồi trong các dân tộc và biểu thị niềm tin trong tôn giáo. Lửa thiêng đối với giáo thuyết đạo Hindu được xưng là Agni, Indra và Surya, nghĩa là của các thế giới trần gian, trung gian và Trời. Lửa thiêng ấy còn là Lửa Xuyên Thấu hoặc Lửa hấ p thụ (vaishvanara) và Lửa hủy diệt.

Lửa ứng với Phương Nam, màu đỏ, mùa hè và trái tim theo Kinh Dịch. Lửa ấy vừa là lửa sưởi ấm vừa là lửa thiêu đốt, vừa là xoa dịu vừa là giận dữ, vừa là linh thiêng vừa là tinh thần.

Lửa có tính cách tẩy uế và làm cho tái sinh. Nấu chảy và khuôn đúc lại. Trong thuật Yoga, lửa là hình thức thanh luyện nội tâm, sự luyện đan. Đối với Đức Phật, lửa là biểu trưng cho tinh thần xuyên suốt, dứt bỏ vỏ bọc bên ngoài, là chính sự giác ngộ.

Lửa có thể tự trời, nhưng cũng có thể của quỷ dữ. Lửa của Trời để thanh luyện, lửa của quỷ mang tính trả thù, đặc trưng tính phản bội của Lucifer. Lửa của trời thanh luyện để tái sinh, lửa của quỷ đốt thiêu mầm mống tái sinh vĩnh viễn.

Trong các tôn giáo sự tẩy uế bằng lửa rất thông thường, nó biểu trưng trong nền văn hóa nông nghiệp sau vụ mùa thu họach người ta đốt cháy những gì còn lại trên cánh đồng, để bắt đầu vào mùa sau; trong văn hóa du mục, người ta dùng lửa để chuyển hóa các con vật đầu lòng dâng lên trời cao để xin cho mùa sanh sản mới.

Lửa vận hành, di chuyển:

Lửa dẫn đường và chuyển kiếp: Dân Do Thái đi dưới Cột Lửa ban đêm dẫn đường trong hành trình Xúât Hành, Elia trên chiếc xe rực lửa về trời, lửa trong nghi thức hỏa táng.

Là phương tiện vận chuyển từ người sống cho người chết, người ta đốt những vàng mã để chuyển hóa, đốt thực phẩm để cung cấp cho người chết.

Lửa chuyển hóa cũng là lửa để tẩy uế để nên thanh sạch, đốt những gì là bợn nhơ, xua tan bóng tối để nên nguồn thanh khí và ánh sáng. Lửa chuyển sức sống cho những con người đang sống, lửa làm nước có thể ở chỗ dơ bẩn bốc thành hơi nước thanh khiết, hơi nước tích tụ thành mây và mây kéo vần vũ làm nên mưa. Những cơn mưa tái hồi cho những sự sống chết khô vì lửa làm khô hạn. Công đọan chuyển hóa này bao gồm chức năng tẩy uế và trở nên nguồn sự sống mới. Chu kỳ của sinh rồi lại sinh được biểu lộ qua sự chuyển hóa ấy.

Lửa trong tiếng Phạn đồng nghĩa với trong sạch, biểu hiện cho ý chí cao cường như ngọn núi và thanh cao như ngọn lửa chiếu sáng. Lửa mang ý nghĩa của cuộc đời thoát tục, đẹp tựa hoa sen mọc giữa đầm lầy.

3. Nghi thức thắp nến:

Các cổ thư của Ailen chỉ nhắc về ngày hội Beltaines, lửa của Bel, vào ngày mồng Một Tháng Năm, để đánh dấu khởi đầu mùa hè. Các vùng văn hóa du mục, người ta thắp ngọn lửa để đàn gia súc đi qua. Việc đi qua lửa ấy có tính ngăn chặn tiêu diệt mầm bệnh dịch, bảo đảm sức khỏe cho đàn gia súc.

Nghi lễ lửa mới của người Chortis cử hành trong ngày lễ giao mùa, trước ngày gieo hạt, người ta châm lên một giàn thiêu lớn đốt cháy những trái tim chim và những động vật khác. Trái tim tượng trưng cho các thần linh mà trong thần thoại về Popol - Vuh, là hai anh hùng song sinh chịu chết trên giàn hỏa thiêu, sau đó hóa thân thành những đọt ngô xanh. Như vậy, khi cử hành lễ lửa mới này người ta muốn diễn tả ý nghĩa của việc chết đi và sống lại.

Đối với dân tộc K’ Ho, người Lạch vùng cao nguyên Lang Bian, bếp lửa mang một ý nghĩa rất quan trọng. Bếp lửa ngoài công dụng nấu chín thực phẩm còn là một lò sưởi, còn là nơi quy tụ cả gia đình để chia sẻ với nhau bữa ăn cũng như lửa ấm. Lễ hội bao giờ cũng gắn bó với nghi thức thắp lửa thiêng. Lửa xua đuổi thú dữ, đẩy xua muỗi mòng, tạo bầu khí ấm áp, tạo nên những gặp gỡ… Không gia đình nào là không có bếp lửa. Những người xưa trong làng bao giờ cũng muốn ở gần bếp lửa, cho dù nhà có thể xây sửa sang trọng như thế nào. Bếp lửa, đối với họ còn là gia đình, một gia đình hạnh phúc là một gia đình bếp lửa giữ được lửa cháy.

Trong nghi thức làm phép Lửa mới, người Kitô hữu được mời gọi: “Trong Đêm Thánh này, Đêm Đức Giêsu, Chúa chúng ta, đã hòan tất mầu nhiệm vượt qua, tức là từ cõi chết sống lại, Hội Thánh kêu mời các con cái ở khắp nơi trên hòan cầu cùng họp lại mà canh thức cầu nguyện ”. Lời mời gọi này bao gồm các ý nghĩa biểu trưng của lửa trong các nền văn hóa, thật sự là cần thiết để các nền văn hóa ấy được Đức Giêsu Kitô mang tất cả vào trong cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Người, ở đó một nhân loại mới được khai sinh, một nền văn hóa mới là cùng đích cho các nền văn hóa hướng tới được hòan thành.

Sự hòan thành trong Đức Giêsu Kitô làm nên những khao khát bùng lên như trong Ánh Lửa Đêm Phục Sinh: “Lạy Chúa, Chúa đã sai con Một đến giải ánh vinh quang rực rỡ của Chúa vào lòng tín hữu. xin thánh hóa ngọn lửa mới này, và trong suốt thời gian mừng Lễ Vượt Qua, xin cho niềm khao khát Nước Trời cũng bừng lên thiêu đốt lòng chúng con, và thanh tẩy muôn vàn tội lỗi, để mai sau chúng con xứng đáng vào thiên quốc tham dự lễ ánh sáng muôn đời”. Lửa ở đây là lửa thử thách và cũng là lửa an bình, thử thách như trong Lễ Vượt Qua chỉ là nhất thời, bình an, một tặng thưởng vĩnh viễn. Cũng như Lửa có biểu trưng là phương tiện vận chuyển, mọi sự vận chuyển của các nền văn hóa bằng lửa, được tháp nhập vào trong Lửa Mới Phục Sinh này để cùng được tháp nhập để nên một nhờ Đức Kitô.

Cây Nến trong Đêm Vọng Phục Sinh tượng trưng là Đức Kitô Phục Sinh, Ngài đã chiến thắng tử thần là bóng tối, ánh sáng của đêm này xé tan màn đêm u tối, là ánh sáng muôn ngàn đời như trong bài Exsultet diễn tả: “Đêm cực thánh khử trừ muôn tội vạ, đêm vạn năng thanh tẩy hết mọi lỗi lầm, biến tội nhân trở thành người công chính, đem niềm vui cho tâm hồn mang nặng sầu thương. Đêm tiêu diệt hận thù, đêm giải hòa bất thuận, khuất phục mọi quyền uy”.

Mọi người trong đêm này, trên cây cầm cây nến thắp từ ánh lửa Cây Nến Phục Sinh, cùng rước theo sau Cây Nến Phục Sinh. Theo các tục lệ thửa xưa, những người trinh nữ cầm trên tay một cây nến sáp được thắp sáng, theo Guillaume Durand (thế kỷ XIII), giải nghĩa tục lệ này, để chứng tỏ rằng họ cũng noi gương theo các trinh nữ được diễn tả trong Phúc Âm (Mt 25, 1 - 13) luôn sẵn sàng đón đợi tân lang là Thiên Chúa. Lễ thức này theo tập tục của người Hy Lạp lẫn người La mã thực hành: “cô dâu với một đòan người tháp tùng long trọng trong ánh đuốc, được dẫn từ nhà mình đến nhà người chồng tương lai, những người đàn ông đã có gia đình cũng cầm đuốc, tục lệ nay vẫn còn. Ngày xưa tại Hy Lạp, người ta dâng nến sáp cho các thần linh cõi âm. Đức Giáo Hòang Phaolô VI, trong khi tiếp các nữ tu ngày 2 - 2 - 1973, ngài đã đưa ý nghĩa này đến vị trí quan trọng hơn: “Cây nến sáp biểu trưng cho nguồn sáng tinh khiết và nguyên thủy mà các nữ tu phải soi sáng cho mình bằng ánh sáng ấy. Thẳng tắp và mềm mại, cây nến sáng là hình ảnh của sự trong sáng, vô tội. Cháy lên và tỏa sáng, nó biểu thị cho cuộc sống được hiến dân tòan vẹn cho Tình Yêu duy nhất, nồng cháy, tòan trị…Cuối cùng, cây nến sáp tự tiêu hao mình trong thinh lặng, giống như cuộc đời của các con tự hao mòn vì mình đã dâng hiến trái tim, để tháp nhập cuộc đời hy sinh của các con vào cuộc tử nạn của Chúa Giêsu trên Thánh Giá; trong tình yêu đau khổ và hạnh phúc, không tàn lụi trong ngày cuối cùng mà sẽ còn tiếp tục cháy rực rỡ mãi mãi trong cuộc hội ngộ vĩnh hằng với Đấng Phu Quân”. Như vậy, cầm nến trên tay, bước theo cây nến Phục Sinh còn là biểu lộ sự tòan hiến của đòan người theo Chúa Kitô. Ước mong là ánh sáng chiếu vào trong nhân loại, thắp sáng những bóng tối trong các lãnh vực để gầy lên những hy vọng.

Bài ca Exsultet nói lên những ý nghĩa quan trọng đó trong ánh lửa Đêm Phục Sinh, là “được đốt lên để tán tụng Cha”, “được phân chia nhưng không hề hao mòn”, “lửa xua đuổi bóng tối”, “để nhập hội hoa đăng cùng với muôn vàn tinh tú” và “cháy mãi lúc xuất hiện Sao Mai: Một vì sao không bao giờ lặn, là Đức Kitô, Con yêu quý của Cha, Đấng từ cõi chết sống lại, đem ánh sáng thanh bình soi chiếu vạn dân”.

Thắp lên niềm tri ân, cây nến ngọn lửa, biểu trưng của cuộc đời đầy khát khao được cháy bỏng, được đốt cháy, nấu chảy để được khuôn đúc lại trong Đức Giêsu Kitô. Đây là khát vọng của một nhân loại đang xa rời Chúa, một nhân loại đang bước đi trong sự chen lẫn Ánh Sáng vá bóng tối. Xin cho mỗi chúng con trở thành từng cây nến thắp sáng tin yêu nơi chúng con hiện diện.