Tung hô Tin Mừng x. Ga 20,29

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a.

Chúa nói : "Này anh Tô-ma / vì đã thấy Thầy / nên anh mới tin,

Ai không thấy mà tin / mới là người có phúc." Ha-lê-lui-a.

Bài Tin Mừng Ga 20,19-31

Tin vào sự phục sinh của Đức Giê-su không phải là việc dễ dàng đối với bất cứ ai. Chúng ta tin dựa trên chứng từ của các Tông Đồ. Ngay cả các môn đệ đầu tiên được Đức Giê-su hiện ra sau khi sống lại từ cõi chết và trò chuyện, cũng phải nhận ra Người trong đức tin.

B. GIÚP HIỂU CÁC BÀI ĐỌC

Bài đọc 1 (Cv 5,12-16)

Bản văn thuộc loại bản "tóm tắt", tổng hợp lại tất cả những lần các Tông Đồ chữa lành cho một số bệnh nhân. Giống như Đức Giê-su và nhân danh Người, các môn đệ có khả năng làm nhiều dấu lạ điềm thiêng. Ngay cả cái bóng của Phê-rô cũng đủ để chữa lành những ai mà cái bóng của ông phủ lên, điều mà ta chưa bao giờ nghe nói trong ba năm rao giảng Tin Mừng của Đức Giê-su. Những phép lạ của các Tông Đồ là tiếp tục công việc cứu nhân độ thế của Thầy mình : chữa lành các bệnh nhân cách chung, đặc biệt là những người bị thần ô uế ám hại. Đàng khác ta nghe kể rằng số người tin Chúa ngày càng thêm đông. Họ khiến dân chúng thán phục, nhưng vẫn giữ khoảng cách với họ, dường như họ cảm thấy có một sự khác biệt quan trọng. Những lần chữa lành là dấu chỉ mời gọi con người tin vào Thiên Chúa, nhưng ở đây không hề có sự ép buộc mà hoàn toàn tự nguyện.

Bài đọc 2 (Kh 1,9-11a.12-13.17-19)

Tác giả tự giới thiệu bằng cách bắt đầu câu chuyện thị kiến. Ông tên là Gio-an và đang bị lưu đày ở đảo Pát-mô vì làm chứng cho Đức Giê-su. Điều đó xảy ra vào ngày của Chúa, tức là ngày Chúa nhật. Gio-an nhận được lệnh hãy viết ra những gì đã thấy, đã được mặc khải. Ta cần nhớ rằng từ "khải huyền" có nghĩa là "mặc khải", cho ta biết những điều bí ẩn. Đầu tiên, ông nghe một giọng nói giống như thể tiếng kèn, tương tự như ngày xưa ông Mô-sê trên núi Xi-nai : người mà ông thấy sau đó mang dáng vẻ của một "con người" và y phục của Người là y phục của một tư tế và một vị vua. Ngay khi Người nói, Gio-an hiểu rằng Người là Thiên Chúa và ông ngã vật xuống dưới chân Người như chết vậy. Điều Người nói về chính mình chỉ phù hợp với Thiên Chúa : Người là Đầu và là Cuối, là Đấng Hằng Sống, giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ. Đức Giê-su Phục Sinh là Chúa hiện ra với Gio-an đang bị bách hại.

Bài Tin Mừng (Ga 20,19-31)

Việc Đức Giê-su hiện ra với các môn đệ đang tụ họp nhau, có hay không có Tô-ma, xảy ra vào buổi chiều "ngày thứ nhất trong tuần", hoặc tám ngày sau hay là ngày Chúa nhật. Lần hiện ra thứ nhất cho ta thấy Đức Giê-su đến, đứng giữa các môn đệ đang ở trong một ngôi nhà mà tất cả cửa đều đóng kín vì sợ người Do-thái. Ta không biết Người đến lúc nào, nhưng chính là Người vì các vết thương ở chân tay và cạnh sườn xác nhận. Và các môn đệ nhận ra Người là "Chúa", chứ không chỉ là con người đã bị kết án tử hình và bị đóng đinh trên thập giá. Lúc ấy, Đức Giê-su sai các ông ra đi, nghĩa là làm cho các ông trở thành Tông Đồ (từ này có nghĩa là "được sai đi"). Người ban Thần Khí cho các ông, và chính nhờ Người mà từ nay về sau các ông có quyền tha tội. Quả thật, quyền này chỉ dành riêng cho một mình Thiên Chúa. Việc gặp gỡ và nhận biết Đấng Phục Sinh đem lại bình an và niềm vui cho những ai gặp Người.

Lần hiện ra kế tiếp chủ yếu liên quan đến Tô-ma, một trong Nhóm Mười Hai. Ngươi môn đệ này không muốn tin điều các bạn của ông nói rằng họ đã thấy Đức Giê-su. Chúa nhật kế tiếp, Đức Giê-su lại hiện ra một lần nữa, trong một khung cảnh y như lần trước. Người nói thẳng về việc cứng lòng tin của Tô-ma và sẵn sàng cho ông kiểm tra các vết thương của Người. Lập tức Tô-ma quên ngay những lời tuyên bố hùng hồn với các bạn đồng môn, và mạnh mẽ tuyên xưng niềm tin của mình. Đây là lời tuyên xưng đầy đủ nhất và đẹp nhất : "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !" Đức Giê-su bảo : "Phúc thay những người không thấy mà tin" nghĩa là cho tất cả chúng ta. Bản văn đầy đủ những dấu chỉ của đời sống Ki-tô hữu : tập họp vào ngày Chúa nhật, tin vào lời của các nhân chứng, đọc Kinh Thánh để tin rằng Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a và là Con Thiên Chúa và cũng để thông phần vào sự sống của Người.

C. CHIA SẺ LỜI CHÚA (Bài Tin Mừng)

Bài đọc 1, trích từ sách Công vụ Tông Đồ, phác hoạ vài đặc điểm của cộng đoàn sinh ra do lời giảng về Đức Ki-tô Phục Sinh của các Tông Đồ. Càng ngày càng có thêm nhiều người tin theo Chúa : cả đàn ông đàn bà rất đông, và "nhiều dấu lạ điềm thiêng được thực hiện trong dân, nhờ bàn tay các Tông Đồ.

Cũng chính những dấu chỉ được nêu lên trong câu chuyện Tin Mừng liên quan đến nỗi bất hạnh của Tô-ma, một trong Nhóm Mười Hai. Vì ông không thấy Đấng Phục Sinh khi Người hiện ra lần thứ nhất với các môn đệ, nên Tô-ma đã tuyên bố một cách quả quyết : "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." Nhìn xem, chạm đến, kiểm tra : Tô-ma không hài lòng về chứng từ của các bạn, ông đòi hỏi bằng chứng.

Tám ngày sau, Đức Giê-su hiện ra một lần nữa với các môn đệ. Người nói với Tô-ma : "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." Tô-ma nhìn nhận sự thật, nhưng Đức Giê-su nói cho ông biết : "Vì đã thấy Thầy, nên anh đã tin. Phúc thay những người không thấy mà tin." Trong lúc người môn đệ đa nghi đòi hỏi chứng cớ, thì Đức Giê-su cho ông thấy những dấu chỉ về sự phục sinh của Người : sự hiện diện của Người, lời Người nói, ban Thánh Thần để tha tội.

Ý định của tác giả Tin Mừng là nhắc lại rằng chính Đức Giê-su bị đóng đinh, sau khi sống lại từ cõi chết, đã hiện ra với các môn đệ của Người. Giữa ngày thứ Sáu Tuần Thánh và Chúa nhật Phục Sinh, chắc chắn là có sự gián đoạn do cái chết; nhưng có một sự liên tục về phía Thiên Chúa là Đấng chấp nhận lễ hy sinh của Người Tôi Trung rồi ban đầy tràn sự sống cho Người.

Những dấu chỉ của đức tin - Lời được đón nhận và chia sẻ, một cử chỉ huynh đệ, những hoa quả của Thần Khí trong lòng các cộng đoàn của chúng ta, việc cầu nguyện, các bí tích - mà hết thảy mọi người đều thấy, đến nỗi nói cho chính xác thì thực sự không ai tin "mà đã không thấy". Tất cả đều tuỳ thuộc vào cái nhìn của chúng ta đối với con người hoặc biến cố nào đó.