CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH. C

(Ga 20,19-31)

Thưa quý vị,

Phản ứng tự nhiên của tôi khi nghe đọc bài Tin Mừng hôm nay là cảm tạ Thiên Chúa về thái độ của ông Tôma, ông không tin cho đến khi có bằng chứng xác thực và cụ thể. Chúa Phục Sinh đã thương, hiện ra với ông để củng cố đức tin cho ông và chúng ta được chúc phúc vì “không thấy mà tin”. Trình thuật này chỉ có Gioan kể lại, đúng theo nhu cầu của cộng đoàn Ephêsô và may thay của các độc giả thực dụng hôm nay nữa. Chúng ta sống quá xa thời gian với biến cố phục sinh cho nên khó mà dự phần vào ký ức của các nhân chứng đương thời. Thái độ “cứng tin” của ông Tôma thực tiễn và sống động cho nên mang tính thuyết phục cao. Ong rất gần với tâm thức bây giờ, cái chi cũng cần rõ ràng và chính xác. Cả tôi cũng vậy, để tôi vững bụng mà giảng dạy cho anh chị em: “Đấy nhé! Mọi chứng cớ đều hợp nhất, Chúa thực sự đã sống lại!”

Tuy nhiên, các câu chuyện trong Phúc Âm không được rõ ràng đến thế, trái lại rất lộn xộn và khác nhau: Các chi tiết không cùng một bố cục, người kể thế này, kẻ khác nói thế khác. Chung quy là bốn Phúc Âm đều khác nhau cả, chỉ có sự kiện Chúa sống lại từ cõi chết là có căn bản chung. Khi nghe các phụ nữ thuật lại những điều mà họ đã chứng kiến tại ngôi mộ trống của Chúa Giêsu, các tông đồ đều sửng sốt, thậm chí thánh Luca còn viết: “Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin” (Lc 24,11) họ còn phải vật lộn chán chê với các tư tưởng của mình về sự kiện vượt khỏi mọi kinh nghiệm của mình. Ong Tôma bộc trực, phát biểu hoài nghi của mình là có lý; hầu hết chúng ta ngày nay cũng có tâm trạng như ông Tôma: nghi ngờ và đấu tranh nội tâm, chẳng dễ gì buông tha chúng ta mặc dù vẫn tuyên xưng đức tin chân thật. Cho nên có tác giả đã đưa ý kiến: “Faith without doubts is not true faith” (đức tin mà không có nghi ngờ thì chưa phải là đức tin chân chính). Đúng vậy, nội dung của đức tin chưa đạt được, hãy còn ở trong hy vọng thì làm sao mà hết nghi nan? Cho nên hàng ngày chúng ta phải giục lòng tin và xin Chúa ban cho thêm đức tin như các tông đồ thuở xưa. Nói ngay như bản thân tôi, tôi cũng hằng ước ao được đồng hoá với vị nào đó trong biến cố phục sinh để xem sự thể ra sao, để “dội gáo nước lạnh” trên thực tế của nhóm mười hai đang ngây ngất vì biến cố và bởi lẽ chẳng cách nào có mặt, nên chí ít cũng có ai nói thay tôi. Ông Tôma không có mặt khi Chúa Giêsu hiện ra lần thứ nhất tại căn phòng trên gác, đã nói thay chúng ta, ông đáp, cầu được củng cố đức tin và nói lên nhu cầu đó của các tín hữu hôm nay khi thế giới xem ra đầy dẫy những chứng cớ ngược lại với sự phục sinh và đời sống mới: chiến tranh, khủng bố, tự sát, chém giết, phản bội, lừa đảo…

Hơn nữa, nhiều giáo xứ trên đất nước Hoa Kỳ và Au Châu xem ra đang thiếu hẳn tín hữu, thiếu hẳn đức tin sống động; nếu chúng ta là một cộng đồng phục sinh, tại sao thánh đường lại vắng bóng các tín hữu ngày chúa nhật? Các nghi lễ phụng vụ chỉ còn lèo tèo vài ba linh hồn, thậm chí nhiều nhà thờ phải đóng cửa bởi không có các tín đồ tham dự thánh lễ? Nếu chúng ta tin Chúa sống lại tại sao không nói lên cho thế giới biết “bình an” Chúa Giêsu ban cho bạn hữu Ngài ở căn phòng trên lầu, khi người ta gây hấn bất công tiến hành chiến tranh áp bức? Khi người ta giết hại hàng triệu sinh linh vô tội? Xã hội chúng ta đang cần những cộng đồng đức tin mạnh mẽ, để lên tiếng chống lại những thành kiến, sợ hãi, bất công, ghen ghét, chia rẽ, bóc lột và rao giảng hoà bình, yêu thương và tha thứ? Gương mù của hàng giáo sĩ gần đây gây thiệt hại nặng nề lớn cho đức tin vào Chúa sống lại của các tín hữu, chẳng biết đến bao giờ mới có khả năng phục hồi! Cho nên tôi sẵn lòng đứng về phe với ông Tôma khi nghe loan tin Chúa sống lại, bởi đôi khi nó thiếu hẳn biểu hiện cụ thể nơi những kẻ tự phong tin kính. Thật là vui mừng khi nghe ông Tôma nói lên ý nghĩ của mình, ông đã phải vật lộn với nghi nan như đa phần chúng ta hôm nay khi nhìn vào tình trạng giáo xứ, Giáo Hội, giáo sĩ. Thì ra thời nào cũng có Caipha, Anna, Philatô, Giuđa; thời nào cũng có thượng tế, luật sĩ, Pharisêu, chứ không nhất thiết thời Chúa Giêsu mới có. Tuy nhiên, tôi lại vui mừng hơn khi biết rằng Chúa sống lại đã nhìn thấy hết sự việc này, đã thấu suốt hết tâm can của ông Tôma và chúng ta hôm nay; Ngài đã thực hiện một cuộc có mặt ngoại lệ. Tám ngày sau đã trở lại căn phòng trên lầu và cho ông Tôma thấy những thương tích, để củng cố đức tin cho ông, xua đuổi mọi nghi nan để đạt tới bình an chân thật. Xin tạ ơn Chúa vì ông Tôma.

Chắc chắn các giáo hội tiên khởi đã đánh giá cao câu chuyện ông Tôma và coi như một kho tàng giúp đỡ đức tin, không như đa phần tín hữu bây giờ xem ông như tiêu biểu cho người có lòng tin yếu ớt. Thực ra ngay từ thuở ban đầu đã có những kẻ từ chối Chúa Giêsu sống lại và chế giễu niềm tin này của Giáo Hội non trẻ. Thí dụ thánh Phaolô trước hội đồng Arepago Hy Lạp: “Vừa nghe đến người chết sống lại, kẻ thì nhạo cười, kẻ thì nói: để khi khác chúng tôi sẽ nghe ông nói về vấn đề ấy” (Cv 17,32). Nhưng Giáo Hội tiên khởi và chúng ta hôm nay có thể nêu rõ trường hợp tông đồ Tôma, ông cũng đã nghi ngờ và cuối cùng đã tin: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20,28). Cho nên chúng ta trong thánh lễ hôm nay, kêu nài Đấng là ánh sáng phục sinh chiếu rọi qua mọi tâm hồn đang đóng kín, hiện diện giữa các cộng đồng tín hữu, xua tan mọi bất tín, nghi ngờ và củng cố lòng tin chân chính cho chúng ta, những kẻ chưa hề được xem thấy, nhưng vẫn cố gắng giục lòng tin yêu.

Điểm thứ hai của bài Tin Mừng hôm nay là lời chúc “bình an” (Shalom) cho các môn đệ đang lo âu sợ sệt trong căn phòng tiệc ly. Lời Chúa này nặng ký hơn các lời chào hỏi bình thường, thí dụ “Hello”, “Calm down”, “get a grip”… phần trên của bài Tin Mừng hôm nay chính xác là trong diễn từ cuối cùng Chúa Giêsu hứa với các môn đệ: “Thầy để lại bình an cho các anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (Ga 15,27). Hôm nay Ngài nói với họ hai lần. Một lần cho chính bản thân họ, một lần cho thế gian: “Như Chúa Cha đã sai Thầy thì Thầy cũng sai anh em”. Và họ nhận lấy Thánh Thần để thi hành sứ mệnh: “Nói xong Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần””. Việc này nhắc lại Thiên Chúa đã thổi hơi vào nắm đất sét để tạo dựng ông Adong. Như vậy các tông đồ đã được Đấng phục sinh biến đổi thành tạo vật mới với lệnh truyền ra đi khắp thế giới rao giảng bình an và ơn tha tội. Đó cũng là sứ mệnh của Hội Thánh ngày nay và mãi mãi đến tận cùng thời gian.

Cho nên bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu người tín hữu thực hành tha thứ, chiến thắng tử thần dưới mọi hình thức: ghét ghen, thù hận, vô cảm, lạnh lùng, bạo lực, kỳ thị; thì lúc ấy Thần Khí của Đức Kitô sống động và sự phục sinh của Ngài được tỏ hiện. Ngay cả với chuyện của tông đồ Tôma, chúng ta cũng không thể thuyết phục được người ta tin Chúa đã sống lại, trừ phi chính chúng ta là dấu chỉ cho người ta tin, trừ phi chúng ta biểu lộ được sức sống của Ngài chưa tàn lụi mà vẫn bừng cháy trong đời sống các tín hữu. Vì thế, khi tham dự phụng vụ, lãnh các bí tích, chăm sóc bệnh nhân, nuôi dưỡng cô nhi quả phụ là cốt yếu trong biểu hiện lòng tin của chúng ta. Hôm nay khi tham dự thánh lễ có lẽ chẳng ai còn phải sợ sệt như các tông đồ thuở xưa, các ông sợ hãi bị bắt, bị hành hình vì niềm tin vào Chúa Giêsu, bị thế lực đền thờ kết án như họ đã đối xử với thầy mình cho nên đã khoá chặt cửa mỗi khi hội họp. Tuy nhiên, chúng ta có những nỗi sợ khác, sợ vì các nghi nan của mình. Khi chị Maria Mađalêna báo cáo về ngôi mộ trống và gặp Chúa đã sống lại (20,16). Nỗi sợ hãi và nghi ngờ vẫn không tan biến khỏi tâm hồn các tông đồ. Ngày nay cũng vậy các nghi nan sợ hãi vẫn chồng chất trong trí khôn các tín hữu, nhất là trước những tiến bộ khoa học, những triết lý duy vật, hiện sinh, những phân tâm vô thức, những sinh sản vô tính, luân lý tương đối… Nhiều thế hệ trẻ đã từng trao đảo niềm tin của mình cho nên Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay: “Đừng sợ” không phải cho các tông đồ mà thôi, nhưng cho toàn thể các tín hữu nữa. Ngài nói với chúng ta đừng sợ vì các nghi nan của mình, đừng để cho nỗi sợ hãi làm cho đức tin tê liệt, những phải dựa hẳn vào Lời Chúa (trong Kinh Thánh có tất cả 365 lần Thiên Chúa nói “đừng sợ” mỗi ngày một lần). Ngoài ra chúng ta không cô đơn trong những nỗi sợ hãi này, chúng ta là cả một cộng đoàn vật lộn với những nghi nan của mình: Người mạnh tin nâng đỡ người yếu tin và giống như ông Tôma hôm nay chúng ta cũng đầu hàng trước Đức Kitô phục sinh. Tuy nhiên như vậy vẫn chưa phải là đức tin tròn đầy.

Bởi lẽ căn cứ vào lời Chúa Giêsu: “Phúc cho những ai không xem thấy mà tin”, thì nội dung đức tin vượt xa các giác quan con người. Ông Tôma đã được Chúa khích lệ nhảy một bước trong đức tin: “Chớ cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. Do đó, ông tiêu biểu cho chúng ta hôm nay: hành trình trong đức tin gồm cả những nghi nan, chỉ khi đó chúng ta mới được Chúa gọi là “có phúc”. Chúng ta đặt trọn niềm tin cậy và Phúc Âm, vào sự kiện Chúa sống lại và vào sự phục sinh của mỗi người. Chúng ta ôm ấp đức tin đó và sống như những linh hồn hít thở bằng Thần Khí Chúa giữa thế gian sa đoạ và tội lỗi.

Nếu như câu chuyện Chúa sống lại được loan truyền bằng hình thức khác nghĩa là rõ ràng, khúc chiết, minh bạch thì có lẽ chúng ta đã chẳng cảm thấy gần gũi như hiện nay. Bởi nó có thể là một sự sắp đặt và tính toán kỹ. Chúng ta sẽ gặp một Đức Kitô không còn thương tích, uy nghi như một vị thần linh hay một vị hoàng đế mới lên ngôi. Chúng ta chẳng còn phải vật lộn với đức tin tối tăm, với mừng vui nửa vời, với bầm dập nơi thân xác mình và thân xác kẻ khác. Nhưng như vậy thì Ngài quá xa vời nếp sống trần tục, không còn là bạn hữu chúng ta nữa, những con người luôn mang kiếp sống đoạ đầy. Cho nên khi đã phục sinh, Ngài vẫn mang thương tích, vẫn mang dấu vết của những con người lầm than và vẫn gần gũi với nhân loại. Qua thương tích của mình, Ngài vẫn đồng hoá với loài người khổ đau, với những kẻ lang thang không cửa không nhà, với những di dân, ngoài lề bị xua đuổi hết nơi này chốn khác, với những kẻ ăn xin ăn mày đầu đường cuối phố, với những kẻ ngủ chợ gầm cầu. Thực tế, các thương tích của chúng ta ngày nay không xa lạ với Chúa Giêsu, nó là dấu chỉ chúng ta kết hiệp với Ngài trong cùng một kiếp sống. Nó cũng bảo đảm rằng chúng ta sẽ chẳng bao giờ bị đánh bại cho dù thế lực kẻ thù có mạnh mẽ đến đâu đi nữa. Thương tích của Ngài cứu chữa chúng ta, xin mọi người vững tin vào điều đó. Ngài hiện ra với các tông đồ, cửa phòng vẫn đóng kín, nghĩa là chẳng còn chi ngăn cản được Ngài nữa; Ngài đã phá đổ mọi hàng rào chia rẽ để đi đến với mọi nỗi thống khổ của kiếp con người. Các tông đồ run rẩy vì sợ hãi thế gian và Ngài đã an ủi họ và vẫn mang thương tích. Ngài không đến với họ trong vinh quang có các thiên thần hầu cận, có Micae bảo vệ mà là như một Đấng Cứu Thế mình đầy thương tích. Giống như cuộc sống chúng ta hàng ngàn bầm dập vì chiến đấu, Ngài cũng đã bị thế giới quyền lực làm cho nát tan. Như vậy Ngài hiểu biết và chia sẻ thương tích với chúng ta, bởi lẽ hết thảy những ai sinh vào thế gian này đều phải mang thương tích. Ngài không đến như một vị khách quý, chẳng liên quan gì đến những nỗi nhọc nhằn của nhân loại nhưng Ngài đến với các tông đồ như người bạn dấn thân vào các nghi nan, sợ hãi của họ. Như thế chúng ta hiểu được tại sao Phúc Âm lại được Chúa Thánh Thần soi sáng viết như hiện nay.

Cho nên bất cứ khi nào chúng ta kinh nghiệm đau khổ, chúng ta biết mình đang liên kết với Chúa Giêsu và với anh em đồng loại. Các vết thương không thể nào khiến chúng ta thất vọng và quỵ ngã. Nó nhắc nhớ chúng ta những thương tích của Chúa Giêsu, sự sống lại của Ngài giúp chúng ta can đảm chịu đựng và ban cho chúng ta hy vọng sẽ được Ngài chữa lành. Trước khi được hoàn toàn vinh quang với Ngài, chúng ta nên tâm niệm rằng mỗi khi gặp gian nan thử thách là gặp được Đấng Cứu Thế đầy thương tích, Ngài sẽ bẻ gãy mọi rào cản và để tiến gần với chúng ta hơn, ban cho chúng ta bình an, hy vọng và niềm vui phục sinh. Halleluia. Amen.