CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH

Thánh lễ hôm nay kết thúc tuần lễ áo trắng mà Giáo hội đặc biệt dành cho các anh chị em Tân Tòng mới gia nhập vào cộng đoàn đức tin vào đêm lễ Vọng Phục Sinh vừa qua. Niềm tin của họ đã được thắp lên, được bén rễ vào cộng đoàn dân Chúa để sống và lớn lên. Chúng ta hãy cầu nguyện thật nhiều cho họ.

Cách đây đúng 92 năm (1912) vào Chúa Nhật II Phục Sinh tức Chúa Nhật Quasimodo, chiếc tàu Titanic đã chìm xuống lòng biển Đại Tây Dương mang theo trên 1000 sinh mạng. Rất nhiều chi tiết liên quan đến con tàu sinh mệnh đã được báo chí đăng tải, nhưng có một chi tiết đáng chú ý là ngay nơi phần hông tàu, phía dưới mặt nước là dòng chữ ngạo nghễ: No God, No Pope (không Thiên Chúa, không Giáo Hoàng ).Tàu Titanic là thành tựu khoa học vĩ đại nhất của con người đầu thế kỷ XX, tưởng chừng như bất diệt nhưng cũng bị chôn vùi vào lòng đại dương mênh mông. Đó là biểu tượng cho sự hữu hạn của con người, của khoa học kỹ thuật trước huyền bí của vũ trụ.

Dường như khi khoa học kỹ thuật phát triển con người càng đánh mất niềm tin vào Thiên Chúa ? Lắm người dám nói : không có Thiên Chúa vì họ không thấy Ngài. Họ chỉ tin khi nào khoa học chứng minh điều đó. Nói cách khác họ muốn tiếp cận với Thiên Chúa qua phương pháp khoa học thực nghiệm: thấy, sờ, lý luận, phân tích, xác minh.

Sự đòi hỏi thực nghiệm không phải chỉ xuất hiện một khi khoa học phát triển mà nó đã xuất hiện cách đây hơn 2000 năm, từ khi mà Tôma đòi thấy Chúa nhãn tiền ” Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lổ đinh, đặt tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng tin” Tôma đòi xác quyết tường tận Đấng đã chết trên Thập giá mà nay sống lại. Đó phải chăng là một niềm tin đòi được xét nghiệm bằng khoa học? Vậy thì có thể nói,Toma là ông tổ của khoa học thực nghiệm : không bao giờ đi đến kết luận nếu trước đó chưa có kiểm nghiệm chắc chắn.

Bài phúc âm hôm nay kể về niềm tin của Toma. Niềm tin nơi Tôma đang lụi tàn và đầy nghi nan. Khi Chúa Giêsu Phục Sinh hiện đến với các Tông đồ, Tôma không có ở đó. Toma thất vọng, choáng váng, đau buồn, chán nản, nhốt mình trong sự cô đơn xa cách anh em mình, tìm quên lãng trong phiền muộn nên đánh mất cơ hội gặp Chúa Phục Sinh. Các Tông đồ đã nói với ông rằng: “Chúng tôi đã thấy Chúa”. Thế mà ông vẫn không tin. Tám ngày sau Đức Giêsu Phục Sinh đáp ứng đòi hỏi của Tôma, Người hiện đến với các môn đệ và bảo Tôma: “ Toma, con hãy đặt ngón tay con vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa nhưng hãy tin”. Tôma liền biến đổi tức khắc, từ bóng tối nghi nan bước sang ngời sáng niềm tin. Ông không cần phải đặt bàn tay vào cạnh sườn nữa, không cần xỏ ngón tay vào lỗ đinh nữa, không cần đặt bàn tay vào cần sườn để thực nghiệm. Đức tin của Toma đã hồi phục nhờ sự hiện diện của Đấng Phục Sinh.

Các bài Phúc Âm Gioan lần lượt cho chúng ta thấy niềm tin vào Chúa Phục Sinh ở những cấp độ khác nhau. Gioan chỉ thấy ngôi mộ trống với băng vải, khăn che mặt xếp cẩn thận là ông đã tin. Maria Mađalêna thấy Chúa Giêsu nhưng không nhận ra Người cho đến khi Chúa gọi đích danh “Maria”, bà mới nhận ra. Hai môn đệ trên đường Emmau nhờ cử chỉ Bẻ Bánh mà nhận ra Chúa. Mười Tông đồ thấy Chúa và đã tin. Còn Tôma đòi điều kiện là chính ông phải được đụng chạm đến cạnh sườn và các lỗ đinh nơi thân xác Chúa ông mới tin. Như vậy một cách rất sâu sắc, Gioan nêu vấn đề về niềm tin của các thế hệ tương lai. Niềm tin ấy sẽ theo mẫu nào : như niềm tin của Gioan, của Mađalêna, của hai môn đệ Emmau, của mười môn đệ hay củaTôma? Dù theo mẫu nào đi nữa thì điều quan trọng vẫn là Chúa Giêsu Phục Sinh đáp ứng theo các khả năng và đòi hỏi của các môn đệ, tuỳ vào mỗi người mà Chúa Phục Sinh đến với họ để khôi phục lòng tin và làm cho họ nên nhân chứng Phục Sinh.

Niềm tin của mỗi người Kitô hữu chúng ta vào Chúa Phục Sinh, có người giống như Gioan, chỉ cần dấu chỉ; có người như Mađalêna, cần đựoc Chúa gọi tên; hay như hai môn đệ Emmau, nhờ Lời Chúa và Thánh Thể; nhưng cũng có nhiều người như Tôma, cần được chứng kiến. Tin vì thấy, dựa vào bằng chứng là đức tin ở mức độ thấp. Tin mà không cần thấy, không dựa trên bằng chứng mà dựa trên tình yêu mới là đức tin ở mức độ cao. Điều thiết yếu vẫn là tình yêu. Nhờ tình yêu mà người tín hữu tin vững vàng Đấng Phục Sinh vẫn luôn đồng hành, soi sáng, hướng dẫn cuộc đời mình.

Tôma tuy cứng lòng tin nhưng dễ dàng khiêm nhường đón nhận chân lý. Nơi Tôma có cái gì đáng quy, đáng ngưỡng mộ. Với Tôma để có đức tin không phải là chuyện dễ. Ông không bao giờ vâng lời ngay, Tôma là người muốn biết chắc chắn và một khi đã biết chắc ông nhất quyết tin và vâng phục cho đến cùng. Đức tin như Tôma tốt hơn là đức tin bằng đầu môi chót lưỡi như Ngôn sứ Isaia đã nhận định “Dân này thờ kính Ta bằng môi miệng nhưng lòng trí ở xa Ta”. Có những người chỉ tin khi được may mắn, nhưng lại hoài nghi khi gặp khó khăn thử thách. Tin Chúa mà vẫn đi coi bói, tử vi, tướng số.Vâng lời như Toma tốt hơn là gật đầu đồng ý nhưng sau đó lại không làm gì điều đã hứa.

Niềm tin nơi Toma là niềm tin Kitô hữu hiện đại : thấy được, sơ được, chứng nghiệm được mới tin. Nhưng Chúa Giêsu lại bảo rằng: “Phúc cho những ai không thấy mà tin”. Chúa đánh giá cao mức độ tin vì tình yêu. Hạnh phúc đi đôi với tình yêu. Khi yêu ai người ta dễ tin vào người đó. Tin thể hiện tình yêu và chính vì yêu nên hạnh phúc. Vậy chúng ta là những người có phúc vì vẫn luôn một lòng vững tin vào Chúa. Không thấy Chúa hữu hình nhưng thấy Chúa bằng mắt đức tin, bằng trái tim yêu mến, thấy Chúa hiện diện qua Lời Chúa, qua Thánh Thể, qua tâm hồn mỗi người, qua cuộc sống mỗi ngày.