CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA GIÊSU

(Đối chiếu 4 trình thuật của Tin mừng)

I. BỐI CẢNH CHÍNH TRỊ LÚC BẤY GIỜ

Miền Galilê do vua Hêrôđê Antipa - con Hêrôđê Cả, cai trị. Đây là một con người đam mê háo sắc, chính ông đã giết Thánh Gioan Tẩy Giả chỉ vì đam mê sắc dục đó.

Miền Samari và Jerusalem do quan tổng trấn Philatô, người Rôma cai trị. Đây là một con người tàn bạo, căm ghét người Dothái đến tàn nhẫn. Hậu quả là cuối đời, ông bị hoàng đế Rôma bắt lưu đày.

Chúng ta thấy là, vào lễ Vượt qua, vua Hêrôđê về Jerusalem dự lễ hội, nên ông được xét xử Chúa Giêsu vì Chúa Giêsu là người Galilê, thuộc thẩm quyền của Vua Hêrôđê.

Phần Philatô tìm mọi cách tha Chúa Giêsu không phải vì ông thương Chúa mà chỉ vì ông làm thế là để chọc tức dân Dothái vì ông căm ghét người Dothái. Sợ người Dothái tâu với vua Rôma, ông liền ký giấy cho đóng đinh Chúa Giêsu và cho viết một tấm bảng “Giêsu Nazaret vua dân Dothái” không nhằm mục đích tôn vinh Chúa đâu nhưng chỉ để “chơi xỏ” dân Dothái với ngầm ý : Tao đóng đinh cả Vua của chúng bây đấy!

Quan Philatô không dám ở Jerusalem, lý do là vì ông sợ quân cảm tử của Israel ám sát nên dinh thự của ông được đặt tại miền Xêdarê duyên hải. Ngày lễ Vượt qua, ông dẫn lính về Jerusalem để bảo vệ lễ hội và tham gia vụ án Chúa Giêsu.

II. VÀI GHI NHẬN TỔNG QUÁT

Trình thuật Thương khó trong Tin mừng chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng vì nhờ đó dẫn đến Phục Sinh. Phục Sinh cho thấy Khổ nạn không phải là một thảm bại mà là một chiến thắng của Tình yêu.

Xét về bản văn thì Nhất lãm và tin mừng Gioan rất khác nhau, nhưng Khổ nạn thì giống nhau: Vào vườn - bị bắt - trao nộp cho hội đồng Dothái - chuyển sang tòa án Rôma - vác Thập giá - đóng đinh - chết. Điều này cho thấy Khổ nạn không phải là một công trình biên soạn cá nhân, nhưng là bài công bố niềm tin của Giáo hội dực trên lời rao giảng của các Tông đồ.

Khổ nạn và Phục sinh đều được các thánh sử ghi lại nhưng trong từng chi tiết thì mỗi thánh sử có một cái nhìn tương đối khác biệt. Sở dĩ như vậy là vì các tác giả thánh muốn làm nổi bật một ý nghĩa riêng mà mình muốn trình bày. Dưới đây là những nét khác biệt:

MtMcLcGa
-Muốn giới thiệu Chúa Giêsu là một người Công chính bị bách hại để ứng nghiệm lời Kinh thánh.

-Dùng lối văn thích hợp với Phụng vụ, ít chú ý đến chi tiết, nhưng cho biết Chúa Giêsu nắm rất rõ tình thế.
- Trình bày cuộc Thương khó một cách trần trụi, có sao nói vậy, không che giấu nổi bi đát và sự cô đơn của Chúa Giêsu (x. Mc 14,35.51-52)Trình bày cuộc Thương khó như bài suy niệm của người môn đệ. Chính vì thế nơi Luca có những đặc tính sau:

- Có khuynh hướng bênh vực các môn đệ;

- Làm giảm những bi đát của Chúa;

- Minh chứng Chúa Giêsu là Đấng vô tội.
Trình bày Chúa Giêsu như một vị Vua oai nghiêm đang từ từ tiến lên ngai vàng Thập giá.


III. LỄ VƯỢT QUA CỦA NGƯỜI DO THÁI VÀ CỦA CHÚA GIÊSU

Hằng năm người Do thái cử hành lễ Vượt qua để kỷ niệm việc Thiên Chúa đã giải thoát cha ông họ khỏi ách nô lệ Aicập. Thực ra khi vào đất Canaan, người Do thái đã nhập lễ bánh không men vốn là một lễ hội của những người làm nông nghiệp trong đó họ ăn mừng những gié lúa đầu tiên với lễ của những người du mục làm thánh lễ Vượt qua. Như thế lễ Vượt qua vừa mang mầu sắc văn hóa (lễ không men) vừa mang mầu sắc tôn giáo (giết chiên vượt qua). Nghi lễ giết chiên vượt qua được người Do thái tổ chức dưới hai hình thức khác nhau: ở Đền thờ và ở nhà.

Ở Đền thờ: Đây là nghi lễ long trọng được nhiều người quy tụ về để tham dự và là một lễ nghi chính thức của quốc gia tưởng nhớ việc Thiên Chúa giải thoát dân Israel ra khỏi Ai cập. Từ thời Giôsias (thế kỷ 7 BC), Đền thờ Jerusalem được xem là nơi duy nhất cử hành đại lễ này.

Ở nhà: Khi không thể lên Jerusalem mừng lễ được, người ta cũng có thể tổ chức tại gia đình.

Người Do thái kỷ niệm không chỉ là tưởng niệm một việc trong quá khứ, nhưng giúp họ sống lại kinh nghiệm giải thoát nhằm hướng tới cuộc giải thoát cuối cùng mà những người đang tham dự bàn tiệc Vượt qua hôm nay sẽ được tham dự vào ngày cánh chung.

Bữa tiệc Vượt qua là bữa tiệc theo nghi lễ, trong đó gia chủ đóng vai trò chủ bàn tiệc. Bữa tiệc kết thúc bằng việc hát thánh vịnh Hallel - thánh vịnh 113.

So sánh lễ Vượt qua của Do thái và của Chúa Giêsu



DO THÁI CHÚA GIÊSU
- Chủ tiệc cầm bánh, đọc lời chúc tụng: Đây là chiếc bánh lầm than mà cha ông chúng ta đã phải ăn khi ra khỏi Ai Cập (Đnl 16,3). Và bẻ ra trao cho mọi người. Theo đúng phong tục Do Thái, người nhỏ nhất sẽ hỏi : "Đêm nay là đêm gì?" Gia chủ trả lời: "là đêm kỷ niệm Cha ông vượt qua Ai cập". Ở đây thánh Gioan hỏi, Chúa Giêsu trả lời.
- Mỗi người đều ăn chung tấm bánh đó và uống lần lượt bốn ly rượu. - Chúa Giêsu cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ. Khác chăng là bánh trở nên Mình Chúa.
- Đến ly thứ 3, gia chủ nâng lên, đọc lời chúc tụng và chia cho mọi người uống chung. - Đến ly rượu thứ 3, Chúa Giêsu cầm chén, đọc lời chúc tụng, rượu trở nên Máu Chúa.
- Mọi người ăn uống và kết thúc bằng ly rượu thứ 4, hát thánh vịnh 113 và giải tán. - Mọi người ăn uống, uống ly rượu thứ 4, hát thánh Vịnh, lên vườn Ghếtsêmani...


Lễ Vượt qua của Chúa Giêsu có những điểm đặc biệt:

- Đây là bữa ăn từ biệt trước khi chúa chịu khổ hình.

- Chúa Giêsu loan báo lễ Vượt qua tương lai mà Ngài sẽ mừng với các môn đệ trong nước Thiên Chúa.

- Qua việc đọc lời chúc tụng trên bánh và rượu, Chúa Giêsu đã biến đổi lễ Vượt qua của giao ước cũ thành lễ Vượt qua của chính Ngài. Khi đối diện với cái chết đang chờ đợi Ngài ngày hôm sau, Chúa chủ động đón nhận cái chết, và biến đổi cái chết thánh quà tặng của Tình yêu. Quà tặng này mang hai ý nghĩa: Là hiến tế mang lại ơn cứu độ và là lương thực trường sinh.

- Cuối cùng là việc nhắc nhở của Chúa Giêsu : “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Chúng ta có thể hiểu hai cách:

+ Lặp lại cử chỉ và lời nói của Chúa, tức là cử hành Thánh lễ;

+ Lặp lại hành động của Chúa, phải chăng là biến mình để trở thành dấu chỉ của tình yêu phục vụ cho đồng loại.

IV. TẠI VƯỜN CẦU NGUYỆN VÀ BỊ BẮT

Những điểm khác biệt: Như đã nói, những điểm dị biệt phần lớn là do dụng ý thần học của mỗi thánh sử :

Mt - Mc LcGa
- Tại vườn Ghếtsêmani -Trên núi Ôliu - Tại một thửa vườn
- Chỉ có ba môn đệ

cùng đi cầu nguyện với Chúa
- Tất cả các môn đệ

cùng với Chúa Giêsu cầu nguyện.

- Không đề cập đến.
- Chúa Giêsu đi cầu nguyện tới 3 lần.- Chỉ một lần nhưng thật thống thiết. - Không đề cập đến
- Các môn đệ bỏ Thầy chạy trốn.- Không đề cập đến - Chúa can thiệp cho các ông được an toàn ra đi.


V. PHIÊN TÒA DO THÁI

Những điểm khác biệt về buổi hỏi cung:

Tin Mừng Mấy buổi hỏi cungTrước mặt aiNhận định
Mt-Mc Hai buổi: Đêm và sáng.Thượng hội đồng Do Thái Không đúng sự thật

vì THĐ chỉ làm việc trong giờ hành chính.

Lời kể do Phêrô lúc đó không được chứng kiến.
Lc Một buổi:

Đêm tạm giữ,

sáng xét xử.
Thượng hội đồng Do Thái. Đúng
Ga Hai buổi:

-Buổi tối:

- Buổi sáng:


Cựu thượng tế Anna (không chính thức)

Thượng hội đồng Do thái (chính thức)
Chính xác nhất


Nội dung về cuộc điều tra:

Tin MừngThời gianNội dung
Mt=McĐiều tra ban đêmThượng tế Caipha hỏi về nhân thân Chúa Giêsu: “Có phải là Đức Kytô Con Thiên Chúa?”.

Chúa Giêsu trả lời : “Đúng”.

Kết án. Tội: Phạm thượng
Lc Điều tra ban sáng Mọi người hỏi nhân thân Chúa Giêsu về hai câu: “Có phải là Đấng Mêsia?” “Có phải là Con Thiên Chúa?”.

Chúa Giêsu xác nhận.

Không bị kết án.
GaĐiều tra ban tối Anna hỏi về giáo lý và các môn đệ.

Chúa trả lời.

Đầy tớ vả mặt Chúa.

Chúa phản ứng


VI. PHIÊN TÒA RÔMA

1. Tội của người Do thái

Tại sao phải nại tới tòa án Rôma? Chúng ta biết là quyền xử án và thi hành án của tòa án Thượng hội đồng Do thái rất giới hạn trong phạm vi tôn giáo. Tòa án Thượng hội đồng chỉ được xử án những tội với mức xử là đánh đòn hay giam tù mà thôi. Còn kết án tử hình thì tòa án Thượng hội đồng không được phép thi hành bản án mà phải chuyển sang tòa án Rôma thực thi bản án này. Thế là chúng ta thấy trong phiên tòa xử Chúa Giêsu, tòa án Thượng hội đồng Do thái kết án tử hình Chúa Giêsu vì tội phạm thượng. Nhưng với tội phạm thượng này, tòa án Rôma không thể xử và thi hành được vì đây là tội thuộc phạm vi tôn giáo chứ không thuộc tội chính trị. Thế là người Do thái bèn nẩy “sáng kiến” khiến Chúa Giêsu phải bị tử hình dưới tòa án Rôma. Từ tội danh phạm thượng chỉ thuần túy mang tính tôn giáo, giờ đây người Do thái chuyển sang tòa án Rôma và chụp mũ Chúa Giêsu với ba tội danh “chết người”, đó là 1/ Xách động quần chúng; 2/ Ngăn cản nộp thuế cho hoàng đế và 3/ Tự xưng là Vua!

Chúa Giêsu bị đánh đòn, có một số khác biệt:

Mt - Mc LcGa
- Đánh đòn và mang đi đóng đinh (Mt 27,26) Dự định đánh đòn nhưng rồi thả ra. Đánh đòn rồi mang ra cho dân chúng thấy mà thương.


Cách đánh đòn của người Rôma:

Rôma thi hành án đánh đòn với 40 roi. Roi ở dây là một cây gậy gồm một khúc gỗ ngắn và một sợi dây. Đầu dây có một đầu chì và hai móc xương cá. Khi đánh tội nhân, hai móc câu sẽ gây ngoại thương, còn đầu chì sẽ gây nội thương. Mỗi lần đánh sẽ in ba vết thương. Như vậy 40 roi x 3 = 120 vết! Thật dã man phải không?

2. Tội của quan tổng trấn Philatô

Ông tổng trấn nhận thấy Chúa Giêsu vô tội. Lý do là bởi vì chữ Vua mà Philatô hỏi Chúa hiểu theo nghĩa chính trị thì Chúa Giêsu phủ nhận tước hiệu này theo nghĩa chính trị: “Chính ngài nói đó” (chứ không phải tôi nói). Vì thế Philatô 3 lần tìm cách tha Chúa Giêsu. Nhưng dưới áp lực của dân, ông chấp nhận cho đem Chúa Giêsu đi đóng đinh. Tội của Philatô chính là đây. Là một con người hèn nhát, quan tâm đến quyền bính của mình hơn là thực thi công lý. Biết Chúa vô tội mà vẫn cho dân đem đi đóng đinh.

3. Tội của vua Hêrôđê

Khi biết Chúa Giêsu là người Galilê, Philatô chuyển Người sang vua Hêrôđê lúc bấy giờ đang dự lễ hội ở Jerusalem. Hêrôđê muốn thấy Chúa Giêsu làm phép lạ chứ không muốn nghe những gì Ngài nói, vì như thánh Gioan Tẩy Giả, lời đó sẽ vạch trần con người tội lỗi của ông ta mà thôi. Chúa Giêsu thinh lặng không phải vì khinh miệt nhưng nhằm nói rằng ước muốn của ông ta là vô ích. Hêrôđê bèn đổi thái độ từ vui mừng sang thái độ nhạo báng : cho Chúa mặc áo “vua cải lương”. Hành động này mang ý nghĩa nhạo báng và khước từ vương quốc mà Chúa Giêsu loan báo.

VII. ĐƯỜNG THƯƠNG KHÓ

Đường lên Núi Sọ, tiếng Do thái là Gôngôtha, tiếng Latinh là Calvario. Vì sao lại gọi là Núi Sọ? Ít nhất có 3 lý do: 1/ Đây là nơi hành hình tử tội; 2/ Nơi chôn cất Sọ Adam và 3/ Núi này có hình giống như cái sọ. Có lẽ lý do thứ 3 là đúng hơn cả bởi vì ở lý do thứ nhất, người Rôma có nhiều nơi hành hình tử tù chứ không chỉ có một. Còn ờ lý do thứ hai cắt nghĩa thiêng liêng quá.

Thập giá hình gì? Và đóng đinh Chúa ở đâu?

Người Rôma có 3 kiểu thập giá: Hình chữ X, chữ T và chữ thập. Theo Kinh thánh trình bày, chúng ta được biết Chúa Giêsu bị đóng đinh vào thập giá hình chữ thập với lý do là trên đầu Chúa có treo một tấm bảng ghi “Giêsu Nazaret - Vua dân Do thái

Nếu đóng đinh ở mu bàn tay và bàn chân thì không đúng lắm. Lý do là vì con người chịu lực hút của trái đất và phải chịu trọng lực của cơ thể kéo xuống. Do đó, sẽ dẫn đến việc đinh sẽ xé toạc bàn tay và bàn chân khi sức nặng của cơ thể bị đè xuống. Thế nên chỉ còn cách là đóng vào ngay cổ tay mới mong giảm nguy cơ trên. Đây là cách tra tấn con người cực kỳ dã man vì con người phải quằn quại đau đớn tột cùng.

VIII. TRÊN THẬP GIÁ - CHẾT VÀ MAI TÁNG

Mt - Mc LcGa
Chỉ một câu nói và một tiếng kêu:

Vào giờ thứ chín, Chúa Giêsu kêu lớn tiếng :

" Êli, Êli, lêmaxabacthani: Lạy Thiên Chúa,

lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?"


Đây là câu Thánh vịnh 22,2 mà Chúa Giêsu dùng để cầu nguyện.

Chúa lại kêu lớn tiêng và trút linh hồn. (x. Mt 27,46.50;Mc 15,34.37)
Có đến ba câu Chúa dùng trên Thập giá:

1/ Cầu nguyện cho kẻ hành quyết mình:

"Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm" (x. 23,34)

2/ Nói với tên gian phi:

"Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên nước Thiên Đàng" (x.23,43)

3/ Chúa kêu lớn tiếng:

"Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha" và tắt thở.

Đây là lời Thánh vịnh 34,6 Chúa dùng để cầu nguyện với Chúa Cha.
Có 4 câu:

1/ Chúa nói với Mẹ : "Thưa bà, này là con bà" (x. 19,26)

2/ Nói với Thánh Gioan : "Đây là Mẹ của anh" (x. 19,27)

3/ "Tôi khát" (x. 19,28b)

4/ "Thế là hoàn tất" (x. 19,30)


Chúa trút hơi thở cuối cùng:

Giờ Chúa trút hơi thở cũng chính là giờ bóng tối bao phủ, mặt trời tối đi. Đây là những thành ngữ thuộc thể văn khải huyền diễn tả ngày của Chúa, ngày Phán xét.

Màn trong Đền thờ xé ra, mang hai ý nghĩa: 1/ Từ nay, nền phụng tự cũ vị hủy bỏ, thay vào đó là một nền Phụng tự mới và 2/ từ nay không còn ngăn cách giữa Thiên Chúa và con người, giữa dân Do thái và dân ngoại nữa.

Mai táng:

Mộ của người Do thái có hai loại : 1/ Đào sâu xuống đất và có thể chôn nhiều người trong gia đình, trên có nắp đậy và 2/ Mộ được đục sâu vào núi đá cũng chôn được nhiều người và có tảng đá lăn đậy mộ. Chúa Giêsu được mai táng trong huyệt đá mới, tức ở loại mộ thứ hai.

Nơi tin mừng Nhất lãm thì việc mai táng Chúa Giêsu chỉ có liệm chứ không có tẩm vì không có giờ. Còn nơi tin mừng Gioan thì miêu tả việc ông Nicôđêmô và ông Giôxep tẩm liệm Chúa với 100 kg thuốc thơm và trầm hương. Điều này cho thấy việc Chúa Giêsu được tẩm liệm xứng như tẩm liệm của một bậc Vương giả.