Những Ai Đã Muốn Đức Giêsu Phải Chết?
Giêrusalem vào thời Đức Giêsu là một thị trấn thương buôn có một cơ sở chính là Đền thờ. Có khoảng 20 phần trăm dân số sống nhờ vào Đền thờ. Đền thờ là nơi duy nhất người Do Thái có thể đến dâng lễ hy tế. Những lễ hội Do Thái hàng năm, gồm cả lễ Vượt Qua, thường lôi kéo hàng chục ngàn người hành hương tới Giêrusalem đem theo rất nhiều tiền bạc. Tại đó, họ mua các súc vật dùng làm tế sinh. Hơn thế, mọi nam nhân người Do Thái phải trả cho Đền thờ một khoản tiền thuế (Mt 17:24); một số người khác tự nguyện dâng cúng cho quỹ Đền thờ (Lc 21:1-2).
Đền thờ do vị thượng tế và những người phụ tá của ông điều hành. Thượng tế được lựa chọn trong một số nhỏ những gia đình làm nhiệm vụ thượng tế và phục vụ với sự đồng ý của viên tổng trấn Lamã. Caipha là thượng tế từ năm 18 đến năm 36, còn Philatô là tổng trấn từ năm 26 đến năm 36. Quan tâm chính của viên tổng trấn Lamã là duy trì an ninh và thâu thuế cho hoàng đế, nên ông phải nhờ vào sự cộng tác của vị thượng tế Do Thái để đạt được hai mục tiêu đó.
Những người điều hành Đền thờ nhờ Đền thờ mà hưởng lợi và có một số người trở nên thật giàu có. Các nhà khảo cổ đã khám phá ra một khu gia cư khá giả xây cất vào thế kỷ thứ I tại Giêrusalem. Tấm bảng ghi tại một ngôi nhà cho biết đó là sở hữu của một thành viên trong trong gia đình thượng tế. Những truyền thống về sau của người Do Thái đã mô tả những gia đình thuộc hàng thượng tế thời thế kỷ I là có khuynh hướng tham nhũng. Trong trường hợp nào cũng vậy, các viên chức Đền thờ dĩ nhiên bảo vệ Đền thờ vì đó là nguồn lợi tức, là gốc gác quyền lực, cũng như giữ vai trò trọng tâm trong đời sống tinh thần người Do Thái.
Đức Giêsu tới Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua cùng với đám đông người hành hương lũ lượt kéo vào thành. Khi Người đến, một số người hoan hô Người như là một đấng Messia hoặc là một vị vua. Dân chúng đã trông đợi một đấng Messia dưới nhiều hình thức: một số hy vọng đấng Messia sẽ giành độc lập cho người Do Thái. Dĩ nhiên Đức Giêsu không phải là một đấng Messia như thế, nhưng một người được đám đông hoan nghênh như một vị giải phóng quả đã làm cho nhiều người nao nức.
Đức Giêsu vào khu vực Đền thờ và đập phá lối bán buôn súc vật và đổi tiền làm lễ dâng (Mc 11:15-17). Đáng ngại hơn nữa, Đức Giêsu nói về sự việc Đền thờ sẽ bị phá huỷ (Mc 13:1-2). Chúng ta giải thích các hành động của Đức Giêsu chỉ là sự chống đối tham nhũng hoặc như làlời tiên báo về sự phá huỷ Đền thờ thực sự xảy ra sau này, nhưng những người phụ trách Đền thờ cũng rất tức bực (Mc11:18).
Mặc dầu Đức Giêsu đã có những tranh cãi với một số kinh sư trong suốt sứ vụ công khai của Người, nhưng chính do viên thượng tế và nhóm người được ưu đãi về quyền lực tại Giêrusalem là những kẻ âm mưu với người Lamã đã đẩy Đức Giêsu đến chỗ chết. Một người thích lăng xăng gây rối từ xứ Galilê đến đe dọa nền an ninh của họ thì họ không thể khoan nhượng được. Đức Giêsu bị bắt giữ trong khi không có đám đông dân chúng ở chung quanh để bảo vệ Người.
Cái chết của Đức Giêsu là do Philatô ra lệnh. Một đô thị đông dân đang chen chúc những người đầy nhiệt tình tôn giáo và quốc gia, có thể là tia lửa làm nổ ra một cuộc nổi dậy, và Philatô thấy Đức Giêsu là tia lửa đó. Chiều hướng dễ dàng nhất là loại trừ Người trước khi Người có thể gây ra khó khăn. Đức Giêsu đã bị hành hình theo cung cách mà người Lamã dùng để giết những kẻ nổi loạn, đó là đóng đinh vào thập giá.
Những bất đồng về tôn giáo chắc chắn đã đưa đến sự chống đối Đức Giêsu của một số người. Nhưng những kẻ có trách nhiệm cá nhân về cái chết của Người - toàn bộ chỉ là một số ít - là các lãnh tụ tôn giáo mà địa vị tuỳ thuộc vào Đền thờ, và viên tổng trấn Lamã muốn quyết chí duy trì trật tự. Công đồng Vatican II đã tuyên bố: “Mặc dầu các nhà cầm quyền Do Thái và những kẻ tuân theo sự lãnh đạo của họ đã hối thúc cho cái chết của Đức Kitô, nhưng tất cả những người Do Thái không phân biệt ai và cả những người Do Thái ngày nay nữa, cũng không bị kết án vì những tội ác đã gây nên trong cuộc tử nạn của Người.” (Nostar Aetate, 4).
George Martin
Giêrusalem vào thời Đức Giêsu là một thị trấn thương buôn có một cơ sở chính là Đền thờ. Có khoảng 20 phần trăm dân số sống nhờ vào Đền thờ. Đền thờ là nơi duy nhất người Do Thái có thể đến dâng lễ hy tế. Những lễ hội Do Thái hàng năm, gồm cả lễ Vượt Qua, thường lôi kéo hàng chục ngàn người hành hương tới Giêrusalem đem theo rất nhiều tiền bạc. Tại đó, họ mua các súc vật dùng làm tế sinh. Hơn thế, mọi nam nhân người Do Thái phải trả cho Đền thờ một khoản tiền thuế (Mt 17:24); một số người khác tự nguyện dâng cúng cho quỹ Đền thờ (Lc 21:1-2).
Đền thờ do vị thượng tế và những người phụ tá của ông điều hành. Thượng tế được lựa chọn trong một số nhỏ những gia đình làm nhiệm vụ thượng tế và phục vụ với sự đồng ý của viên tổng trấn Lamã. Caipha là thượng tế từ năm 18 đến năm 36, còn Philatô là tổng trấn từ năm 26 đến năm 36. Quan tâm chính của viên tổng trấn Lamã là duy trì an ninh và thâu thuế cho hoàng đế, nên ông phải nhờ vào sự cộng tác của vị thượng tế Do Thái để đạt được hai mục tiêu đó.
Những người điều hành Đền thờ nhờ Đền thờ mà hưởng lợi và có một số người trở nên thật giàu có. Các nhà khảo cổ đã khám phá ra một khu gia cư khá giả xây cất vào thế kỷ thứ I tại Giêrusalem. Tấm bảng ghi tại một ngôi nhà cho biết đó là sở hữu của một thành viên trong trong gia đình thượng tế. Những truyền thống về sau của người Do Thái đã mô tả những gia đình thuộc hàng thượng tế thời thế kỷ I là có khuynh hướng tham nhũng. Trong trường hợp nào cũng vậy, các viên chức Đền thờ dĩ nhiên bảo vệ Đền thờ vì đó là nguồn lợi tức, là gốc gác quyền lực, cũng như giữ vai trò trọng tâm trong đời sống tinh thần người Do Thái.
Đức Giêsu tới Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua cùng với đám đông người hành hương lũ lượt kéo vào thành. Khi Người đến, một số người hoan hô Người như là một đấng Messia hoặc là một vị vua. Dân chúng đã trông đợi một đấng Messia dưới nhiều hình thức: một số hy vọng đấng Messia sẽ giành độc lập cho người Do Thái. Dĩ nhiên Đức Giêsu không phải là một đấng Messia như thế, nhưng một người được đám đông hoan nghênh như một vị giải phóng quả đã làm cho nhiều người nao nức.
Đức Giêsu vào khu vực Đền thờ và đập phá lối bán buôn súc vật và đổi tiền làm lễ dâng (Mc 11:15-17). Đáng ngại hơn nữa, Đức Giêsu nói về sự việc Đền thờ sẽ bị phá huỷ (Mc 13:1-2). Chúng ta giải thích các hành động của Đức Giêsu chỉ là sự chống đối tham nhũng hoặc như làlời tiên báo về sự phá huỷ Đền thờ thực sự xảy ra sau này, nhưng những người phụ trách Đền thờ cũng rất tức bực (Mc11:18).
Mặc dầu Đức Giêsu đã có những tranh cãi với một số kinh sư trong suốt sứ vụ công khai của Người, nhưng chính do viên thượng tế và nhóm người được ưu đãi về quyền lực tại Giêrusalem là những kẻ âm mưu với người Lamã đã đẩy Đức Giêsu đến chỗ chết. Một người thích lăng xăng gây rối từ xứ Galilê đến đe dọa nền an ninh của họ thì họ không thể khoan nhượng được. Đức Giêsu bị bắt giữ trong khi không có đám đông dân chúng ở chung quanh để bảo vệ Người.
Cái chết của Đức Giêsu là do Philatô ra lệnh. Một đô thị đông dân đang chen chúc những người đầy nhiệt tình tôn giáo và quốc gia, có thể là tia lửa làm nổ ra một cuộc nổi dậy, và Philatô thấy Đức Giêsu là tia lửa đó. Chiều hướng dễ dàng nhất là loại trừ Người trước khi Người có thể gây ra khó khăn. Đức Giêsu đã bị hành hình theo cung cách mà người Lamã dùng để giết những kẻ nổi loạn, đó là đóng đinh vào thập giá.
Những bất đồng về tôn giáo chắc chắn đã đưa đến sự chống đối Đức Giêsu của một số người. Nhưng những kẻ có trách nhiệm cá nhân về cái chết của Người - toàn bộ chỉ là một số ít - là các lãnh tụ tôn giáo mà địa vị tuỳ thuộc vào Đền thờ, và viên tổng trấn Lamã muốn quyết chí duy trì trật tự. Công đồng Vatican II đã tuyên bố: “Mặc dầu các nhà cầm quyền Do Thái và những kẻ tuân theo sự lãnh đạo của họ đã hối thúc cho cái chết của Đức Kitô, nhưng tất cả những người Do Thái không phân biệt ai và cả những người Do Thái ngày nay nữa, cũng không bị kết án vì những tội ác đã gây nên trong cuộc tử nạn của Người.” (Nostar Aetate, 4).
George Martin