Đức Giêsu thời thơ ấu.
Trong thời Đức Giêsu, chỉ có con trai mới được đi học. Chừng lên 5 hoặc 6 tuổi, các em trai bất luận giầu nghèo bắt đầu đi học đọc và viết tại các nguyện đường (synagogue) trong làng. Nazareth có một nguyện đường như vậy và có lẽ là nơi Đức Giêsu học những bài học đầu tiên.
Các em ngồi trên nền đất chung quanh giáo viên. Chỗ ngồi của thày thường là một bục cao. Bản văn phải học là kinh Torah (Ngũ Kinh), 5 cuốn sách đầu của Thánh Kinh. Cả lớp lặp đi lặp lại các đoạn trong kinh Torah cho đến khi có thể đọc thuộc lòng. Các học sinh giỏi có thể nhớ hết kinh này khi đến năm 14 tuổi. Giáo viên giải thích cho các em cách sống hằng ngày sao cho phù hợp với các giới điều Chúa đã truyền dạy cho Moise.
Học trò dùng các tấm bảng phủ sáp để viết chữ. Đó là hai hoặc nhiều tấm gỗ được kết lại bằng da như tấm bản lề để có thể mở ra được như một cuốn sách. Các tấm gỗ này nằm trong cái khung, mặt gỗ được tráng bằng sáp ong để học trò có thể viết lên bằng cây viết làm bằng xương, gỗ hoặc kim loại. Đầu nhọn của cây bút để viết và đầu dẹp được dùng để tẩy xóa bằng cách miết lên mặt sáp. Trong sách Tin Mừng thánh Luca, ông Giacari, là thân phụ của thánh Gioan Tẩy Giả, đã dùng một tấm bảng viết như vậy (Lc 1:63). Học trò cũng dùng ostraca là những mảnh sành bể để viết lên trên mặt. Những mảnh này có nhiều, tha hồ mà dùng để tập viết hoặc làm các danh sách ngắn gọn.
Đến lúc học trò đã biết viết giỏi hơn, chúng được học viết trên tờ giấy làm bằng cây sậy, hoặc trên giấy da làm bằng da thú vật đã thuộc và cuộn tròn thành trục. Cuộn da thường có kích thước chừng 9 inches chiều cao và có thể dài tới 35 feet. Chữ được viết thành cột, mỗi cột rộng khoảng từ 2 đến 10 inches. Người đọc từ cuộn sách da như vậy thường dùng một tay để mở đoạn sách sắp đọc về phía bên trái, còn tay kia thì cuộn lại phần đã đọc rồi. Tin mừng thánh Luca (4:16-20) cho ta thấy Đức Giêsu đã mở và cuộn lại như vậy khi Người đọc một đoạn văn trong sách tiên tri Isai.
Mực học sinh dùng để viết trên các cuộn da làm bằng bồ hóng đã cô lại thành bánh. Tại Qumram, nơi cuộn sách Biển Chết (the Dead Sea Scrolls) được tìm thấy, các bình mực khi khám phá ra hãy còn đầy mực đã khô.
Muốn viết trên giấy, trên da hoặc trên mảnh sành, học sinh thường dùng bút lông làm bằng sậy hoặc đôi khi dùng bút sậy có một đầu được chuốt nhọn như đầu ngòi bút. Trước khi bắt đầu viết, chúng lấy mực khô hoà với nước trên một tấm palette tương tự như tấm bảng màu người họa sĩ dùng ngày nay. Viết cho trúng cách không phải là điều dễ vậy mà công việc viết kinh Torah phải thật chính xác. Rất ít ai tiến được lên đến chức vụ chính thức làm người sao chép sách.
Không giống như những học sinh Lamã và Hy lạp cùng sinh hoạt trong thời đó, trẻ em Do thái không học thiên văn, triết học hoặc các môn học khác. Học kinh Torah là mục tiêu chính. Có một câu nói nhiều người ưa trưng dẫn là: “Một đứa bé phải được nuôi mập bằng kinh Torah giống như con bò được vỗ béo trong chuồng”. Âm nhạc rất được ưa chuộng nhưng được dạy tại các buổi thờ phượng hoặc lễ hội. Nghệ thuật không được coi là cógiá trị, phần lớn là vì giới điều cấm người Do thái không được làm tượng thần.
Sau một ngày học - thường chấm dứt lúc buổi trưa - các học sinh trở về nhà, để suốt buổi chiều học hỏi nghề nghiệp của cha, như Đức Giêsu có lẽ đã học nghề của thánh Giuse, và các con ông Zêbêđê học nghề đánh cá với cha mình. Hầu hết các nghề nghiệp đều là do cha truyền con nối.
Khi một bé trai lên 12 hoặc lớn tuổi hơn mà học giỏi và muốn học cao hơn nữa thì có thể lên Giêrusalem làm môn sinh của một giáo sĩ (rabbi), đó là cách mà thánh Phaolô đã theo đuổi khi ngài được giáo huấn “dưới chân của Gamaliel” (CV 22:3).
Con gái không được đến trường học như các anh em trai nhưng có câu tục ngữ:“Mọi người đều phải dạy kinh Torah cho con gái mình”. Một số giáo sĩ phản đối quan điểm này, nhưng như chúng ta thấy trong kinh Magnificat (Lc 1:46-55), Đức Maria đã thuộc nằm lòng nhiều đoạn kinh thánh. Mặc dầu con trai con gái sống đời riêng biệt, nhưng con gái cũng có cách để học kinh Torah. Có thể nhiều bé gái không biết đọc biết viết nhưng học vấn được thích ứng nhờ cách học thuộc lòng bằng trí nhớ. Các cô gái có thể lặp lại được các bản văn dài chỉ nhờ cách nghe đọc tại các buổi thờ phượng. Các thánh vịnh và các phần khác trong thánh kinh có vần điệu như thơ nên dễ nhớ thuộc lòng nhất là khi được phổ kèm theo nhạc.
Khi các anh em trai đi học ở nguyện đường thì con gái ở nhà học canh cửi, đan dệt hoặc bếp núc. Chúng cũng giúp làm vườn và mua bán, lại còn săn sóc trừu và các gia súc khác. Chúng ra các giếng nước trong làng để kéo nước. Hầu hết những cách thức làm việc nhà chúng có lẽ học được trong Sách Châm Ngôn. Hát và vũ là những mặt quan trọng trong đời sống của chúng. Con gái có rất nhiều điều phải học hỏi trong một thời gian qúa ngắn trước những năm chúng lên 12 hoặc 13 tuổi, vì sau đó là tuổi đi lấy chồng.
Chú thích:
Do thái giáo tin rằng kinh Torah là giao ước chân thực, và duy nhất. Trong lúc người không theo Do thái giáo thì gọi kinh Torah là Cựu ước để phân biệt với Tân ước, nhưng người Do thái không công nhận danh từ Cựu Ước.
Torah có nghĩa là hướng đi hoặc giáo huấn, như giáo huấn của cha mẹ hay của bậc khôn ngoan chẳng hạn. Từ này dùng để đề cập đến các giáo huấn của Chúa (đặc biệt là qua thị kiến cho Moise), lề luật và đến những giảng huấn của các ngôn sứ về ý muốn của Thiên Chúa. Xét theo ý nghĩa lề luật, Torah chỉ đề cập đến luật của Chúa.
Chữ Torah áp dụng cho những sách chứa các giảng huấn về thị kiến cho Moise và Lề Luật, nghĩa là Ngũ Kinh là 5 cuốn sách đầu trong kinh thánh : Sáng Thế, Xuất Hành, Lê Vi, Dân Số và Đệ Nhị Luật.
Trong thần học Do thái, Torah trước nhất có nghĩa là toàn bộ các giáo điều Do thái hoặc được dùng làm nền tảng cho các kiến thức và hành xử tôn giáo hoặc là dùng làm nền tảng để học hỏi.
(Catholic Encyclopedia)(dịch từ Catechist)
Trong thời Đức Giêsu, chỉ có con trai mới được đi học. Chừng lên 5 hoặc 6 tuổi, các em trai bất luận giầu nghèo bắt đầu đi học đọc và viết tại các nguyện đường (synagogue) trong làng. Nazareth có một nguyện đường như vậy và có lẽ là nơi Đức Giêsu học những bài học đầu tiên.
Các em ngồi trên nền đất chung quanh giáo viên. Chỗ ngồi của thày thường là một bục cao. Bản văn phải học là kinh Torah (Ngũ Kinh), 5 cuốn sách đầu của Thánh Kinh. Cả lớp lặp đi lặp lại các đoạn trong kinh Torah cho đến khi có thể đọc thuộc lòng. Các học sinh giỏi có thể nhớ hết kinh này khi đến năm 14 tuổi. Giáo viên giải thích cho các em cách sống hằng ngày sao cho phù hợp với các giới điều Chúa đã truyền dạy cho Moise.
Học trò dùng các tấm bảng phủ sáp để viết chữ. Đó là hai hoặc nhiều tấm gỗ được kết lại bằng da như tấm bản lề để có thể mở ra được như một cuốn sách. Các tấm gỗ này nằm trong cái khung, mặt gỗ được tráng bằng sáp ong để học trò có thể viết lên bằng cây viết làm bằng xương, gỗ hoặc kim loại. Đầu nhọn của cây bút để viết và đầu dẹp được dùng để tẩy xóa bằng cách miết lên mặt sáp. Trong sách Tin Mừng thánh Luca, ông Giacari, là thân phụ của thánh Gioan Tẩy Giả, đã dùng một tấm bảng viết như vậy (Lc 1:63). Học trò cũng dùng ostraca là những mảnh sành bể để viết lên trên mặt. Những mảnh này có nhiều, tha hồ mà dùng để tập viết hoặc làm các danh sách ngắn gọn.
Đến lúc học trò đã biết viết giỏi hơn, chúng được học viết trên tờ giấy làm bằng cây sậy, hoặc trên giấy da làm bằng da thú vật đã thuộc và cuộn tròn thành trục. Cuộn da thường có kích thước chừng 9 inches chiều cao và có thể dài tới 35 feet. Chữ được viết thành cột, mỗi cột rộng khoảng từ 2 đến 10 inches. Người đọc từ cuộn sách da như vậy thường dùng một tay để mở đoạn sách sắp đọc về phía bên trái, còn tay kia thì cuộn lại phần đã đọc rồi. Tin mừng thánh Luca (4:16-20) cho ta thấy Đức Giêsu đã mở và cuộn lại như vậy khi Người đọc một đoạn văn trong sách tiên tri Isai.
Mực học sinh dùng để viết trên các cuộn da làm bằng bồ hóng đã cô lại thành bánh. Tại Qumram, nơi cuộn sách Biển Chết (the Dead Sea Scrolls) được tìm thấy, các bình mực khi khám phá ra hãy còn đầy mực đã khô.
Muốn viết trên giấy, trên da hoặc trên mảnh sành, học sinh thường dùng bút lông làm bằng sậy hoặc đôi khi dùng bút sậy có một đầu được chuốt nhọn như đầu ngòi bút. Trước khi bắt đầu viết, chúng lấy mực khô hoà với nước trên một tấm palette tương tự như tấm bảng màu người họa sĩ dùng ngày nay. Viết cho trúng cách không phải là điều dễ vậy mà công việc viết kinh Torah phải thật chính xác. Rất ít ai tiến được lên đến chức vụ chính thức làm người sao chép sách.
Không giống như những học sinh Lamã và Hy lạp cùng sinh hoạt trong thời đó, trẻ em Do thái không học thiên văn, triết học hoặc các môn học khác. Học kinh Torah là mục tiêu chính. Có một câu nói nhiều người ưa trưng dẫn là: “Một đứa bé phải được nuôi mập bằng kinh Torah giống như con bò được vỗ béo trong chuồng”. Âm nhạc rất được ưa chuộng nhưng được dạy tại các buổi thờ phượng hoặc lễ hội. Nghệ thuật không được coi là cógiá trị, phần lớn là vì giới điều cấm người Do thái không được làm tượng thần.
Sau một ngày học - thường chấm dứt lúc buổi trưa - các học sinh trở về nhà, để suốt buổi chiều học hỏi nghề nghiệp của cha, như Đức Giêsu có lẽ đã học nghề của thánh Giuse, và các con ông Zêbêđê học nghề đánh cá với cha mình. Hầu hết các nghề nghiệp đều là do cha truyền con nối.
Khi một bé trai lên 12 hoặc lớn tuổi hơn mà học giỏi và muốn học cao hơn nữa thì có thể lên Giêrusalem làm môn sinh của một giáo sĩ (rabbi), đó là cách mà thánh Phaolô đã theo đuổi khi ngài được giáo huấn “dưới chân của Gamaliel” (CV 22:3).
Con gái không được đến trường học như các anh em trai nhưng có câu tục ngữ:“Mọi người đều phải dạy kinh Torah cho con gái mình”. Một số giáo sĩ phản đối quan điểm này, nhưng như chúng ta thấy trong kinh Magnificat (Lc 1:46-55), Đức Maria đã thuộc nằm lòng nhiều đoạn kinh thánh. Mặc dầu con trai con gái sống đời riêng biệt, nhưng con gái cũng có cách để học kinh Torah. Có thể nhiều bé gái không biết đọc biết viết nhưng học vấn được thích ứng nhờ cách học thuộc lòng bằng trí nhớ. Các cô gái có thể lặp lại được các bản văn dài chỉ nhờ cách nghe đọc tại các buổi thờ phượng. Các thánh vịnh và các phần khác trong thánh kinh có vần điệu như thơ nên dễ nhớ thuộc lòng nhất là khi được phổ kèm theo nhạc.
Khi các anh em trai đi học ở nguyện đường thì con gái ở nhà học canh cửi, đan dệt hoặc bếp núc. Chúng cũng giúp làm vườn và mua bán, lại còn săn sóc trừu và các gia súc khác. Chúng ra các giếng nước trong làng để kéo nước. Hầu hết những cách thức làm việc nhà chúng có lẽ học được trong Sách Châm Ngôn. Hát và vũ là những mặt quan trọng trong đời sống của chúng. Con gái có rất nhiều điều phải học hỏi trong một thời gian qúa ngắn trước những năm chúng lên 12 hoặc 13 tuổi, vì sau đó là tuổi đi lấy chồng.
Chú thích:
Do thái giáo tin rằng kinh Torah là giao ước chân thực, và duy nhất. Trong lúc người không theo Do thái giáo thì gọi kinh Torah là Cựu ước để phân biệt với Tân ước, nhưng người Do thái không công nhận danh từ Cựu Ước.
Torah có nghĩa là hướng đi hoặc giáo huấn, như giáo huấn của cha mẹ hay của bậc khôn ngoan chẳng hạn. Từ này dùng để đề cập đến các giáo huấn của Chúa (đặc biệt là qua thị kiến cho Moise), lề luật và đến những giảng huấn của các ngôn sứ về ý muốn của Thiên Chúa. Xét theo ý nghĩa lề luật, Torah chỉ đề cập đến luật của Chúa.
Chữ Torah áp dụng cho những sách chứa các giảng huấn về thị kiến cho Moise và Lề Luật, nghĩa là Ngũ Kinh là 5 cuốn sách đầu trong kinh thánh : Sáng Thế, Xuất Hành, Lê Vi, Dân Số và Đệ Nhị Luật.
Trong thần học Do thái, Torah trước nhất có nghĩa là toàn bộ các giáo điều Do thái hoặc được dùng làm nền tảng cho các kiến thức và hành xử tôn giáo hoặc là dùng làm nền tảng để học hỏi.
(Catholic Encyclopedia)(dịch từ Catechist)