HOA QUẢ ĐẦU TIÊN CỦA PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC ĐỀ PHÒNG: ĐAMINH, MICAE VÀ PHANXICÔ
Ba mẫu gương trên là những hoa quả đầu mùa của Phương pháp Giáo dục Đề phòng mà Don Bosco gặt hái được. Chính cha thánh đã viết về đời sống của ba em để nêu gương cho các con cái Ngài mai sau cũng như giới trẻ thế giới.
1. Thánh Trẻ Đaminh Saviô - Cha thánh Gioan Bosco gặp cậu Đaminh vào ngày 2/10/1854 trong sân Khánh lễ viện trước căn nhà của Ngài ở Becchi. Ngay từ phút đầu cha thánh đã ngạc nhiên về cậu bé này như sau: Cha nhận ra ngay rằng cậu bé này có một tâm hồn yêu mến Chúa sốt mến, và Cha không ngạc nhiên cảm nhận ơn Chúa hoàn tất nơi tâm hồn cậu trẻ thơ bé này. Rất cởi mở và cương nghị, cậu Đaminh nói với cha thánh: “Con là tấm vải, còn cha là người thợ may, xin cha may thành một tấm áo đẹp dâng Chúa...”. Hai mươi ngày sau cậu dọn vào Khánh lễ viện và nhanh chóng theo con đường nên thánh mà cha thánh Gioan Bosco đề ra cho cậu: phụng sự Chúa trong vui vẻ, chu toàn bổn phận: cầu nguyện và học hành, giúp đỡ các bạn và tôn kính Mẹ Maria.
Vào ngày 8/12/1854 Đức Thánh Cha đã công bố Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đaminh đã tận hiến cho Mẹ Maria qua một lời nguyện mà cậu viết trên một mảnh giấy nhỏ: “Lạy Mẹ Maria, con tận hiến trái tim con cho Mẹ. Xin Mẹ hãy làm cho trái tim thuộc trọn vẹn về Mẹ. Giêsu Maria là bạn của con. Thà chết còn hơn phạm tội.” Trong suốt trăm năm qua, những lời trên đã thành lời cầu cho các đệ tử của Salesian.
Cao điểm cho biến cố cuộc đời của cậu là ngày 8/6/1856 khi Saviô cùng với các bạn Rua, Cagliero, Cerruti, Bongioanni và khoảng chục em khác họp lại thành Hội Mẹ Vô Nhiễm. Các em nguyền trở nên tông đồ cho các bạn mình, nâng dỡ các bạn cô đơn và chia sẻ niềm vui cho nhau.... Cho tới năm 1967 Hội này vẫn còn được áp dụng cho các bạn trẻ trong các nhà Salesian và là nơi ươm trồng các ơn gọi. Chín tháng sau, Saviô đành phải khăn gói dọn về quê, vì cậu ngã bệnh và cậu đã ra đi về nhà Cha trên trời ngày 9/3/1857. Cậu đã được phong thánh vào năm 1954.
2. Chàng Trai Micae Magone thì khác, Don Bosco bắt gặp em ở trạm xe lửa Carmagnola. Trong lúc cha đang chờ xe lửa đi Torinô, cha nghe thấy những tiếng la hò vui nhộn của một nhóm trẻ đang đùa chơi với nhau. Một giọng nói dõng dạc vang lên. Đó là tiếng nói của em đảng trưởng! Không ngại lỡ chuyến tầu, Don Bosco đi tìm em, Ngài đã bắt gặp em và trao đổi dăm câu xã giao, Don Bosco biết cậu 13 tuổi, mồ côi cha và cậu đã bị đuổi khỏi trường vì những ngỗ nghịch, nên cậu đi lang thang...
Thật là một tuổi trẻ đang trên đà hư mất! Cha Thánh đã dàn xếp đưa cậu về Khánh lễ viện của ngài. Trong sân chơi cậu là vua: cậu chạy ngang dọc, điều khiển mọi sự... Cậu la ó, chạy nhảy, đó là bản tính của cậu. Nhưng chỉ tháng sau, cây đã được uốn. Micae trở thành cây tùng tốt lành. Cậu không còn chơi nữa, vẻ mặt đăm chiêu tư lự. Don Bosco sớm nhận ra sự thay đổi này vì cha không chỉ là người gom các trẻ hè phố về chăm sóc mà còn là một nhà giáo dục Công giáo. Cha đã hướng dẫn Micae. Sau một giây phút trầm ngâm, Micae đã bật khóc, cậu thưa với cha Bosco: “Lương tâm con không an bình” và cha Bosco đề nghị với cậu hãy dọn mình xưng tội. Bình an đã trở lại với cậu và cậu tìm lại được niềm vui. Nhưng Chúa lại muốn khác. Một cơn bệnh dữ dội đã đến với cậu vào đầu năm 1859 và Micae đã ra đi về với Chúa sau khi thều thào nói với cha thánh: “Xin cha nói với mẹ con, xin mẹ tha lỗi cho con vì những phá phách ngỗ nghịch con đã làm cho mẹ con buồn. Cha nói với mẹ con rằng con yêu mẹ con.”
3. Cậu Phanxicô Besucco lớn lên trong cảnh trời mây của núi tuyết. Sinh trưởng trong một gia đình Công giáo đạo hạnh, mặc dầu rất nghèo. Gia đình có 5 anh chị em. Sống trong một giáo xứ chênh vênh miền núi, cao hơn mặt biển cả 1684 mét ở vùng núi Argentera. Cha xứ ở đó rất tốt lành, Ngài giúp đỡ cậu học hành và nâng đỡ cậu những gì cần thiết để tiếp tục học hành. Phanxicô là trưởng của đội giúp lễ và cậu cầu nguyện như một thiên thần vậy. Trong các sách mà cha xứ Giuse cho cậu đọc là sách về người bạn trẻ Đaminh Saviô do Don Bosco viết, và Phanxicô mơ ước được vào sống trong Khánh lễ viện của cha Gioan Bosco. Ước nguyện đó được thành tựu ngày 2/8/1863 cậu được vào chung sống trong mái nhà của cha thánh Bosco. Don Bosco đã viết: Cha thấy cậu là một chú bé vùng sơn cước, mạnh khỏe, rắn chắc với một khuôn mặt hơi thô. Đôi mắt tròn xoe thích thú chơi với chúng bạn. Phanxicô nới với cha Bosco con muốn trở nên giống Saviô và con thích làm linh mục.
Don Bosco khám phá thấy Phanxicô có một tâm hồn quảng đại và tốt lành. Cha nói: lòng biết ơn là một dấu hieu báo trước một tương lai tốt. Don Bosco cho hay Phanxicô luôn coi các bạn tốt lành hơn mình nên cậu nói: “Cha giúp con nhé, con muốn nên giống các bạn con.” Don Bosco đã đề ra cho cậu một chương trình đơn giản để nên thánh là: “Vui vẻ, học hành và đạo đức”. Nói về đạo đức, Don Bosco muốn nói tới việc cầu nguyện, xưng tội và rước lễ. Đối với người trẻ đó thật là một chìa khóa nên thánh.
Vào một mùa đông thật khắc nghiệt của năm 1863-64, thầy hộ trực phòng ngủ không để ý là Phanxicô đã hãm mình phạt xác bằng việc không đắp đủ chăn ấm, nên cậu mắc phải chứng cảm lạnh và bảy ngảy ngày sau cậu đã qua đời. Cậu tắt thở trong tay cha thánh Gioan Bosco, cha thấy cậu thì thầm cầu xin: “Giêsu Maria, xin cứu giúp con, con xin phó dâng linh hồn con cho Chúa và Mẹ.”
Ba mẫu gương trên là những hoa quả đầu mùa của Phương pháp Giáo dục Đề phòng mà Don Bosco gặt hái được. Chính cha thánh đã viết về đời sống của ba em để nêu gương cho các con cái Ngài mai sau cũng như giới trẻ thế giới.
1. Thánh Trẻ Đaminh Saviô - Cha thánh Gioan Bosco gặp cậu Đaminh vào ngày 2/10/1854 trong sân Khánh lễ viện trước căn nhà của Ngài ở Becchi. Ngay từ phút đầu cha thánh đã ngạc nhiên về cậu bé này như sau: Cha nhận ra ngay rằng cậu bé này có một tâm hồn yêu mến Chúa sốt mến, và Cha không ngạc nhiên cảm nhận ơn Chúa hoàn tất nơi tâm hồn cậu trẻ thơ bé này. Rất cởi mở và cương nghị, cậu Đaminh nói với cha thánh: “Con là tấm vải, còn cha là người thợ may, xin cha may thành một tấm áo đẹp dâng Chúa...”. Hai mươi ngày sau cậu dọn vào Khánh lễ viện và nhanh chóng theo con đường nên thánh mà cha thánh Gioan Bosco đề ra cho cậu: phụng sự Chúa trong vui vẻ, chu toàn bổn phận: cầu nguyện và học hành, giúp đỡ các bạn và tôn kính Mẹ Maria.
Vào ngày 8/12/1854 Đức Thánh Cha đã công bố Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đaminh đã tận hiến cho Mẹ Maria qua một lời nguyện mà cậu viết trên một mảnh giấy nhỏ: “Lạy Mẹ Maria, con tận hiến trái tim con cho Mẹ. Xin Mẹ hãy làm cho trái tim thuộc trọn vẹn về Mẹ. Giêsu Maria là bạn của con. Thà chết còn hơn phạm tội.” Trong suốt trăm năm qua, những lời trên đã thành lời cầu cho các đệ tử của Salesian.
Cao điểm cho biến cố cuộc đời của cậu là ngày 8/6/1856 khi Saviô cùng với các bạn Rua, Cagliero, Cerruti, Bongioanni và khoảng chục em khác họp lại thành Hội Mẹ Vô Nhiễm. Các em nguyền trở nên tông đồ cho các bạn mình, nâng dỡ các bạn cô đơn và chia sẻ niềm vui cho nhau.... Cho tới năm 1967 Hội này vẫn còn được áp dụng cho các bạn trẻ trong các nhà Salesian và là nơi ươm trồng các ơn gọi. Chín tháng sau, Saviô đành phải khăn gói dọn về quê, vì cậu ngã bệnh và cậu đã ra đi về nhà Cha trên trời ngày 9/3/1857. Cậu đã được phong thánh vào năm 1954.
2. Chàng Trai Micae Magone thì khác, Don Bosco bắt gặp em ở trạm xe lửa Carmagnola. Trong lúc cha đang chờ xe lửa đi Torinô, cha nghe thấy những tiếng la hò vui nhộn của một nhóm trẻ đang đùa chơi với nhau. Một giọng nói dõng dạc vang lên. Đó là tiếng nói của em đảng trưởng! Không ngại lỡ chuyến tầu, Don Bosco đi tìm em, Ngài đã bắt gặp em và trao đổi dăm câu xã giao, Don Bosco biết cậu 13 tuổi, mồ côi cha và cậu đã bị đuổi khỏi trường vì những ngỗ nghịch, nên cậu đi lang thang...
Thật là một tuổi trẻ đang trên đà hư mất! Cha Thánh đã dàn xếp đưa cậu về Khánh lễ viện của ngài. Trong sân chơi cậu là vua: cậu chạy ngang dọc, điều khiển mọi sự... Cậu la ó, chạy nhảy, đó là bản tính của cậu. Nhưng chỉ tháng sau, cây đã được uốn. Micae trở thành cây tùng tốt lành. Cậu không còn chơi nữa, vẻ mặt đăm chiêu tư lự. Don Bosco sớm nhận ra sự thay đổi này vì cha không chỉ là người gom các trẻ hè phố về chăm sóc mà còn là một nhà giáo dục Công giáo. Cha đã hướng dẫn Micae. Sau một giây phút trầm ngâm, Micae đã bật khóc, cậu thưa với cha Bosco: “Lương tâm con không an bình” và cha Bosco đề nghị với cậu hãy dọn mình xưng tội. Bình an đã trở lại với cậu và cậu tìm lại được niềm vui. Nhưng Chúa lại muốn khác. Một cơn bệnh dữ dội đã đến với cậu vào đầu năm 1859 và Micae đã ra đi về với Chúa sau khi thều thào nói với cha thánh: “Xin cha nói với mẹ con, xin mẹ tha lỗi cho con vì những phá phách ngỗ nghịch con đã làm cho mẹ con buồn. Cha nói với mẹ con rằng con yêu mẹ con.”
3. Cậu Phanxicô Besucco lớn lên trong cảnh trời mây của núi tuyết. Sinh trưởng trong một gia đình Công giáo đạo hạnh, mặc dầu rất nghèo. Gia đình có 5 anh chị em. Sống trong một giáo xứ chênh vênh miền núi, cao hơn mặt biển cả 1684 mét ở vùng núi Argentera. Cha xứ ở đó rất tốt lành, Ngài giúp đỡ cậu học hành và nâng đỡ cậu những gì cần thiết để tiếp tục học hành. Phanxicô là trưởng của đội giúp lễ và cậu cầu nguyện như một thiên thần vậy. Trong các sách mà cha xứ Giuse cho cậu đọc là sách về người bạn trẻ Đaminh Saviô do Don Bosco viết, và Phanxicô mơ ước được vào sống trong Khánh lễ viện của cha Gioan Bosco. Ước nguyện đó được thành tựu ngày 2/8/1863 cậu được vào chung sống trong mái nhà của cha thánh Bosco. Don Bosco đã viết: Cha thấy cậu là một chú bé vùng sơn cước, mạnh khỏe, rắn chắc với một khuôn mặt hơi thô. Đôi mắt tròn xoe thích thú chơi với chúng bạn. Phanxicô nới với cha Bosco con muốn trở nên giống Saviô và con thích làm linh mục.
Don Bosco khám phá thấy Phanxicô có một tâm hồn quảng đại và tốt lành. Cha nói: lòng biết ơn là một dấu hieu báo trước một tương lai tốt. Don Bosco cho hay Phanxicô luôn coi các bạn tốt lành hơn mình nên cậu nói: “Cha giúp con nhé, con muốn nên giống các bạn con.” Don Bosco đã đề ra cho cậu một chương trình đơn giản để nên thánh là: “Vui vẻ, học hành và đạo đức”. Nói về đạo đức, Don Bosco muốn nói tới việc cầu nguyện, xưng tội và rước lễ. Đối với người trẻ đó thật là một chìa khóa nên thánh.
Vào một mùa đông thật khắc nghiệt của năm 1863-64, thầy hộ trực phòng ngủ không để ý là Phanxicô đã hãm mình phạt xác bằng việc không đắp đủ chăn ấm, nên cậu mắc phải chứng cảm lạnh và bảy ngảy ngày sau cậu đã qua đời. Cậu tắt thở trong tay cha thánh Gioan Bosco, cha thấy cậu thì thầm cầu xin: “Giêsu Maria, xin cứu giúp con, con xin phó dâng linh hồn con cho Chúa và Mẹ.”