Mẹ Maria, người nội trợ
Có một số tranh ảnh đạo vẽ cho ta thấy ngay bên cạnh Đức Mẹ là các vị thiên thần “kêrubim” đang làm mọi công việc nội trợ cho Người trong khi Người ngồi thảnh thơi nhàn tản. Những tưởng tượng đầy cảm tính như vậy về cuộc sống trong ngôi nhà nhỏ tại Nazareth nghĩ ra thì thật đẹp nhưng hoàn toàn sai. Không có thiên thần nào cầm chổi quét nhà cho Mẹ Maria cả. Thực phẩm cho gia đình của Người không phải từ trời rớt xuống. Quần áo của Người không sạch sẽ tươm tất do một tác động can thiệp đặc biệt nào.
Chúng ta đều biết công việc nội trợ ở vùng Galilê cổ xưa thật thô thiển và tẻ nhạt. Đức Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse sống một cuộc đời thường như bao gia đình Do thái lúc đó. Không thấy có thiên thần nào trông nom cả. Các chi tiết về cuộc sống thường nhật của thánh gia là những phỏng đoán dựa trên khảo cổ học và các văn bản cổ. Hầu hết các chi tiết trong bài dưới đây rút ra từ cuốn sách Cuộc sống thường nhật trong thời Đức Giêsu của Henri Daniel-Rops.
Nazareth thời Đức Giêsu là một thị trấn nhỏ có khoảng 500 cư dân. Nhà ở san sát nhau nên không giữ được lối sống riêng tư, nhưng gia đình và bạn bè luôn luôn sống thật gần gũi. Cảnh trí ở Nazareth gồm có những hang động thiên nhiên hoặc những phòng chứa đục sâu vào vách đá. Truyền thuyết cho rằng ngôi nhà thời thơ ấu của Đức Mẹ là một cái hang được cải biến, nhưng ta không rõ loại nhà Đức Mẹ và thánh Giuse cư ngụ ra sao. Thường cư dân ở trong những nhà nhỏ vách kết bằng cành cây trét bùn, nền nhà bằng đất nện, một cửa sổ có màn che và một cửa ra vào. Bên ngoài có một chiếc thang để trèo lên sân thượng là một mái bằng dùng làm nơi phơi quần áo và thực phẩm, cũng là chỗ gia đình có thể nằm ngủ khi thời tiết quá nóng bức.
Vì nghề nghiệp của Thánh Giuse trong tiếng Hy lạp là tekton có nghĩa là người xây cất (builder), rộng nghĩa hơn là từ ngữ thợ mộc (carpenter), chúng ta có thể phỏng đoán là chính ngài cất lấy nhà ở, có lẽ làm thêm hai cái chái thẳng góc với gian phòng chính để làm việc và chứa đồ. Khi thời tiết tốt, chỗ phụ thêm đó có thể là chỗ ở của đàn dê nuôi để lấy sữa. Ba bộ phận của ngôi nhà quây lại có thể tạo thành một cái sân có vải che. Nơi đây là chỗ Mẹ Maria làm mọi công việc nội trợ, và là nơi cả gia đình thường ngồi ăn uống.
Trong nhà là chỗ để ngủ nghỉ; quần áo và vật dụng chứa trong rương hoặc trong các hốc tường. Gia đình Mẹ ngủ trên các tấm đệm đan bằng cói đặt trên nền nhà, thường mặc cả áo choàng mà ngủ. Anh sáng yếu ớt trong nhà phát ra từ chiếc đèn dầu mà Mẹ chăm sóc thật tỉ mỉ, nhất là vào ngày Sabbath, ngày mà dù châm dầu vào đèn cũng không được phép làm.
Một công việc khó khăn của Mẹ là lấy nước cho gia đình dùng. Nazareth chỉ có một giếng nước, giếng này ngày nay vẫn còn. Tất cả nước dùng vào việc tắm giặt và uống, theo đúng luật Do thái lúc đó, được lấy từ giếng về trong một chiếc vò cao bằng sành ngất ngư trên đầu Mẹ khi Người đội về nhà.
Nấu ăn cho gia đình cũng là nhiệm vụ của Mẹ. Thường mỗi ngày có hai bữa: buổi sáng ăn bánh với sữa lỏng, sữa chua hoặc phómát; bữa tối là bữa ăn chính gồm có rau đậu um ăn với bánh mì. Chúng ta biết nhiều về thực phẩm hơn là các mặt khác trong đời sống người Do thái xưa, vì nó rất giống với cách ăn uống của người Trung đông ngày nay.
Bánh là thực phẩm căn bản của đời sống và được tôn kính nên chỉ bẻ ra chứ không bao giờ cắt. Lúa mạch và kê được ăn nhiều hơn là lúa mì. Bánh ăn hàng ngày thường làm bằng lúa mạch. Bột lúa mì xay nhuyễn chỉ dành làm bánh cho ngày lễ. Dù là bột gì thì Mẹ cũng phải tốn nhiều thì giờ trong phần việc xay bột hàng ngày bằng chiếc cối đá xay tay.
Bột nhào được cho lên men bằng nắm bột để dành lại từ hôm trước, dĩ nhiên là trừ vào dịp lễ Vượt qua khi luật buộc ăn bánh không men. Thế nên Mẹ phải nuôi một số men mới mỗi mùa xuân. Bột bánh được nắn tròn và nướng trong các lò đất đốt cháy bằng than. Loại bánh mỏng thì nướng trên các tấm kim loại tròn và dẹp.
Các món ăn khác được nấu trong nồi đất đặt trên các viên gạch kê gần nhau ở trong sân nhà. Nhiên liệu để nấu nướng thường là cành cây, cỏ hoặc phân súc vật phơi khô. Mặc dầu Mẹ dùng dao, muỗng và cái vá để nấu nướng thức ăn, nhưng gia đình thường ăn bằng tay, có lẽ dùng bánh xúc lấy một phần rau đậu om từ đĩa ăn chung.
Chắc nguồn cung cấp protein của họ lấy từ đậu tằm (fava), đậu lăng (lentil) hoặc đậu xanh (chickpea), sữa uống hoặc đôi lúc từ cá khô. Thịt trừu hoặc thịt dê là thức ăn hiếm chỉ có vào ngày lễ như Vượt qua. Nhưng rau quả thì có nhiều: hành, tỏi, ôliu, dưa, nho, vả, mận và lựu. Trái hạnh đào, quả hồ trăn (pistachios) và óc chó (walnuts) cũng được dùng. Các loại rau thơm ở địa phương như rau quế, ngò sàng, mùtạc (mustard), rau mùi và thì là Ai cập (cumin) làm tăng khẩu vị thức ăn, cũng như mật ong và nước trái cây là những vị ngọt. Dầu ôliu là chất béo thường ngày, dùng để thắp sáng, xức dầu và làm thực phẩm. Mọi người đều uống rượu đỏ pha loãng.
Chúng ta không biết Thánh Giuse có đóng bàn ghế cho gia đình không, nhưng các gia đình khá giả thời đó đã dùng đồ mộc. Gia đình Đức Mẹ có lẽ dùng bữa ngồi trên các tấm đệm đặt trên nền nhà, Mẹ thường đợi cho Chúa Giêsu và thánh Giuse ăn xong rồi mới dùng bữa. Tuân thủ mọi cách thức về ăn uống cho đúng luật lệ Do thái là bổn phận cao cả của Mẹ.
Mẹ cũng phải lo quần áo cho mọi người trong nhà. Đàn ông đàn bà mặc loại áo thụng dài, áo choàng không tay (mantles) và khăn quàng vai (saches) cùng với xà rông (loinclothes) cho đàn ông và khăn choàng cho đàn bà. Vải được làm đơn thuần bằng len hoặc bằng sợi, không bao giờ pha trộn hai thứ lại với nhau. Sợi vải thường để nguyên màu, nhưng đôi khi có nhuộm, và màu xanh chàm là màu được nhiều người ưa chuộng.
Dệt vải là công việc tinh xảo của phụ nữ, và tốn nhiều giờ nên Mẹ Maria lúc nào cũng để nguyên lõi chỉ trên guồng quay để khi nào rảnh rang là quay guồng xe chỉ. Người dệt vải trên một chiếc khung cửi thẳng đứng đơn giản và khâu quần áo bằng tay. Quần áo thì đuợc giặt bằng một loại xà bông làm từ thảo mộc (soapwort) hoặc bằng sôđa (xin coi chú thích ở cuối bài).
Ngày Sabbath là ngày của Chúa, Mẹ được nghỉ lễ nhưng nhà cửa phải dọn dẹp sạch sẽ và thức ăn phải sửa soạn trước khi ngày bắt đầu vào lúc hoàng hôn ngày thứ Sáu. Thế nhưng giữ cho ngôi nhà nơi Chúa Giêsu và thánh Giuse cư ngụ được như một chỗ ở lý tưởng theo tập tục Do thái là một niềm vui đặc biệt của Mẹ, được hoàn thành với nhiều công sức và tình thương yêu không bờ bến, chứ chẳng phải do những bàn tay của các vị thiên thần “kêrubim” nào.
Ghi chú: Soapwort còn được gọi là Bouncing Bet hay Saponaria officinalis là một loại cây lưu niên (perennial) mọc thấp có hoa màu trắng hoặc màu hồng. Trong thời cổ, lá cây dùng làm thuốc giặt.
Washing soda: lấy từ natron là một khoáng chất màu trắng, vàng hoặc xám, gồm có hydrous sodium carbonate tìm thấy trong các chất cặn nước muối. Có thời natron được dùng để tẩm liệm xác chết.
(dịch theo Catholic Parent)
Có một số tranh ảnh đạo vẽ cho ta thấy ngay bên cạnh Đức Mẹ là các vị thiên thần “kêrubim” đang làm mọi công việc nội trợ cho Người trong khi Người ngồi thảnh thơi nhàn tản. Những tưởng tượng đầy cảm tính như vậy về cuộc sống trong ngôi nhà nhỏ tại Nazareth nghĩ ra thì thật đẹp nhưng hoàn toàn sai. Không có thiên thần nào cầm chổi quét nhà cho Mẹ Maria cả. Thực phẩm cho gia đình của Người không phải từ trời rớt xuống. Quần áo của Người không sạch sẽ tươm tất do một tác động can thiệp đặc biệt nào.
Chúng ta đều biết công việc nội trợ ở vùng Galilê cổ xưa thật thô thiển và tẻ nhạt. Đức Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse sống một cuộc đời thường như bao gia đình Do thái lúc đó. Không thấy có thiên thần nào trông nom cả. Các chi tiết về cuộc sống thường nhật của thánh gia là những phỏng đoán dựa trên khảo cổ học và các văn bản cổ. Hầu hết các chi tiết trong bài dưới đây rút ra từ cuốn sách Cuộc sống thường nhật trong thời Đức Giêsu của Henri Daniel-Rops.
Nazareth thời Đức Giêsu là một thị trấn nhỏ có khoảng 500 cư dân. Nhà ở san sát nhau nên không giữ được lối sống riêng tư, nhưng gia đình và bạn bè luôn luôn sống thật gần gũi. Cảnh trí ở Nazareth gồm có những hang động thiên nhiên hoặc những phòng chứa đục sâu vào vách đá. Truyền thuyết cho rằng ngôi nhà thời thơ ấu của Đức Mẹ là một cái hang được cải biến, nhưng ta không rõ loại nhà Đức Mẹ và thánh Giuse cư ngụ ra sao. Thường cư dân ở trong những nhà nhỏ vách kết bằng cành cây trét bùn, nền nhà bằng đất nện, một cửa sổ có màn che và một cửa ra vào. Bên ngoài có một chiếc thang để trèo lên sân thượng là một mái bằng dùng làm nơi phơi quần áo và thực phẩm, cũng là chỗ gia đình có thể nằm ngủ khi thời tiết quá nóng bức.
Vì nghề nghiệp của Thánh Giuse trong tiếng Hy lạp là tekton có nghĩa là người xây cất (builder), rộng nghĩa hơn là từ ngữ thợ mộc (carpenter), chúng ta có thể phỏng đoán là chính ngài cất lấy nhà ở, có lẽ làm thêm hai cái chái thẳng góc với gian phòng chính để làm việc và chứa đồ. Khi thời tiết tốt, chỗ phụ thêm đó có thể là chỗ ở của đàn dê nuôi để lấy sữa. Ba bộ phận của ngôi nhà quây lại có thể tạo thành một cái sân có vải che. Nơi đây là chỗ Mẹ Maria làm mọi công việc nội trợ, và là nơi cả gia đình thường ngồi ăn uống.
Trong nhà là chỗ để ngủ nghỉ; quần áo và vật dụng chứa trong rương hoặc trong các hốc tường. Gia đình Mẹ ngủ trên các tấm đệm đan bằng cói đặt trên nền nhà, thường mặc cả áo choàng mà ngủ. Anh sáng yếu ớt trong nhà phát ra từ chiếc đèn dầu mà Mẹ chăm sóc thật tỉ mỉ, nhất là vào ngày Sabbath, ngày mà dù châm dầu vào đèn cũng không được phép làm.
Một công việc khó khăn của Mẹ là lấy nước cho gia đình dùng. Nazareth chỉ có một giếng nước, giếng này ngày nay vẫn còn. Tất cả nước dùng vào việc tắm giặt và uống, theo đúng luật Do thái lúc đó, được lấy từ giếng về trong một chiếc vò cao bằng sành ngất ngư trên đầu Mẹ khi Người đội về nhà.
Nấu ăn cho gia đình cũng là nhiệm vụ của Mẹ. Thường mỗi ngày có hai bữa: buổi sáng ăn bánh với sữa lỏng, sữa chua hoặc phómát; bữa tối là bữa ăn chính gồm có rau đậu um ăn với bánh mì. Chúng ta biết nhiều về thực phẩm hơn là các mặt khác trong đời sống người Do thái xưa, vì nó rất giống với cách ăn uống của người Trung đông ngày nay.
Bánh là thực phẩm căn bản của đời sống và được tôn kính nên chỉ bẻ ra chứ không bao giờ cắt. Lúa mạch và kê được ăn nhiều hơn là lúa mì. Bánh ăn hàng ngày thường làm bằng lúa mạch. Bột lúa mì xay nhuyễn chỉ dành làm bánh cho ngày lễ. Dù là bột gì thì Mẹ cũng phải tốn nhiều thì giờ trong phần việc xay bột hàng ngày bằng chiếc cối đá xay tay.
Bột nhào được cho lên men bằng nắm bột để dành lại từ hôm trước, dĩ nhiên là trừ vào dịp lễ Vượt qua khi luật buộc ăn bánh không men. Thế nên Mẹ phải nuôi một số men mới mỗi mùa xuân. Bột bánh được nắn tròn và nướng trong các lò đất đốt cháy bằng than. Loại bánh mỏng thì nướng trên các tấm kim loại tròn và dẹp.
Các món ăn khác được nấu trong nồi đất đặt trên các viên gạch kê gần nhau ở trong sân nhà. Nhiên liệu để nấu nướng thường là cành cây, cỏ hoặc phân súc vật phơi khô. Mặc dầu Mẹ dùng dao, muỗng và cái vá để nấu nướng thức ăn, nhưng gia đình thường ăn bằng tay, có lẽ dùng bánh xúc lấy một phần rau đậu om từ đĩa ăn chung.
Chắc nguồn cung cấp protein của họ lấy từ đậu tằm (fava), đậu lăng (lentil) hoặc đậu xanh (chickpea), sữa uống hoặc đôi lúc từ cá khô. Thịt trừu hoặc thịt dê là thức ăn hiếm chỉ có vào ngày lễ như Vượt qua. Nhưng rau quả thì có nhiều: hành, tỏi, ôliu, dưa, nho, vả, mận và lựu. Trái hạnh đào, quả hồ trăn (pistachios) và óc chó (walnuts) cũng được dùng. Các loại rau thơm ở địa phương như rau quế, ngò sàng, mùtạc (mustard), rau mùi và thì là Ai cập (cumin) làm tăng khẩu vị thức ăn, cũng như mật ong và nước trái cây là những vị ngọt. Dầu ôliu là chất béo thường ngày, dùng để thắp sáng, xức dầu và làm thực phẩm. Mọi người đều uống rượu đỏ pha loãng.
Chúng ta không biết Thánh Giuse có đóng bàn ghế cho gia đình không, nhưng các gia đình khá giả thời đó đã dùng đồ mộc. Gia đình Đức Mẹ có lẽ dùng bữa ngồi trên các tấm đệm đặt trên nền nhà, Mẹ thường đợi cho Chúa Giêsu và thánh Giuse ăn xong rồi mới dùng bữa. Tuân thủ mọi cách thức về ăn uống cho đúng luật lệ Do thái là bổn phận cao cả của Mẹ.
Mẹ cũng phải lo quần áo cho mọi người trong nhà. Đàn ông đàn bà mặc loại áo thụng dài, áo choàng không tay (mantles) và khăn quàng vai (saches) cùng với xà rông (loinclothes) cho đàn ông và khăn choàng cho đàn bà. Vải được làm đơn thuần bằng len hoặc bằng sợi, không bao giờ pha trộn hai thứ lại với nhau. Sợi vải thường để nguyên màu, nhưng đôi khi có nhuộm, và màu xanh chàm là màu được nhiều người ưa chuộng.
Dệt vải là công việc tinh xảo của phụ nữ, và tốn nhiều giờ nên Mẹ Maria lúc nào cũng để nguyên lõi chỉ trên guồng quay để khi nào rảnh rang là quay guồng xe chỉ. Người dệt vải trên một chiếc khung cửi thẳng đứng đơn giản và khâu quần áo bằng tay. Quần áo thì đuợc giặt bằng một loại xà bông làm từ thảo mộc (soapwort) hoặc bằng sôđa (xin coi chú thích ở cuối bài).
Ngày Sabbath là ngày của Chúa, Mẹ được nghỉ lễ nhưng nhà cửa phải dọn dẹp sạch sẽ và thức ăn phải sửa soạn trước khi ngày bắt đầu vào lúc hoàng hôn ngày thứ Sáu. Thế nhưng giữ cho ngôi nhà nơi Chúa Giêsu và thánh Giuse cư ngụ được như một chỗ ở lý tưởng theo tập tục Do thái là một niềm vui đặc biệt của Mẹ, được hoàn thành với nhiều công sức và tình thương yêu không bờ bến, chứ chẳng phải do những bàn tay của các vị thiên thần “kêrubim” nào.
Ghi chú: Soapwort còn được gọi là Bouncing Bet hay Saponaria officinalis là một loại cây lưu niên (perennial) mọc thấp có hoa màu trắng hoặc màu hồng. Trong thời cổ, lá cây dùng làm thuốc giặt.
Washing soda: lấy từ natron là một khoáng chất màu trắng, vàng hoặc xám, gồm có hydrous sodium carbonate tìm thấy trong các chất cặn nước muối. Có thời natron được dùng để tẩm liệm xác chết.
(dịch theo Catholic Parent)