TÓM TẮT BA BÀI TĨNH TÂM MÙA CHAY 2004
I. TẠI SAO PHẢI TĨNH TÂM? (ngày thứ nhất)
Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn gởi đến anh chị em và các bạn câu hỏi khác: Dấu chỉ nào để biết một Kitô hữu?
Hiểu theo nghĩa mặt chữ thì: Kitô hữu là người có Chúa Kitô.
Trong nước rửa tội, ta gia nhập Hội Thánh của Chúa Kitô. Chúa Kitô là Đầu, Hội Thánh là thân thể của Người. Nếu Đầu là Con Thiên Chúa, thân thể một khi kết hợp với Đầu, trở thành Kitô hữu, cũng lại là Con của Thiên Chúa. Vì Đầu là con, thân thể cũng là con.
Nhưng dù đã là Con Thiên Chúa, đã thuộc về Chúa Kitô, đó chưa phải là điểm kết của tên gọi Kitô hữu. Hay nói ngược lại, không bao giờ ta được phép dừng lại ở một lối suy nghĩ rằng: vì tôi là Kitô hữu, đã được rửa tội, đương nhiên tôi là Con Thiên Chúa. Vì là người có Chúa Kitô ở cùng, thế là đủ, tôi sẽ an tâm trong lối sống của mình. Chẳng cần nỗ lực, chẳng cần cố gắng làm chi.
Hiểu như thế là sai lầm, là làm cớ vấp phạm cho nhiều người quanh ta, nhất là những người mà ta lãnh trách nhiệm giáo dục họ, những anh chị em bên ngoài Công giáo… Hiểu như thế, nghĩa là ta đang tự giết chết chính đời sống Kitô hữu của bản thân. Hiểu như thế, chính ta sẽ là người tự tay dập tắt ơn cứu độ Chúa ban cho bản thân mình. Hiểu như thế, rất có thể ta sẽ trở thành một kẻ bê tha, độc ác, thủ đoạn, dâm đảng, say sưa, lừa lọc… Vì hiểu như thế chính là biểu hiện của một kẻ chẳng còn đức tin. Nếu không tin Thiên Chúa, không tin một Đấng thiêng liêng ở bên trên mình, có tội ác nào mình không dám phạm!
Cũng một cách hiểu như thế, người Do thái đã bị Chúa phản đối: “Thiên Chúa có thể biến những hòn đá này thành con cái Apraham”.
Đúng! Chúng ta có tên gọi rất cao cả là Kitô hữu. Nhưng người Kitô hữu thì không bao giờ cho phép mình chỉ dừng ở danh xưng mà lại có thể coi mình là Kitô hữu. Vì điều quan trọng, trước hết là đời sống chứ không phải danh xưng. Bởi thế vào đạo chưa phải là tốt nhất. Điều tối cần thiết là giữ mình trong đời sống đạo, chứ không phải vì mình đã được rửa tội. Chỉ có đời sống, chứ không phải danh xưng, mới chứng minh rằng ta là một Kitô hữu.
Đời sống của một Kitô hữu đích thực phải là một đời sống lương thiện, thánh thiện, biết sợ sự dữ, tránh xa dịp tội, tránh xa những gì có nguy cơ lôi kéo mình xa Chúa… họ cũng hãy là người biết đề cao tình yêu, bác ái, vị tha, khoang dung, chung thủy… Sống đời Kitô Kitô hữu còn là sống một tình yêu hiệp thông không ngừng với Thiên Chúa bằng sự cầu nguyện liên lỷ, bằng tuân giữ Lời Chúa, tha thiết và ước ao sống với Chúa ngày một thấm đậm hơn.
Nhưng ta mang thân phận yếu hèn, dễ sa ngã, dễ làm đổ vỡ ơn Chúa, làm cho đời Kitô hữu của mình lu mờ. Thậm chí, nhiều anh em quanh mình đã ngã lòng trông cậy, có khi còn ở lỳ trong tình trạng tội lỗi. Tắt một lời, do cuộc sống lắm khắc nghiệt, hay mải bon chen đời thường và nhiều cám dỗ khác nhau, chúng ta đã làm suy giảm, hoặc đã đánh mất hoàn toàn tình trạng ơn thánh của mình. Bởi thế, ta cần có những khoảnh khắc hồi tâm để nhận ra mình, để đọc lại quá khứ đời mình mà thú nhận những lầm lỡ trước mặt Chúa.
Khoảnh khắc hồi tâm ấy, gọi là tĩnh tâm.
Vậy ngay giờ phút này, anh chị em, các bạn trẻ hãy xua đi mọi ồn ào quanh mình, mọi lo toan đời thường, dù đó là những lo lắng rất thực tế như: cơm - áo - gạo - tiền, để lắng đọng tâm hồn, hướng về Chúa, nguyện xin Chúa Thánh Thần chiếm lấy tâm hồn, nhờ đó mỗi một người tham dự những ngày tĩnh tâm này thêm sốt mến, hiệu quả và tràn ngập ơn tha thứ của Chúa.
Anh chị em hãy tạm quyên đi những nỗi thương buồn, có thể đang vương trong tâm hồn. Anh chị em hãy cố gắng xua đi những nỗi nhọc nhằn, mồ hôi và nước mắt của một ngày sống vất vả, mỏi mệt. Anh chị em cũng hãy tạm gác lại những bộn bề của cuộc sống: nào là tranh chấp, giận hờn, nhà chưa đủ ấm, áo chưa đủ lành… Thay vào đó, anh chị em và các bạn hãy dâng lên Chúa, xin Chúa thánh hóa tất cả. Hãy tạm quyên tất cả ngay trong giây phút này, để lòng mở ngỏ cho Lời và ơn của Chúa thấm đẫm hồn mình. Vì nếu trong một ít thời gian như thế này, ta có lo lắng, muộn phiền, thì cũng chẳng giải quyết được gì. Nhưng nếu ta dâng lên Chúa và biết chắc chắn Người không bỏ rơi ta, tâm hồn mình sẽ bình an hơn. Và nhờ Chúa, những lao nhọc đời thường kia, tưởng chừng trôi tuột, lại sinh ơn cứu độ đời đời không những cho ta mà còn cho anh chị em xung quanh nữa.
Vậy hãy lắng đọng tâm hồn để tĩnh tâm. Và tĩnh tâm để tìm lại ý nghĩa trọn vẹn cho chức vị làm con Thiên Chúa của một tâm hồn vốn đã là Kitô hữu, nhưng lắm khi đã đánh mất hình ảnh của Chúa Kitô nơi lòng mình. Bởi tấm lòng ấy vướng quá nhiều lo lắng ồn ào của đời sống.
II. ƠN GỌI KITÔ HỮU (ngày thứ hai)
Trong lịch sử Giáo Hội, từ ngàn xưa, để trao cho ai nhiệm vụ gì, Chúa ban cho họ ơn gọi, mời gọi họ thực thi sứ mạng theo ý của Người. Chẳng hạn:
- Để làm dấu chỉ cho sự ăn năn sám hối, cũng là dấu chỉ của tình yêu bao la mà Chúa dành cho dân của Người, Người dạy tiên tri Hôsê cưới lấy một người vợ đàn điếm, phản bội. Còn tiên tri phải yêu thương, tha thứ cho người vợ ấy. Qua tiên tri Hôsê, Thiên Chúa minh chứng rằng: con người luôn phản bội, còn Thiên Chúa luôn yêu thương, đón nhận, thủy chung, tha thứ… Trong ơn gọi của mình, tiên tri đã vâng lời Chúa, làm dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa và kêu gọi lòng hoán cải của toàn dân.
- Người đã kêu gọi Abraham, để nơi ông, Người thành lập cho riêng mình một dân tộc cưu mang ơn cứu độ của toàn thế giới.
- Để thành lập Giáo Hội, Chúa Giêsu đã tuyển chọn và mời gọi các thánh Tông Đồ và nhiều môn đệ khác đi theo Người.
- Để tiếp nối dòng lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã tuyển chọn bao nhiêu vị thánh. Chẳng hạn: Thánh Phaolô, thánh Augustinô, thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, và nhiều vị thánh của Giáo Hội.
Hôm nay, Người tiếp tục mời gọi chúng ta bước vào đời sống của một Kitô hữu. Trên nền tảng của ơn gọi Kitô hữu ấy, ta sẽ thực thi cách cụ thể theo từng ơn gọi riêng của đời mình như: ơn gọi tu trì, ơn gọi sống giữa đời, sống độc thân, làm người công nhân, làm thầy cô giáo…
Nhưng đó chưa phải là điểm cuối cùng của ơn gọi Kitô hữu. Tất cả những sứ mạng mà chúng ta lãnh nhận đều phải nhắm đến một ơn gọi nền tảng: ƠN GỌI NÊN THÁNH. Muốn nên thánh, Người Kitô hữu phải sống mẫu mực, sống như đang có Chúa Kitô sống trong tâm hồn mình. Từ đây ơn gọi Kitô hữu kéo theo những liên hệ mới: Sống như Chúa Kitô là sống một đời sống chứng tá hoàn hảo. Mà sống chứng tá là thực thi ơn gọi truyền giáo.
Nếu nói cho đến kỳ cùng: Ơn gọi Kitô hữu phải được thể hiện trong ơn gọi truyền giáo bằng đời sống chứng tá. Và đích đến cuối cùng của ơn gọi Kitô hữu chính là nên thánh.
III. ĐỨC MARIA - MẪU GƯƠNG CÁC KITÔ HỮU (ngày thứ ba)
Chúng ta có thể nêu ra rất nhiều những nhân đức mà Đức Maria, một Kitô hữu hoàn hảo đã để lại cho mình, như: khiêm nhường, hiều hậu, từ bi, khoang dung, bác ái, chịu đựng, lắng nghe lời Chúa…
Nhưng ở đây, chúng ta chỉ nhắc đến một nhân đức tuyệt vời của Đức Maria: xin Vâng đến cùng.
Cả cuộc đời của Mẹ là một chuỗi dài của lời xin vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Mẹ vâng phục trong một lối sống thánh thiện ở giữa gia đình, bên cạnh cha mẹ của mình là thánh Anna và thánh Gioan Kim. Mẹ vâng phục khi đón nhận một gia đình, đón nhận Chúa Giêsu làm con của mình từ khi thành thai đến lúc kết thúc cuộc đới dương thế của Người Con ấy…
Đặc biệt, hình ảnh Đức Maria giữa pháp trường, cùng hiện diện bên cạnh Cây Tử Nạn của Con là một lời xin Vâng mãnh liệt, một lời xin Vâng lớn lao đến nỗi Mẹ đã chấp nhận trao hiến chính Người Con Một yêu dấu. Nơi lời xin Vâng của Mẹ, ngoài Chúa Kitô, có còn lời xin Vâng nào đẹp lòng Chúa như thế.
Sở dĩ lời xin Vâng của Mẹ nên cao cả, và là mẫu gương cho mọi lời xin vâng của mọi Kitô hữu, bởi lẽ lời xin Vâng ấy, không chỉ bằng lời, nhưng trước hết, là một thái độ Vâng Phục của đức tin: tín thác hoàn toàn, trông cậy đến mức không một trở lực nào có thể cản bước. Yêu mến trọn vẹn cho dù tan cõi nát lòng.
Lời xin Vâng của Mẹ đã gợi hứng cho lời ca ngợi đầy lòng tin trong bài ca “Calvê mặt trời đã tắt” của tác giả Phương Anh: “Khi mặt trời đồi Calvê đã tắt, muôn trăng sao khóc thương Ngài lìa đời. Khi Giêsu dang tay nhìn loài người, khi Giêsu trút hết hơi thở tình yêu, thì mẹ Maria vẫn tin vững vàng đó là Thiên Chúa, Đấng chí tôn toàn năng. Thì Mẹ maria vẫn tin vững vàng, đó là Thiên Chúa, Đấng Cứu Tinh trần gian”.
Mẹ Maria có rất nhiều nhân đức. Mỗi nhân đức của Mẹ đều là bài học quý giá, để ta học lấy mà sống đời Kitô hữu hoàn hảo như Mẹ. Nhưng bây giờ chỉ còn một ít thời gian nữa, cả Giáo Hội cùng bước theo Chúa Kitô trên đường thương khó để sống lại hành trình thập giá trong những ngày cuối đời dương thế của Người. Bởi vậy, tôi mời anh chị em và các bạn trẻ, ngắm nhìn Đức Maria để học lấy tiếng xin Vâng của Mẹ. Nhất là tiếng xin Vâng được dâng hiến trên đường thập giá đến mức tuyệt vời.
Học lấy tiếng xin Vâng của Mẹ để cùng đi với Mẹ, cùng chấp nhận thập giá đớn đau, cùng chịu lột trần, chịu đâm thấu và gục đầu chết tan thương, nhục nhã trong cái chết của Người Con dấu ái, cũng là Chúa của Mẹ và Chúa của chúng ta.
Tiếng Xin Vâng của Mẹ Maria là nối dài tiếng xin Vâng của Chúa Kitô. Vì thế, hôm nay bên cạnh Chúa Kitô, sống lại đường Thánh Giá của Người trong tuần Thánh, chúng ta hãy bắt chước Mẹ dâng hiến trọn vẹn thập giá đời ta, để Thánh Giá Chúa Kitô thánh hóa mình. Và khi xin vâng như Chúa Kitô đã xin Vâng, điều mà Đức Maria đã thực hành trước chúng ta, xét ở một khía cạnh nào đó, chúng ta đã sống trọn vẹn chức danh Kitô hữu của mình.
Nếu ơn gọi Kitô hữu là một ơn gọi gắng liền với đời sống chứng nhân: nhắm công tác truyền giáo, thì thái độ xin vâng trong đức tin, mà anh chị em, các bạn trẻ cùng tôi hiến dâng lên Thiên Chúa sẽ là những chứng tá cụ thể mà mỗi Kitô hữu thực hiện, để hướng về một ơn gọi mang tính vĩnh cửu: ơn gọi nên thánh.
Nói một cách khác cho dễ hiểu hơn: Thái độ xin vâng của một đức tin tuyệt đối, trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời người Kitô hữu, sẽ là bằng chứng để mọi người nhận ra Chúa Kitô. Thái độ xin vâng của đức tin trong từng ngày sống, sẽ là những bậc thang quý giá, đưa từng người tiến tới sự trọn hảo của ơn gọi nên thánh.
Nguyện xin Đức Mẹ cầu bàu và trợ lực, để không chỉ suốt tuần Thánh này, nhưng là mỗi ngày trong cả cuộc đời chúng ta, trở thành một chuỗi xin vâng và dâng hiến, như Mẹ đã thực hiện bằng cả cuộc đời trần thế của mình.
I. TẠI SAO PHẢI TĨNH TÂM? (ngày thứ nhất)
Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn gởi đến anh chị em và các bạn câu hỏi khác: Dấu chỉ nào để biết một Kitô hữu?
Hiểu theo nghĩa mặt chữ thì: Kitô hữu là người có Chúa Kitô.
Trong nước rửa tội, ta gia nhập Hội Thánh của Chúa Kitô. Chúa Kitô là Đầu, Hội Thánh là thân thể của Người. Nếu Đầu là Con Thiên Chúa, thân thể một khi kết hợp với Đầu, trở thành Kitô hữu, cũng lại là Con của Thiên Chúa. Vì Đầu là con, thân thể cũng là con.
Nhưng dù đã là Con Thiên Chúa, đã thuộc về Chúa Kitô, đó chưa phải là điểm kết của tên gọi Kitô hữu. Hay nói ngược lại, không bao giờ ta được phép dừng lại ở một lối suy nghĩ rằng: vì tôi là Kitô hữu, đã được rửa tội, đương nhiên tôi là Con Thiên Chúa. Vì là người có Chúa Kitô ở cùng, thế là đủ, tôi sẽ an tâm trong lối sống của mình. Chẳng cần nỗ lực, chẳng cần cố gắng làm chi.
Hiểu như thế là sai lầm, là làm cớ vấp phạm cho nhiều người quanh ta, nhất là những người mà ta lãnh trách nhiệm giáo dục họ, những anh chị em bên ngoài Công giáo… Hiểu như thế, nghĩa là ta đang tự giết chết chính đời sống Kitô hữu của bản thân. Hiểu như thế, chính ta sẽ là người tự tay dập tắt ơn cứu độ Chúa ban cho bản thân mình. Hiểu như thế, rất có thể ta sẽ trở thành một kẻ bê tha, độc ác, thủ đoạn, dâm đảng, say sưa, lừa lọc… Vì hiểu như thế chính là biểu hiện của một kẻ chẳng còn đức tin. Nếu không tin Thiên Chúa, không tin một Đấng thiêng liêng ở bên trên mình, có tội ác nào mình không dám phạm!
Cũng một cách hiểu như thế, người Do thái đã bị Chúa phản đối: “Thiên Chúa có thể biến những hòn đá này thành con cái Apraham”.
Đúng! Chúng ta có tên gọi rất cao cả là Kitô hữu. Nhưng người Kitô hữu thì không bao giờ cho phép mình chỉ dừng ở danh xưng mà lại có thể coi mình là Kitô hữu. Vì điều quan trọng, trước hết là đời sống chứ không phải danh xưng. Bởi thế vào đạo chưa phải là tốt nhất. Điều tối cần thiết là giữ mình trong đời sống đạo, chứ không phải vì mình đã được rửa tội. Chỉ có đời sống, chứ không phải danh xưng, mới chứng minh rằng ta là một Kitô hữu.
Đời sống của một Kitô hữu đích thực phải là một đời sống lương thiện, thánh thiện, biết sợ sự dữ, tránh xa dịp tội, tránh xa những gì có nguy cơ lôi kéo mình xa Chúa… họ cũng hãy là người biết đề cao tình yêu, bác ái, vị tha, khoang dung, chung thủy… Sống đời Kitô Kitô hữu còn là sống một tình yêu hiệp thông không ngừng với Thiên Chúa bằng sự cầu nguyện liên lỷ, bằng tuân giữ Lời Chúa, tha thiết và ước ao sống với Chúa ngày một thấm đậm hơn.
Nhưng ta mang thân phận yếu hèn, dễ sa ngã, dễ làm đổ vỡ ơn Chúa, làm cho đời Kitô hữu của mình lu mờ. Thậm chí, nhiều anh em quanh mình đã ngã lòng trông cậy, có khi còn ở lỳ trong tình trạng tội lỗi. Tắt một lời, do cuộc sống lắm khắc nghiệt, hay mải bon chen đời thường và nhiều cám dỗ khác nhau, chúng ta đã làm suy giảm, hoặc đã đánh mất hoàn toàn tình trạng ơn thánh của mình. Bởi thế, ta cần có những khoảnh khắc hồi tâm để nhận ra mình, để đọc lại quá khứ đời mình mà thú nhận những lầm lỡ trước mặt Chúa.
Khoảnh khắc hồi tâm ấy, gọi là tĩnh tâm.
Vậy ngay giờ phút này, anh chị em, các bạn trẻ hãy xua đi mọi ồn ào quanh mình, mọi lo toan đời thường, dù đó là những lo lắng rất thực tế như: cơm - áo - gạo - tiền, để lắng đọng tâm hồn, hướng về Chúa, nguyện xin Chúa Thánh Thần chiếm lấy tâm hồn, nhờ đó mỗi một người tham dự những ngày tĩnh tâm này thêm sốt mến, hiệu quả và tràn ngập ơn tha thứ của Chúa.
Anh chị em hãy tạm quyên đi những nỗi thương buồn, có thể đang vương trong tâm hồn. Anh chị em hãy cố gắng xua đi những nỗi nhọc nhằn, mồ hôi và nước mắt của một ngày sống vất vả, mỏi mệt. Anh chị em cũng hãy tạm gác lại những bộn bề của cuộc sống: nào là tranh chấp, giận hờn, nhà chưa đủ ấm, áo chưa đủ lành… Thay vào đó, anh chị em và các bạn hãy dâng lên Chúa, xin Chúa thánh hóa tất cả. Hãy tạm quyên tất cả ngay trong giây phút này, để lòng mở ngỏ cho Lời và ơn của Chúa thấm đẫm hồn mình. Vì nếu trong một ít thời gian như thế này, ta có lo lắng, muộn phiền, thì cũng chẳng giải quyết được gì. Nhưng nếu ta dâng lên Chúa và biết chắc chắn Người không bỏ rơi ta, tâm hồn mình sẽ bình an hơn. Và nhờ Chúa, những lao nhọc đời thường kia, tưởng chừng trôi tuột, lại sinh ơn cứu độ đời đời không những cho ta mà còn cho anh chị em xung quanh nữa.
Vậy hãy lắng đọng tâm hồn để tĩnh tâm. Và tĩnh tâm để tìm lại ý nghĩa trọn vẹn cho chức vị làm con Thiên Chúa của một tâm hồn vốn đã là Kitô hữu, nhưng lắm khi đã đánh mất hình ảnh của Chúa Kitô nơi lòng mình. Bởi tấm lòng ấy vướng quá nhiều lo lắng ồn ào của đời sống.
II. ƠN GỌI KITÔ HỮU (ngày thứ hai)
Trong lịch sử Giáo Hội, từ ngàn xưa, để trao cho ai nhiệm vụ gì, Chúa ban cho họ ơn gọi, mời gọi họ thực thi sứ mạng theo ý của Người. Chẳng hạn:
- Để làm dấu chỉ cho sự ăn năn sám hối, cũng là dấu chỉ của tình yêu bao la mà Chúa dành cho dân của Người, Người dạy tiên tri Hôsê cưới lấy một người vợ đàn điếm, phản bội. Còn tiên tri phải yêu thương, tha thứ cho người vợ ấy. Qua tiên tri Hôsê, Thiên Chúa minh chứng rằng: con người luôn phản bội, còn Thiên Chúa luôn yêu thương, đón nhận, thủy chung, tha thứ… Trong ơn gọi của mình, tiên tri đã vâng lời Chúa, làm dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa và kêu gọi lòng hoán cải của toàn dân.
- Người đã kêu gọi Abraham, để nơi ông, Người thành lập cho riêng mình một dân tộc cưu mang ơn cứu độ của toàn thế giới.
- Để thành lập Giáo Hội, Chúa Giêsu đã tuyển chọn và mời gọi các thánh Tông Đồ và nhiều môn đệ khác đi theo Người.
- Để tiếp nối dòng lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã tuyển chọn bao nhiêu vị thánh. Chẳng hạn: Thánh Phaolô, thánh Augustinô, thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, và nhiều vị thánh của Giáo Hội.
Hôm nay, Người tiếp tục mời gọi chúng ta bước vào đời sống của một Kitô hữu. Trên nền tảng của ơn gọi Kitô hữu ấy, ta sẽ thực thi cách cụ thể theo từng ơn gọi riêng của đời mình như: ơn gọi tu trì, ơn gọi sống giữa đời, sống độc thân, làm người công nhân, làm thầy cô giáo…
Nhưng đó chưa phải là điểm cuối cùng của ơn gọi Kitô hữu. Tất cả những sứ mạng mà chúng ta lãnh nhận đều phải nhắm đến một ơn gọi nền tảng: ƠN GỌI NÊN THÁNH. Muốn nên thánh, Người Kitô hữu phải sống mẫu mực, sống như đang có Chúa Kitô sống trong tâm hồn mình. Từ đây ơn gọi Kitô hữu kéo theo những liên hệ mới: Sống như Chúa Kitô là sống một đời sống chứng tá hoàn hảo. Mà sống chứng tá là thực thi ơn gọi truyền giáo.
Nếu nói cho đến kỳ cùng: Ơn gọi Kitô hữu phải được thể hiện trong ơn gọi truyền giáo bằng đời sống chứng tá. Và đích đến cuối cùng của ơn gọi Kitô hữu chính là nên thánh.
III. ĐỨC MARIA - MẪU GƯƠNG CÁC KITÔ HỮU (ngày thứ ba)
Chúng ta có thể nêu ra rất nhiều những nhân đức mà Đức Maria, một Kitô hữu hoàn hảo đã để lại cho mình, như: khiêm nhường, hiều hậu, từ bi, khoang dung, bác ái, chịu đựng, lắng nghe lời Chúa…
Nhưng ở đây, chúng ta chỉ nhắc đến một nhân đức tuyệt vời của Đức Maria: xin Vâng đến cùng.
Cả cuộc đời của Mẹ là một chuỗi dài của lời xin vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Mẹ vâng phục trong một lối sống thánh thiện ở giữa gia đình, bên cạnh cha mẹ của mình là thánh Anna và thánh Gioan Kim. Mẹ vâng phục khi đón nhận một gia đình, đón nhận Chúa Giêsu làm con của mình từ khi thành thai đến lúc kết thúc cuộc đới dương thế của Người Con ấy…
Đặc biệt, hình ảnh Đức Maria giữa pháp trường, cùng hiện diện bên cạnh Cây Tử Nạn của Con là một lời xin Vâng mãnh liệt, một lời xin Vâng lớn lao đến nỗi Mẹ đã chấp nhận trao hiến chính Người Con Một yêu dấu. Nơi lời xin Vâng của Mẹ, ngoài Chúa Kitô, có còn lời xin Vâng nào đẹp lòng Chúa như thế.
Sở dĩ lời xin Vâng của Mẹ nên cao cả, và là mẫu gương cho mọi lời xin vâng của mọi Kitô hữu, bởi lẽ lời xin Vâng ấy, không chỉ bằng lời, nhưng trước hết, là một thái độ Vâng Phục của đức tin: tín thác hoàn toàn, trông cậy đến mức không một trở lực nào có thể cản bước. Yêu mến trọn vẹn cho dù tan cõi nát lòng.
Lời xin Vâng của Mẹ đã gợi hứng cho lời ca ngợi đầy lòng tin trong bài ca “Calvê mặt trời đã tắt” của tác giả Phương Anh: “Khi mặt trời đồi Calvê đã tắt, muôn trăng sao khóc thương Ngài lìa đời. Khi Giêsu dang tay nhìn loài người, khi Giêsu trút hết hơi thở tình yêu, thì mẹ Maria vẫn tin vững vàng đó là Thiên Chúa, Đấng chí tôn toàn năng. Thì Mẹ maria vẫn tin vững vàng, đó là Thiên Chúa, Đấng Cứu Tinh trần gian”.
Mẹ Maria có rất nhiều nhân đức. Mỗi nhân đức của Mẹ đều là bài học quý giá, để ta học lấy mà sống đời Kitô hữu hoàn hảo như Mẹ. Nhưng bây giờ chỉ còn một ít thời gian nữa, cả Giáo Hội cùng bước theo Chúa Kitô trên đường thương khó để sống lại hành trình thập giá trong những ngày cuối đời dương thế của Người. Bởi vậy, tôi mời anh chị em và các bạn trẻ, ngắm nhìn Đức Maria để học lấy tiếng xin Vâng của Mẹ. Nhất là tiếng xin Vâng được dâng hiến trên đường thập giá đến mức tuyệt vời.
Học lấy tiếng xin Vâng của Mẹ để cùng đi với Mẹ, cùng chấp nhận thập giá đớn đau, cùng chịu lột trần, chịu đâm thấu và gục đầu chết tan thương, nhục nhã trong cái chết của Người Con dấu ái, cũng là Chúa của Mẹ và Chúa của chúng ta.
Tiếng Xin Vâng của Mẹ Maria là nối dài tiếng xin Vâng của Chúa Kitô. Vì thế, hôm nay bên cạnh Chúa Kitô, sống lại đường Thánh Giá của Người trong tuần Thánh, chúng ta hãy bắt chước Mẹ dâng hiến trọn vẹn thập giá đời ta, để Thánh Giá Chúa Kitô thánh hóa mình. Và khi xin vâng như Chúa Kitô đã xin Vâng, điều mà Đức Maria đã thực hành trước chúng ta, xét ở một khía cạnh nào đó, chúng ta đã sống trọn vẹn chức danh Kitô hữu của mình.
Nếu ơn gọi Kitô hữu là một ơn gọi gắng liền với đời sống chứng nhân: nhắm công tác truyền giáo, thì thái độ xin vâng trong đức tin, mà anh chị em, các bạn trẻ cùng tôi hiến dâng lên Thiên Chúa sẽ là những chứng tá cụ thể mà mỗi Kitô hữu thực hiện, để hướng về một ơn gọi mang tính vĩnh cửu: ơn gọi nên thánh.
Nói một cách khác cho dễ hiểu hơn: Thái độ xin vâng của một đức tin tuyệt đối, trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời người Kitô hữu, sẽ là bằng chứng để mọi người nhận ra Chúa Kitô. Thái độ xin vâng của đức tin trong từng ngày sống, sẽ là những bậc thang quý giá, đưa từng người tiến tới sự trọn hảo của ơn gọi nên thánh.
Nguyện xin Đức Mẹ cầu bàu và trợ lực, để không chỉ suốt tuần Thánh này, nhưng là mỗi ngày trong cả cuộc đời chúng ta, trở thành một chuỗi xin vâng và dâng hiến, như Mẹ đã thực hiện bằng cả cuộc đời trần thế của mình.