Trình bày đức tin vào Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô cho xã hội chúng ta, xã hội mang nhiều dấu ấn dân di cư, là một thách đố lớn đối với Giáo Hội Pháp, Giáo Hội đa ngôn ngữ và đa văn hóa.
Trong Giáo Hội, tất cả chúng ta, di cư hay không, đều được mời gọi đến một sứ mệnh : trình bày đức tin vào Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô.
Trong thế giới hiện nay, người di cư là chứng tá, là lời mời : tất cả chúng ta đều được kêu gọi trở nên thần dân của Thiên Chúa, là Cha của hết mọi người không phân biệt nguồn gốc, ngôn ngữ và văn hóa.
Giữa những thực tại ghi dấu trên xã hội pháp và chắc chắn cả xã hội tây phương, thì thực tại di cư là một sự kiện không thể tránh né (incontournable).
Đã trở thành lâu bền và có cơ cấu, vấn đề di cư đặt ra cho xã hội và Giáo Hội những thách đố về sự gặp gỡ và về sự sống chung. Nó thay đổi hình thái tương quan nhân loại và đặt lại một cách khác mối tương quan đặc thù của chúng ta với Thiên Chúa.
Các kitô hữu và các cộng đoàn kitô nêu lên những thách đố này trong bối cảnh càng ngày càng đậm mầu hội nhập văn hóa, trong đó mục tiêu không phải là đồng hóa người khác hay xóa mất nhân phẩm của họ nhưng là cùng nhau thăng tiến về nhân tính.
Phẩm chất cuộc sống trong Giáo Hội là nhất quyết : Giáo Hội đa ngôn ngữ và đa văn hóa này phải thực sự là «dấu chỉ và phương thế» của phần rỗi cho cả nhân loại.
I. TRÌNH BÀY ÐỨC TIN VÀO THIÊN CHÚA CỦA ÐỨC GIÊSU KITÔ TRONG XÃ HỘI MANG DẤU ẤN CỦA NHỮNG CUỘC DI CƯ KHÁC NHAU.
A. Một thế giới, một xã hội di tản
a. Nét đặc thù của thế giới này
Mức tăng vọt tất yếu của phong trào di cư. ..
1. Người nam và người nữ, độc thân và có gia đình với con cái, càng ngày người ta càng di tản khỏi quê hương xứ sở. Người này để làm việc, người khác để cứu vãn cuộc sống, tất cả để sinh sống.
Nhũng nguyên nhân của các cuộc di tản lan tràn khắp thế giới. Không ai lại không biết. Những uẩn khúc về sắc tộc, nhũng điều hành kém cỏi về chính trị, những hậu quả tai hại của chính sách hoàn vũ hóa... gây nên chiến tranh, diệt chủng, chậm tiến, cùng khổ không chịu nổi. Không tài nào và không ai có thể cản ngăn được sức nhảy vọt của những cuộc di cư tới các nước vừa an ninh vừa đủ sống.
... do chính sách hoàn cầu hóa, trở thành «cơ cấu»...
2. Do thời cơ, vấn đề di cư trở thành cơ cấu. Các cuộc di cư khác biệt nhau tùy theo hiệu lực của phương tiện thông tin và bình thường hóa việc chuyên chở. Những miền khởi hành và những miền cập bến trở nên gần gũi hơn nhiều, thế giới chỉ như một thôn làng. Khi mà hình ảnh của người nhân công vào thập niên sáu mươi còn in hình trong tâm trí chúng ta và hơn 15 triệu người pháp là con cái của người di cư, thì còn những người ngoại quốc khác tới, do nhiều nguyên nhân thúc đẩy họ lên đường lưu vong, vì văn hóa hay vì tôn giáo.
... và chúng ta buộc phải có cái nhìn khác.
3. Sự đổi khác đi này bó buộc chúng ta thay đổi cái nhìn đối với những người di cư. Thường thường họ giữ thái độ sợ sệt và dè dặt, đôi khi cởi mở và quý mến. Dư luận đã trở thành rất nhậy cảm dường như hoảng hốt bởi những chính sách ‘tăng cường kiểm soát biên giới’ của nhiều quốc gia. Tuy nhiên, chính việc toàn cầu hóa của thế giới đòi hỏi phải quan tâm đến thực tại của những người gõ cửa chúng ta hôm nay : Những người xin cư trú, những người tị nạn chiến tranh, những người tị nạn vì đói khổ.
b. Tất cả dấn thân để cùng tiến
Xã hội đòi chúng ta liên hệ với cả thế giới và...
1. Vấn đề di cư đã trở thành sự kiện của xã hội, đụng chạm đến mọi người sống trên đất Pháp. Chúng ta thân thiện với cả thế giới. Chúng ta bị đặt vào một thách đố : làm cho cuộc sống chung tất yếu này mang bản sắc con người, để xã hội trở thành một cộng đồng thực sự nhân bản.
mở ra cho chúng ta sự khác biệt về văn hóa.
2. Địa trường khác biệt về văn hóa và tôn giáo đã rộng mở ngay từ lớp mẫu giáo. Vấn đề tục hóa và trần thế tại Pháp mà lớp người cao niên đẵ chấp nhận và đồng hóa dần dần, hầu như vô ý thức, thì một số người di cư phải sống như một va chạm có thể làm lung lay đức tin và đời sống đạo của họ
thách đố của người kitô là phải trình bày đức tin vào Thiên Chúa của Đức Kitô ngay trong sự khác biệt văn hóa ấy...
3. Người kitô hữu được mời gọi dấn thân, góp phần vào công trình nhân bản này, họ tìm thấy những lý do về việc dấn thân của họ ngay trong đức tin vào Thiên Chúa là Cha. Nhưng, đà tiến tất yếu của xã hội chúng ta đặt mỗi người trước những khó khăn phải chuyển đạt mọi tiêu điểm, ý nghĩa và đức tin, đồng thời biến chúng ta, kitô hữu sống tại đây và kitô hữu từ nơi khác tới, thành những người đồng tâm trình bày đức tin tại đây và hôm nay.
Lá thư gửi cho Người Công Giáo Pháp nhấn mạnh : «Ngày nay, việc thông truyền đức tin đã trở thành sự thỏa hiệp hay gặp rất nhiều khó khăn trong các lãnh vực rộng lớn của xã hội pháp. Một cách nghịch lý, tình trạng này lại đòi buộc chúng ta tìm cách xử trí sự mới mẻ của đức tin và của kinh nghiệm kitô »
B. Trong xã hội này, phải trình bày đức tin vào Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô bằng chứng tá về niềm hy vọng có sẵn trong chúng ta
... Kitô hữu trình bày đức tin bằng chứng tá « đời sống » và « lời nói ».
Chứng tá Hy Vọng này hay Phục vụ Nhân Loại, chúng ta có thể ban tặng bằng hai cách thế không thể tách rời và nuôi dưỡng lẫn nhau : Sống tình yêu Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô ngay giữa mọi người và và công bố tình yêu Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô trong các cộng đoàn sinh động và tin tưởng.
a. Sống tình yêu Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô ngay giữa mọi người.
Tuyên chứng bằng hành động :
- bằng cách gần gũi :
1. Sống gần gũi :
. trong nếp sống đơn thành với người trong khu xóm.
. trong các hội đoàn để thăng tiến đời sống chung.
. trong những dịp mời nhau thân thiện (Giáng Sinh, Ramadan, một biến cố quan trọng, các ngày lễ).
. trong việc tham dự các cuộc hội hay các phương án quan trọng của làng xã, thành phố.
. đồng tình với những người hoạt động tại các nơi mình sống.
• bằng cách tiếp đón với cả gánh nặng của đời sống.
2. Là lắng nghe và đón tiếp cuộc sống của người di cư : sức mạnh văn hóa, cách sống vô hiệu quả và không thể truyền đạt được ở đây, đảo lộn mọi vị trí cơ cấu gia đình, sự thiếu thông cảm tai hại giữa các thế hệ ngay trong các gia đình.
• bằng cách tố cáo những cư xử vô nhân đạo.
3. Phanh phui và tố cáo mọi thứ loại tạm bợ, bấp bênh, đụng chạm đến những người không có giấy tờ, những khu phố đóng kín, chống lại mọi kỳ thị, loại trừ...
• bằng cách tranh đấu cho cuộc sống.
4. Tranh đấu với những người phải ‘đóng góp nặng nề’ (lourd tribut) vì lý do bị xã hội chúng ta đoạn tuyệt, cách riêng những người đang xin cư trú và những người tỵ nạn (họ bị đuổi ra khỏi nhà ở, không còn làm chủ được số mệnh của mình, tùy theo các trại tập trung, các đoàn xe chuyên chở đến địa điểm hoàn toàn xa lạ, cách biệt khỏi gia đình).
•bằng phương cách đối thoại.
5. Tạo nên những cơ hội đối thoại giữa các thế hệ, các nền văn hóa, các tôn giáo đang đối diện với sự khác biệt phải có để xác định về căn tín, để sinh tồn trước mọi khuynh hướng bạo lực hay thu mình lại trong từng phe cánh.
•bằng cách giúp đỡ khẩn cấp.
6. Đáp ứng những nhu cầu khác nhau của các xứ sở sinh quán bằng những hoạt động liên đới giúp chương trình phát triển.
b. Tuyên chứng tình yêu Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô trong các cộng đoàn sinh động và tin tưởng
Tuyên chứng bằng lời nói :
- bằng một đức tin bén rễ sâu vào Đức Giêsu Kitô.
1. Những gì chúng ta làm phải bén rễ đức tin vào Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Đấng muốn quy tụ mọi người thành một dân tộc anh em.
•bằng một đời sống thấm nhuần đức tin.
2. Phải xét lại đời sống và hành động của chúng ta theo ánh sáng Lời Chúa hầu điều chỉnh lại cho đúng với tình yêu của Thiên Chúa và với tinh thần phục vụ mọi người.
•bằng cách quy hướng về việc đối thoại.
3. Nhất quyết đối thoại giữa chúng ta để tuyên chứng điều chúng ta tuyên xưng (trong cộng đoàn công giáo vừa khác nhau vừa đại kết). Đối thoại với xã hội, bởi vì chúng ta thuộc về xã hội và việc chúng ta phủ nhận định mệnh có thể phục vụ con người thuộc thế hệ hôm nay.
•trong một Giáo Hội là ‘dấu chỉ và phương thế’.
4. bằng việc tuyên chứng một đời sống của Giáo Hội là Bí Tích «của sự kết hợp thâm sâu với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất loài người» (LG,1).
Kinh nghiệm di cư : con đường cải hóa và tiếng gọi truyền giáo :
Với kinh nghiệm di cư, cuộc gặp gỡ trong sự khác biệt thúc đẩy chúng ta đón nhận và đào sâu đức tin vào Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô. Kinh nghiệm gặp gỡ người khác đòi hỏi tôi mở cửa đón tiếp nhân tính của người xa lạ đối với tôi. Như vậy, kinh nghiệm này cũng mời gọi tôi đón nhận một Thiên Chúa Đấng Hoàn Toàn Khác (un Dieu qui est Tout Autre), Đấng tôi không thể thu nhỏ lại trong hình ảnh mà tôi có về Ngài.
Đức tin này bị lấn lướt bởi sự khác biệt tôn giáo và văn hóa của xã hội chúng ta, nó có thể tạo nên thái độ rụt rè khép kín hay sự phong phú tương hỗ nhờ việc đối thoại. Sứ mệnh của chúng ta là cùng nhau trở nên môn đệ Chúa Giêsu Kitô trong một Giáo Hội phục vụ con người.
II. CÙNG NHAU SỐNG VÀ TRỞ NÊN MỘT GIÁO HỘI PHỤC VỤ TRẦN THẾ
Khác nhau mà biết đón tiếp lẫn nhau, chúng ta đón tiếp Giáo Hội.
Giáo Hội trước tiên là một hồng ân phải đón nhận; Giáo Hội cũng là một trách vụ phải hoàn thành. Những phát biểu đức tin và những truyền thống thiêng liêng khác nhau giúp chúng ta sống đức tin như một thực tại vượt quá chúng ta.
Khi đón nhận nhau và đối chất với nhau, những phát biểu và những truyền thống ấy giúp xây dựng Giáo Hội như một nhiệm thể sống động, phong phú về những dị biệt của Giáo Hội.
A. Cùng nhau sống và trở nên một Giáo Hội THÁNH THIỆN và TÔNG TRUYỀN.
Nên thánh : một ơn gọi cho mọi người.
Chúa Giêsu kêu gọi mọi người sống chính sự thánh thiện của Chúa Cha : «Anh em hãy nên trọn lành như Cha anh em ở trên trời là Đấng trọn lành» (Mt 5,48).
Chúa Giêsu mời gọi và sai đi : «Ngài đã chọn mười hai tông đồ và sai họ đi rao giảng» (Mc 3,14).
a. Việc chia sẻ và liên kết với các kitô hữu từ nhiều nguồn gốc dạy chúng ta biết rằng Giáo Hội vượt xa và Giáo Hội là công trình của Thiên Chúa.
Trước thách đố đón nhận sự khác biệt.
. Trong sự khó khăn và đôi khi là sự đối đầu, chúng ta học biết quý mến các truyền thống thiêng liêng nhiều khi làm chúng ta đi trệch đường. Nhờ đó, chúng ta khám phá ra nhiều khía cạnh giầu sang của Chúa Giêsu.
. Chúng ta cũng được hướng dẫn nhận ra công việc của Thánh Thần - Đức Kitô và công trình cứu chuộc của Ngài trong các truyền thống tôn giáo hay nhân bản của người khác.
Chúng ta khám phá ra rằng sự thánh thiện được lãnh nhận.
Sự Thánh thiện của Giáo Hội chính là hồng ân Giáo Hội lãnh nhận từ Thiên Chúa.
Người kitô hữu khác với tôi là dấu chỉ về hồng ân này của Thiên Chúa. Họ trở nên người anh em trong đức tin và với họ tôi được mời gọi nên thánh.
Giáo Hội là sự triệu tập, Giáo Hội quy tụ, nuôi dưỡng và kêu gọi tất cả những ai muốn đáp lại ơn gọi nên thánh này, phải hoán cải.
b. Quan tâm đến những khác biệt, Giáo Hội dạy chúng ta : ngày theo ngày, sứ mệnh duy nhất của dân tộc được mời gọi trở nên nhiệm thể của Đức Kitô, dân Thiên Chúa, là loan báo Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
Ơn gọi là riêng của mỗi người, sứ mệnh là chung, chứng tá là thuộc cộng đoàn.
. Chúng ta được khẳng định chắc chắn rằng : các cộng đoàn kitô được mời gọi trở nên bí tích « của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại» (GH 1). Nếu đời sống đạo đức là riêng tư của mỗi người, thì sức mạnh chứng tá lại múc lấy trong một sức sống của Giáo Hội vượt xa mỗi người xét về cả không gian và thời gian và mời gọi Giáo Hội «làm thành thân thể» để tuyên chứng và loan báo.
Những người sau cùng thường là những người trước hết.
. Chúng ta xác quyết rằng sự liên tục và đời sống của các cộng đoàn kitô đôi khi được ủy thác cho những người đến sau cùng. Những người di cư đã chịu phép rửa tội, trẻ tuổi và thuộc môi trường bình dân, thường là những người đứng hàng đầu để loan báo Chúa Giêsu Kitô ngay những nơi mà những người điều hoạt cổ truyền ít khi làm : khu phố bình dân, những nơi gặp nhau của kitô hữu và anh em hồi giáo, văn hóa và những điểm hẹn của người trẻ.
Và tất cả chúng ta được gọi đi truyền giáo.
. Cùng nhau, tất cả chúng ta cảm thấy mình được gọi đứng lên và hành động «ở bất cứ nơi đâu có người đau khổ, chết chóc và thất vọng», để tuyên chứng sự thánh thiện của Thiên Chúa và sức mạnh của Đức Kitô Phục Sinh.
Sự khác biệt giữa các chứng nhân đức tin là một may mắn cho việc truyền giáo.
. Hồng ân của Thiên Chúa, đức tin trao ban cho chúng ta, được truyền đạt bởi những chứng nhân trung tín. Tất cả chúng ta đã lãnh nhận đức tin qua chứng tá và rao truyền của các người nam nữ dấn thân. Những anh chị em trong đức tin này đôi khi mang nguồn gốc văn hóa không giống chúng ta. Là con cháu của các chứng nhân này, ngày nay, chúng ta là những người có trách nhiệm về việc truyền đạt đức tin. Thiên Chúa muốn chúng ta tuyên chứng về Ngài. Một khi những hình thức đánh động và gây ý thức được quan tâm và hiệp thông, thì chính chúng sẽ đem lại nhiều may mắn cho công trình truyền giáo.
B. Cùng nhau sống và trở nên một Giáo Hội DUY NHẤT và CÔNG GIÁO
Sự hiện diện của người ngoại quốc mời gọi mở rộng biên giới.
Chúa Giêsu ‘đã sống’ sự gặp gỡ người ngoại quốc như một sự cởi mở cho sứ mệnh truyền giáo của Ngài.
Người khác, người ngoại bang, dân ngoại luôn là ‘người mặc khải’ về sứ mệnh ấy. Chúa nói với người đàn bà xứ Cana «Này bà, đức tin của bà thật lớn lao !» (Mt 15,21-22).
Biến cố Ngày Hiện Xuống công bố cho mọi người hồng ân của Chúa Thánh Thần : «Tất cả, chúng ta đều nghe thấy những kỳ diệu của Thiên Chúa được công bố bằng tiếng nói riêng của chúng ta» (CV 2)
a. Việc chung sống với những người nguồn gốc khác nhau khai tâm cho chúng ta đời sống của Thiên Chúa,
•chữa lành chúng ta khỏi chứng bệnh ‘khép kín’,
. Khép mình vào những thói quen, những phản ứng theo phe phái, cố thủ quyền lợi riêng đã được, tất cả đều hạn chế các sinh hoạt và sức tăng trưởng của cộng đoàn kitô cũng như của mọi tổ chức trần thế khác...
. Gặp gỡ nhau khiêm tốn và trung tín sẽ đem lại nhiều hoa quả đức tin, hy vọng và bác ái.
•mở ra cho chúng ta sự gặp gỡ và chia sẻ,
. Những cộng đoàn dấn thân chia sẻ sẽ tạo được tính cách độc đáo và làm tăng trưởng nhân vị : cộng đoàn không ‘bị lạc hướng’ nếu sự quý mến và lắng nghe nhau chủ trì sự gặp gỡ, và nếu cộng đoàn được hướng dẫn và đồng hành thích hợp để sống con đường ‘gặp gỡ và chia sẻ này’.
•dẫn chúng ta đi vào đời sống của một Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần.
. Như vậy, cộng đoàn tham dự vào mầu nhiệm hiệp thông của chính Thiên Chúa : Cha, Con và Thánh Thần «Lạy Cha, xin cho họ nên một, để cho thế gian tin» (Ga 15,17)
Lời cầu nguyện này của Chúa Giêsu cho sự hiệp nhất nhắc nhở mọi kitô hữu về hồng ân phải lãnh nhận và về công việc phải hoàn thành.
Trong Thiên Chúa, sự hiệp nhất đã viên mãn, sự hiệp nhất luôn là sự hiệp thông giữa mọi khác biệt. Đó là việc mỗi kitô hữu phải làm hàng ngày cho sự hiệp nhất.
b. Đời sống của Giáo Hội dạy chúng ta học biết về nguồn phong phú muôn hình dạn của Hồng Ân Chúa ban :
Thêu dệt sự hiệp nhất và sự khác biệt.
. Hiệp nhất không phải là đồng phục, đồng điệu, nhưng là hiệp thông. Tập trung là hiệp thông mọi dị biệt.
. Hiệp thông luôn là sự sai đi đến với người chưa hiện diện ở đó : hiệp thông là người được sai đi (Christi fideles laici,2).
Sự hiệp thông trong Giáo Hội mở ra và mời gọi chúng ta sống ‘tinh thần công giáo đích thực’.
. Tinh thần công giáo (hay công giáo tính) của Giáo Hội không phải là xếp đặt kế sát nhau trong Giáo Hội, giữa các nền văn hóa và sắc tộc khác nhau. Tinh thần công giáo sinh tồn trong sự đối thoại giữa các cộng đoàn kitô khác biệt nhau, có khả năng gặp gỡ và đối thoại với mọi mầu sắc dị biệt của con người ở bất cứ nơi nào mà «hạt giống của Ngôi Lời» (MV) hiến tặng ánh sáng và ơn cứu độ hầu mời gọi mỗi người nên MỘT.
Giáo Hội chiếu cố đến mọi dân tộc hầu bày tỏ dung nhan của Đấng Phục Sinh.
. Đối với kitô hữu, công giáo tính của Giáo Hội là một hồng ân và một trách nhiệm. Đón nhận hồng ân này là cởi mở với người khác là để tự vấn mình và tự luyện mình về tính cách khác biệt của hồng ân, để rồi tập trung lại dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và trên con đường mầu nhiệm vượt qua.
«Giáo Hội là công giáo không chỉ bởi một sự hướng mở đầy năng động đến với mọi dân tộc, nhưng còn vì Giáo Hội cần đến mọi dân tộc hầu bày tỏ cho họ dung nhan của Đức Kitô phục sinh».
III. CẦN MỞ RA MỘT SỐ “CÔNG TRƯỜNG” (CHANTIERS) ÐỂ CÙNG NHAU SỐNG VÀ TRỞ NÊN GIÁO HỘI TRONG MỘT XÃ HỘI MANG DẤU ẤN DI CƯ.
Bằng sự trung thành với thực tế và với sứ mệnh đã lãnh nhận, chúng ta hãy mở ra những công trường chung với những người cùng sống và tuyên chứng một niềm tin.
Dầu thuộc nguồn gốc nào, chúng ta tất cả đều bị xã hội chất vấn về những vấn đề sau đây: lai lịch của chúng ta, quyền lợi đắc thủ của chúng ta, những chuyện thực tế, đức tin của chúng ta luôn bị những thử thách tại đây và bây giờ. Chúng ta phải cùng nhau trả lời về những vấn đề đó bằng những sáng kiến mới trong khuôn khổ gặp gỡ, đối thoại và hành động, giữa các văn hóa, giữa các tôn giáo, giữa các thế hệ, giữa các cộng đoàn.
Mỗi người có trách nhiệm về những rạn nứt.
1. Cả cộng đoàn kitô, dù kitô hữu ở tại chỗ hay từ nơi khác tới, đương nhiên bị chất vấn về những tình trạng rạn nứt của nơi mình sống. Điều hay là cùng nhau chúng ta phân tách và thực hiện những hành động liên đới và dấn thân với tư cách người công dân vì thiện ích của mọi người. Vậy, đâu là chỗ đứng hay trách nhiệm của người kitô hữu ? Làm sao để họ trở thành tác nhân của sự liên đới này ? Về những kitô hữu đến từ xa, đâu là vai trò của họ ?
Tại những công trường rạn nứt này, các nhân chứng tích cực của đức tin chờ đợi được nâng đỡ và nhìn nhận.
2. Sư hiện diện của Giáo Hội trong môi trường bình dân được đảm nhiệm bởi các cộng đoàn nhỏ : giáo xứ, phong trào, tổ chức từ thiện, các nhóm kitô hay các kitô hữu lẻ loi thuộc nhiều nguồn gốc dị biệt, nhiều cộng đồng tôn giáo khác nhau. Ai có thể nhận ra họ và nâng đỡ họ ? Ai đem sự hiệp nhất của Giáo Hội đến môi trường này ? Trong những giai đoạn nào Giáo Hội địa phận có thể lắng nghe và nâng đỡ đời sống ấy của Giáo Hội ?
Khi có một hình thức hiện diện nào của Giáo Hội biến mất, thì phải thử làm sao để nối tiếp bằng việc chuyển đạt phương thức hành động này của những người đã ra đi ?
Các cộng đồng tôn giáo có một phương thức hành động cần truyền đạt và được nhìn nhận.
3. Nhờ sự khác biệt về nguồn gốc của các thành viên, các cộng đoàn tôn giáo chứng tỏ việc tiếp đón người khác, người ngoại bang : Những phương cách hành động nào mà các gia gia đình tôn giáo có thể đem đến cho xã hội chúng ta dang gặp khó khăn về việc chung sống và cho Giáo Hội đang tìm ‘công giáo tính’ ? Phải làm sao để phương thức hành động này được xã hội và Giáo Hội địa phận nhìn nhận và quan tâm ?
Việc gặp gỡ giữa các tôn giáo mong được nâng đỡ và mong cho những người dấn thân được huấn luyện đầy đủ.
4. Sự gặp gỡ giữa các tôn giáo không phải là một vận động tùy hỷ. Nó đòi hỏi phải can đảm gặp gỡ và quyết chí đối thoại chân thành với người khác. Những người chủ chốt trong việc đối thoại này thường là những người gốc ngoại quốc có những liên hệ tự nhiên với những người thuộc tôn giáo khác. Ai đảm nhiệm công tác đồng hành và huấn luyện những người sống mạo hiểm này ? Làm sao đồng hành với những người trẻ đang sống trong tình trạng lẫn lộn (mixité) tôn giáo và văn hóa ?
Trong các phạm vi trách nhiệm, những người đến sau cùng cũng có trọn vẹn chỗ đứng.
5. Sự tham dự hồ hởi và sống động của các nhóm khác nhau (kiều cư, giới trẻ) trong những cử hành nghi lễ của các cộng đoàn chúng ta, đôi khi có thể ‘đàn nhạc hóa’ (instrumentaliser). Nhiều khi không cần nói, người ta yêu cầu được tham dự theo cách thế quen thuộc : đối với trách nhiệm của cộng đoàn, với những quyết định liên hệ, kính trọng lời họ phát biểu, nhìn nhận cái họ đóng góp vào đời sống của Giáo Hội địa phương. Vậy, lúc nào và nơi nào họ được phát biểu, được góp phần, được bày tỏ cách thức tin tưởng của họ ?
Công việc huấn luyện của giáo phận gặp phải ‘thách đố hội nhập văn hóa’.
6. Sau những suy nghĩ mau chóng, chúng ta khám phá ra rằng : đức tin bén rễ vào một văn hóa, một lịch sử, một cái gì mà mỗi người đem đến tự đáy lòng. Hội nhập văn hóa đức tin đòi hỏi quan tâm đến ‘ngôn ngữ của bản xứ’ (langage d’origine).
Làm sao để công việc huấn luyện của giáo phận vượt qua được những thách đố đa văn hóa và hội nhập văn hóa ? Làm sao để công việc huấn luyện tìm ra những hành trình thích ứng, không những về ngôn ngữ, mà cả về kinh nghiệm kitô của người di cư, giới trẻ, những người hoạt động và người có tín ngưỡng trong môi trường bình dân ? Làm sao để tại mỗi nơi, các phong trào và các dịch vụ khác nhau có thể giúp chúng ta mở rộng việc truyền giáo và dự phóng những con đường mới ?
Giáo xứ hay cộng đoàn là nơi bày tỏ khác nhau về đức tin.
7. Những kitô hữu đến từ nhiều nơi khác, cầu nguyện và cử hành nghi lễ thường xuyên hay định kỳ, theo cộng đoàn ngôn ngữ hay văn hóa. Đó là những anh chị em họp nhau chung quanh cũng một người Cha, tuyên xưng đức tin vào cũng một Thiên Chúa duy nhất. Làm sao để sự gặp gỡ, thông tin lẫn nhau, đối thoại, cơ sở sẵn sàng, nói lên được sự tiếp đón nồng nhiệt giữa lòng Giáo Hội địa phương ?
Nhà xứ là bộ mặt của công giáo tính.
8. Các linh mục, các tu sĩ nam nữ, giáo dân từ nơi khác tới phục vụ đồng bào của họ sinh sống tại Pháp. Điều rõ ràng là từ nay họ thi hành sứ mệnh dưới trách nhiệm của Giáo Hội thuộc quốc gia đón tiếp. Làm sao để họ được nhìn nhận và làm sao để họ thực sự tham dự vào sinh hoạt mục vụ của Giáo Hội địa phận ? Làm sao tạo nên những tương quan giữa họ với đời sống quê hương xứ sở, giữa Giáo Hội tiếp đón và Giáo Hội bản quán ?
Trong chủng viện, cần có một sự huấn luyện thích hợp với sứ mệnh của Giáo Hội hiện nay.
9. Sự khác biệt của các cộng đoàn và thực tại của xã hội có nhiều di cư như xã hội chúng ta, đòi hỏi các linh mục phải lưu tâm và nhận lấy trách nhiệm mục vụ. Dù là người Pháp hay ngoại quốc, các linh mục phải là nhịp cầu, những ‘con người biên giới’ (hommes frontière). Làm sao để việc huấn luyện trong chủng viện có thể quan tâm nhiều đến sứ mệnh này của Giáo Hội hôm nay ?
Và tiếp theo...
10. Và tiếp theo... mỗi cộng đoàn, mỗi phong trào và mỗi dịch vụ, mỗi cơ sở của Giáo Hội phải biết tìm ra những ‘công trường’ thích ứng cho tình hình cụ thể của mình... hầu hướng mở ra với người khác.(Giaoxuvn.org)
Trong Giáo Hội, tất cả chúng ta, di cư hay không, đều được mời gọi đến một sứ mệnh : trình bày đức tin vào Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô.
Trong thế giới hiện nay, người di cư là chứng tá, là lời mời : tất cả chúng ta đều được kêu gọi trở nên thần dân của Thiên Chúa, là Cha của hết mọi người không phân biệt nguồn gốc, ngôn ngữ và văn hóa.
Giữa những thực tại ghi dấu trên xã hội pháp và chắc chắn cả xã hội tây phương, thì thực tại di cư là một sự kiện không thể tránh né (incontournable).
Đã trở thành lâu bền và có cơ cấu, vấn đề di cư đặt ra cho xã hội và Giáo Hội những thách đố về sự gặp gỡ và về sự sống chung. Nó thay đổi hình thái tương quan nhân loại và đặt lại một cách khác mối tương quan đặc thù của chúng ta với Thiên Chúa.
Các kitô hữu và các cộng đoàn kitô nêu lên những thách đố này trong bối cảnh càng ngày càng đậm mầu hội nhập văn hóa, trong đó mục tiêu không phải là đồng hóa người khác hay xóa mất nhân phẩm của họ nhưng là cùng nhau thăng tiến về nhân tính.
Phẩm chất cuộc sống trong Giáo Hội là nhất quyết : Giáo Hội đa ngôn ngữ và đa văn hóa này phải thực sự là «dấu chỉ và phương thế» của phần rỗi cho cả nhân loại.
I. TRÌNH BÀY ÐỨC TIN VÀO THIÊN CHÚA CỦA ÐỨC GIÊSU KITÔ TRONG XÃ HỘI MANG DẤU ẤN CỦA NHỮNG CUỘC DI CƯ KHÁC NHAU.
A. Một thế giới, một xã hội di tản
a. Nét đặc thù của thế giới này
Mức tăng vọt tất yếu của phong trào di cư. ..
1. Người nam và người nữ, độc thân và có gia đình với con cái, càng ngày người ta càng di tản khỏi quê hương xứ sở. Người này để làm việc, người khác để cứu vãn cuộc sống, tất cả để sinh sống.
Nhũng nguyên nhân của các cuộc di tản lan tràn khắp thế giới. Không ai lại không biết. Những uẩn khúc về sắc tộc, nhũng điều hành kém cỏi về chính trị, những hậu quả tai hại của chính sách hoàn vũ hóa... gây nên chiến tranh, diệt chủng, chậm tiến, cùng khổ không chịu nổi. Không tài nào và không ai có thể cản ngăn được sức nhảy vọt của những cuộc di cư tới các nước vừa an ninh vừa đủ sống.
... do chính sách hoàn cầu hóa, trở thành «cơ cấu»...
2. Do thời cơ, vấn đề di cư trở thành cơ cấu. Các cuộc di cư khác biệt nhau tùy theo hiệu lực của phương tiện thông tin và bình thường hóa việc chuyên chở. Những miền khởi hành và những miền cập bến trở nên gần gũi hơn nhiều, thế giới chỉ như một thôn làng. Khi mà hình ảnh của người nhân công vào thập niên sáu mươi còn in hình trong tâm trí chúng ta và hơn 15 triệu người pháp là con cái của người di cư, thì còn những người ngoại quốc khác tới, do nhiều nguyên nhân thúc đẩy họ lên đường lưu vong, vì văn hóa hay vì tôn giáo.
... và chúng ta buộc phải có cái nhìn khác.
3. Sự đổi khác đi này bó buộc chúng ta thay đổi cái nhìn đối với những người di cư. Thường thường họ giữ thái độ sợ sệt và dè dặt, đôi khi cởi mở và quý mến. Dư luận đã trở thành rất nhậy cảm dường như hoảng hốt bởi những chính sách ‘tăng cường kiểm soát biên giới’ của nhiều quốc gia. Tuy nhiên, chính việc toàn cầu hóa của thế giới đòi hỏi phải quan tâm đến thực tại của những người gõ cửa chúng ta hôm nay : Những người xin cư trú, những người tị nạn chiến tranh, những người tị nạn vì đói khổ.
b. Tất cả dấn thân để cùng tiến
Xã hội đòi chúng ta liên hệ với cả thế giới và...
1. Vấn đề di cư đã trở thành sự kiện của xã hội, đụng chạm đến mọi người sống trên đất Pháp. Chúng ta thân thiện với cả thế giới. Chúng ta bị đặt vào một thách đố : làm cho cuộc sống chung tất yếu này mang bản sắc con người, để xã hội trở thành một cộng đồng thực sự nhân bản.
mở ra cho chúng ta sự khác biệt về văn hóa.
2. Địa trường khác biệt về văn hóa và tôn giáo đã rộng mở ngay từ lớp mẫu giáo. Vấn đề tục hóa và trần thế tại Pháp mà lớp người cao niên đẵ chấp nhận và đồng hóa dần dần, hầu như vô ý thức, thì một số người di cư phải sống như một va chạm có thể làm lung lay đức tin và đời sống đạo của họ
thách đố của người kitô là phải trình bày đức tin vào Thiên Chúa của Đức Kitô ngay trong sự khác biệt văn hóa ấy...
3. Người kitô hữu được mời gọi dấn thân, góp phần vào công trình nhân bản này, họ tìm thấy những lý do về việc dấn thân của họ ngay trong đức tin vào Thiên Chúa là Cha. Nhưng, đà tiến tất yếu của xã hội chúng ta đặt mỗi người trước những khó khăn phải chuyển đạt mọi tiêu điểm, ý nghĩa và đức tin, đồng thời biến chúng ta, kitô hữu sống tại đây và kitô hữu từ nơi khác tới, thành những người đồng tâm trình bày đức tin tại đây và hôm nay.
Lá thư gửi cho Người Công Giáo Pháp nhấn mạnh : «Ngày nay, việc thông truyền đức tin đã trở thành sự thỏa hiệp hay gặp rất nhiều khó khăn trong các lãnh vực rộng lớn của xã hội pháp. Một cách nghịch lý, tình trạng này lại đòi buộc chúng ta tìm cách xử trí sự mới mẻ của đức tin và của kinh nghiệm kitô »
B. Trong xã hội này, phải trình bày đức tin vào Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô bằng chứng tá về niềm hy vọng có sẵn trong chúng ta
... Kitô hữu trình bày đức tin bằng chứng tá « đời sống » và « lời nói ».
Chứng tá Hy Vọng này hay Phục vụ Nhân Loại, chúng ta có thể ban tặng bằng hai cách thế không thể tách rời và nuôi dưỡng lẫn nhau : Sống tình yêu Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô ngay giữa mọi người và và công bố tình yêu Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô trong các cộng đoàn sinh động và tin tưởng.
a. Sống tình yêu Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô ngay giữa mọi người.
Tuyên chứng bằng hành động :
- bằng cách gần gũi :
1. Sống gần gũi :
. trong nếp sống đơn thành với người trong khu xóm.
. trong các hội đoàn để thăng tiến đời sống chung.
. trong những dịp mời nhau thân thiện (Giáng Sinh, Ramadan, một biến cố quan trọng, các ngày lễ).
. trong việc tham dự các cuộc hội hay các phương án quan trọng của làng xã, thành phố.
. đồng tình với những người hoạt động tại các nơi mình sống.
• bằng cách tiếp đón với cả gánh nặng của đời sống.
2. Là lắng nghe và đón tiếp cuộc sống của người di cư : sức mạnh văn hóa, cách sống vô hiệu quả và không thể truyền đạt được ở đây, đảo lộn mọi vị trí cơ cấu gia đình, sự thiếu thông cảm tai hại giữa các thế hệ ngay trong các gia đình.
• bằng cách tố cáo những cư xử vô nhân đạo.
3. Phanh phui và tố cáo mọi thứ loại tạm bợ, bấp bênh, đụng chạm đến những người không có giấy tờ, những khu phố đóng kín, chống lại mọi kỳ thị, loại trừ...
• bằng cách tranh đấu cho cuộc sống.
4. Tranh đấu với những người phải ‘đóng góp nặng nề’ (lourd tribut) vì lý do bị xã hội chúng ta đoạn tuyệt, cách riêng những người đang xin cư trú và những người tỵ nạn (họ bị đuổi ra khỏi nhà ở, không còn làm chủ được số mệnh của mình, tùy theo các trại tập trung, các đoàn xe chuyên chở đến địa điểm hoàn toàn xa lạ, cách biệt khỏi gia đình).
•bằng phương cách đối thoại.
5. Tạo nên những cơ hội đối thoại giữa các thế hệ, các nền văn hóa, các tôn giáo đang đối diện với sự khác biệt phải có để xác định về căn tín, để sinh tồn trước mọi khuynh hướng bạo lực hay thu mình lại trong từng phe cánh.
•bằng cách giúp đỡ khẩn cấp.
6. Đáp ứng những nhu cầu khác nhau của các xứ sở sinh quán bằng những hoạt động liên đới giúp chương trình phát triển.
b. Tuyên chứng tình yêu Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô trong các cộng đoàn sinh động và tin tưởng
Tuyên chứng bằng lời nói :
- bằng một đức tin bén rễ sâu vào Đức Giêsu Kitô.
1. Những gì chúng ta làm phải bén rễ đức tin vào Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Đấng muốn quy tụ mọi người thành một dân tộc anh em.
•bằng một đời sống thấm nhuần đức tin.
2. Phải xét lại đời sống và hành động của chúng ta theo ánh sáng Lời Chúa hầu điều chỉnh lại cho đúng với tình yêu của Thiên Chúa và với tinh thần phục vụ mọi người.
•bằng cách quy hướng về việc đối thoại.
3. Nhất quyết đối thoại giữa chúng ta để tuyên chứng điều chúng ta tuyên xưng (trong cộng đoàn công giáo vừa khác nhau vừa đại kết). Đối thoại với xã hội, bởi vì chúng ta thuộc về xã hội và việc chúng ta phủ nhận định mệnh có thể phục vụ con người thuộc thế hệ hôm nay.
•trong một Giáo Hội là ‘dấu chỉ và phương thế’.
4. bằng việc tuyên chứng một đời sống của Giáo Hội là Bí Tích «của sự kết hợp thâm sâu với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất loài người» (LG,1).
Kinh nghiệm di cư : con đường cải hóa và tiếng gọi truyền giáo :
Với kinh nghiệm di cư, cuộc gặp gỡ trong sự khác biệt thúc đẩy chúng ta đón nhận và đào sâu đức tin vào Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô. Kinh nghiệm gặp gỡ người khác đòi hỏi tôi mở cửa đón tiếp nhân tính của người xa lạ đối với tôi. Như vậy, kinh nghiệm này cũng mời gọi tôi đón nhận một Thiên Chúa Đấng Hoàn Toàn Khác (un Dieu qui est Tout Autre), Đấng tôi không thể thu nhỏ lại trong hình ảnh mà tôi có về Ngài.
Đức tin này bị lấn lướt bởi sự khác biệt tôn giáo và văn hóa của xã hội chúng ta, nó có thể tạo nên thái độ rụt rè khép kín hay sự phong phú tương hỗ nhờ việc đối thoại. Sứ mệnh của chúng ta là cùng nhau trở nên môn đệ Chúa Giêsu Kitô trong một Giáo Hội phục vụ con người.
II. CÙNG NHAU SỐNG VÀ TRỞ NÊN MỘT GIÁO HỘI PHỤC VỤ TRẦN THẾ
Khác nhau mà biết đón tiếp lẫn nhau, chúng ta đón tiếp Giáo Hội.
Giáo Hội trước tiên là một hồng ân phải đón nhận; Giáo Hội cũng là một trách vụ phải hoàn thành. Những phát biểu đức tin và những truyền thống thiêng liêng khác nhau giúp chúng ta sống đức tin như một thực tại vượt quá chúng ta.
Khi đón nhận nhau và đối chất với nhau, những phát biểu và những truyền thống ấy giúp xây dựng Giáo Hội như một nhiệm thể sống động, phong phú về những dị biệt của Giáo Hội.
A. Cùng nhau sống và trở nên một Giáo Hội THÁNH THIỆN và TÔNG TRUYỀN.
Nên thánh : một ơn gọi cho mọi người.
Chúa Giêsu kêu gọi mọi người sống chính sự thánh thiện của Chúa Cha : «Anh em hãy nên trọn lành như Cha anh em ở trên trời là Đấng trọn lành» (Mt 5,48).
Chúa Giêsu mời gọi và sai đi : «Ngài đã chọn mười hai tông đồ và sai họ đi rao giảng» (Mc 3,14).
a. Việc chia sẻ và liên kết với các kitô hữu từ nhiều nguồn gốc dạy chúng ta biết rằng Giáo Hội vượt xa và Giáo Hội là công trình của Thiên Chúa.
Trước thách đố đón nhận sự khác biệt.
. Trong sự khó khăn và đôi khi là sự đối đầu, chúng ta học biết quý mến các truyền thống thiêng liêng nhiều khi làm chúng ta đi trệch đường. Nhờ đó, chúng ta khám phá ra nhiều khía cạnh giầu sang của Chúa Giêsu.
. Chúng ta cũng được hướng dẫn nhận ra công việc của Thánh Thần - Đức Kitô và công trình cứu chuộc của Ngài trong các truyền thống tôn giáo hay nhân bản của người khác.
Chúng ta khám phá ra rằng sự thánh thiện được lãnh nhận.
Sự Thánh thiện của Giáo Hội chính là hồng ân Giáo Hội lãnh nhận từ Thiên Chúa.
Người kitô hữu khác với tôi là dấu chỉ về hồng ân này của Thiên Chúa. Họ trở nên người anh em trong đức tin và với họ tôi được mời gọi nên thánh.
Giáo Hội là sự triệu tập, Giáo Hội quy tụ, nuôi dưỡng và kêu gọi tất cả những ai muốn đáp lại ơn gọi nên thánh này, phải hoán cải.
b. Quan tâm đến những khác biệt, Giáo Hội dạy chúng ta : ngày theo ngày, sứ mệnh duy nhất của dân tộc được mời gọi trở nên nhiệm thể của Đức Kitô, dân Thiên Chúa, là loan báo Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
Ơn gọi là riêng của mỗi người, sứ mệnh là chung, chứng tá là thuộc cộng đoàn.
. Chúng ta được khẳng định chắc chắn rằng : các cộng đoàn kitô được mời gọi trở nên bí tích « của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại» (GH 1). Nếu đời sống đạo đức là riêng tư của mỗi người, thì sức mạnh chứng tá lại múc lấy trong một sức sống của Giáo Hội vượt xa mỗi người xét về cả không gian và thời gian và mời gọi Giáo Hội «làm thành thân thể» để tuyên chứng và loan báo.
Những người sau cùng thường là những người trước hết.
. Chúng ta xác quyết rằng sự liên tục và đời sống của các cộng đoàn kitô đôi khi được ủy thác cho những người đến sau cùng. Những người di cư đã chịu phép rửa tội, trẻ tuổi và thuộc môi trường bình dân, thường là những người đứng hàng đầu để loan báo Chúa Giêsu Kitô ngay những nơi mà những người điều hoạt cổ truyền ít khi làm : khu phố bình dân, những nơi gặp nhau của kitô hữu và anh em hồi giáo, văn hóa và những điểm hẹn của người trẻ.
Và tất cả chúng ta được gọi đi truyền giáo.
. Cùng nhau, tất cả chúng ta cảm thấy mình được gọi đứng lên và hành động «ở bất cứ nơi đâu có người đau khổ, chết chóc và thất vọng», để tuyên chứng sự thánh thiện của Thiên Chúa và sức mạnh của Đức Kitô Phục Sinh.
Sự khác biệt giữa các chứng nhân đức tin là một may mắn cho việc truyền giáo.
. Hồng ân của Thiên Chúa, đức tin trao ban cho chúng ta, được truyền đạt bởi những chứng nhân trung tín. Tất cả chúng ta đã lãnh nhận đức tin qua chứng tá và rao truyền của các người nam nữ dấn thân. Những anh chị em trong đức tin này đôi khi mang nguồn gốc văn hóa không giống chúng ta. Là con cháu của các chứng nhân này, ngày nay, chúng ta là những người có trách nhiệm về việc truyền đạt đức tin. Thiên Chúa muốn chúng ta tuyên chứng về Ngài. Một khi những hình thức đánh động và gây ý thức được quan tâm và hiệp thông, thì chính chúng sẽ đem lại nhiều may mắn cho công trình truyền giáo.
B. Cùng nhau sống và trở nên một Giáo Hội DUY NHẤT và CÔNG GIÁO
Sự hiện diện của người ngoại quốc mời gọi mở rộng biên giới.
Chúa Giêsu ‘đã sống’ sự gặp gỡ người ngoại quốc như một sự cởi mở cho sứ mệnh truyền giáo của Ngài.
Người khác, người ngoại bang, dân ngoại luôn là ‘người mặc khải’ về sứ mệnh ấy. Chúa nói với người đàn bà xứ Cana «Này bà, đức tin của bà thật lớn lao !» (Mt 15,21-22).
Biến cố Ngày Hiện Xuống công bố cho mọi người hồng ân của Chúa Thánh Thần : «Tất cả, chúng ta đều nghe thấy những kỳ diệu của Thiên Chúa được công bố bằng tiếng nói riêng của chúng ta» (CV 2)
a. Việc chung sống với những người nguồn gốc khác nhau khai tâm cho chúng ta đời sống của Thiên Chúa,
•chữa lành chúng ta khỏi chứng bệnh ‘khép kín’,
. Khép mình vào những thói quen, những phản ứng theo phe phái, cố thủ quyền lợi riêng đã được, tất cả đều hạn chế các sinh hoạt và sức tăng trưởng của cộng đoàn kitô cũng như của mọi tổ chức trần thế khác...
. Gặp gỡ nhau khiêm tốn và trung tín sẽ đem lại nhiều hoa quả đức tin, hy vọng và bác ái.
•mở ra cho chúng ta sự gặp gỡ và chia sẻ,
. Những cộng đoàn dấn thân chia sẻ sẽ tạo được tính cách độc đáo và làm tăng trưởng nhân vị : cộng đoàn không ‘bị lạc hướng’ nếu sự quý mến và lắng nghe nhau chủ trì sự gặp gỡ, và nếu cộng đoàn được hướng dẫn và đồng hành thích hợp để sống con đường ‘gặp gỡ và chia sẻ này’.
•dẫn chúng ta đi vào đời sống của một Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần.
. Như vậy, cộng đoàn tham dự vào mầu nhiệm hiệp thông của chính Thiên Chúa : Cha, Con và Thánh Thần «Lạy Cha, xin cho họ nên một, để cho thế gian tin» (Ga 15,17)
Lời cầu nguyện này của Chúa Giêsu cho sự hiệp nhất nhắc nhở mọi kitô hữu về hồng ân phải lãnh nhận và về công việc phải hoàn thành.
Trong Thiên Chúa, sự hiệp nhất đã viên mãn, sự hiệp nhất luôn là sự hiệp thông giữa mọi khác biệt. Đó là việc mỗi kitô hữu phải làm hàng ngày cho sự hiệp nhất.
b. Đời sống của Giáo Hội dạy chúng ta học biết về nguồn phong phú muôn hình dạn của Hồng Ân Chúa ban :
Thêu dệt sự hiệp nhất và sự khác biệt.
. Hiệp nhất không phải là đồng phục, đồng điệu, nhưng là hiệp thông. Tập trung là hiệp thông mọi dị biệt.
. Hiệp thông luôn là sự sai đi đến với người chưa hiện diện ở đó : hiệp thông là người được sai đi (Christi fideles laici,2).
Sự hiệp thông trong Giáo Hội mở ra và mời gọi chúng ta sống ‘tinh thần công giáo đích thực’.
. Tinh thần công giáo (hay công giáo tính) của Giáo Hội không phải là xếp đặt kế sát nhau trong Giáo Hội, giữa các nền văn hóa và sắc tộc khác nhau. Tinh thần công giáo sinh tồn trong sự đối thoại giữa các cộng đoàn kitô khác biệt nhau, có khả năng gặp gỡ và đối thoại với mọi mầu sắc dị biệt của con người ở bất cứ nơi nào mà «hạt giống của Ngôi Lời» (MV) hiến tặng ánh sáng và ơn cứu độ hầu mời gọi mỗi người nên MỘT.
Giáo Hội chiếu cố đến mọi dân tộc hầu bày tỏ dung nhan của Đấng Phục Sinh.
. Đối với kitô hữu, công giáo tính của Giáo Hội là một hồng ân và một trách nhiệm. Đón nhận hồng ân này là cởi mở với người khác là để tự vấn mình và tự luyện mình về tính cách khác biệt của hồng ân, để rồi tập trung lại dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và trên con đường mầu nhiệm vượt qua.
«Giáo Hội là công giáo không chỉ bởi một sự hướng mở đầy năng động đến với mọi dân tộc, nhưng còn vì Giáo Hội cần đến mọi dân tộc hầu bày tỏ cho họ dung nhan của Đức Kitô phục sinh».
III. CẦN MỞ RA MỘT SỐ “CÔNG TRƯỜNG” (CHANTIERS) ÐỂ CÙNG NHAU SỐNG VÀ TRỞ NÊN GIÁO HỘI TRONG MỘT XÃ HỘI MANG DẤU ẤN DI CƯ.
Bằng sự trung thành với thực tế và với sứ mệnh đã lãnh nhận, chúng ta hãy mở ra những công trường chung với những người cùng sống và tuyên chứng một niềm tin.
Dầu thuộc nguồn gốc nào, chúng ta tất cả đều bị xã hội chất vấn về những vấn đề sau đây: lai lịch của chúng ta, quyền lợi đắc thủ của chúng ta, những chuyện thực tế, đức tin của chúng ta luôn bị những thử thách tại đây và bây giờ. Chúng ta phải cùng nhau trả lời về những vấn đề đó bằng những sáng kiến mới trong khuôn khổ gặp gỡ, đối thoại và hành động, giữa các văn hóa, giữa các tôn giáo, giữa các thế hệ, giữa các cộng đoàn.
Mỗi người có trách nhiệm về những rạn nứt.
1. Cả cộng đoàn kitô, dù kitô hữu ở tại chỗ hay từ nơi khác tới, đương nhiên bị chất vấn về những tình trạng rạn nứt của nơi mình sống. Điều hay là cùng nhau chúng ta phân tách và thực hiện những hành động liên đới và dấn thân với tư cách người công dân vì thiện ích của mọi người. Vậy, đâu là chỗ đứng hay trách nhiệm của người kitô hữu ? Làm sao để họ trở thành tác nhân của sự liên đới này ? Về những kitô hữu đến từ xa, đâu là vai trò của họ ?
Tại những công trường rạn nứt này, các nhân chứng tích cực của đức tin chờ đợi được nâng đỡ và nhìn nhận.
2. Sư hiện diện của Giáo Hội trong môi trường bình dân được đảm nhiệm bởi các cộng đoàn nhỏ : giáo xứ, phong trào, tổ chức từ thiện, các nhóm kitô hay các kitô hữu lẻ loi thuộc nhiều nguồn gốc dị biệt, nhiều cộng đồng tôn giáo khác nhau. Ai có thể nhận ra họ và nâng đỡ họ ? Ai đem sự hiệp nhất của Giáo Hội đến môi trường này ? Trong những giai đoạn nào Giáo Hội địa phận có thể lắng nghe và nâng đỡ đời sống ấy của Giáo Hội ?
Khi có một hình thức hiện diện nào của Giáo Hội biến mất, thì phải thử làm sao để nối tiếp bằng việc chuyển đạt phương thức hành động này của những người đã ra đi ?
Các cộng đồng tôn giáo có một phương thức hành động cần truyền đạt và được nhìn nhận.
3. Nhờ sự khác biệt về nguồn gốc của các thành viên, các cộng đoàn tôn giáo chứng tỏ việc tiếp đón người khác, người ngoại bang : Những phương cách hành động nào mà các gia gia đình tôn giáo có thể đem đến cho xã hội chúng ta dang gặp khó khăn về việc chung sống và cho Giáo Hội đang tìm ‘công giáo tính’ ? Phải làm sao để phương thức hành động này được xã hội và Giáo Hội địa phận nhìn nhận và quan tâm ?
Việc gặp gỡ giữa các tôn giáo mong được nâng đỡ và mong cho những người dấn thân được huấn luyện đầy đủ.
4. Sự gặp gỡ giữa các tôn giáo không phải là một vận động tùy hỷ. Nó đòi hỏi phải can đảm gặp gỡ và quyết chí đối thoại chân thành với người khác. Những người chủ chốt trong việc đối thoại này thường là những người gốc ngoại quốc có những liên hệ tự nhiên với những người thuộc tôn giáo khác. Ai đảm nhiệm công tác đồng hành và huấn luyện những người sống mạo hiểm này ? Làm sao đồng hành với những người trẻ đang sống trong tình trạng lẫn lộn (mixité) tôn giáo và văn hóa ?
Trong các phạm vi trách nhiệm, những người đến sau cùng cũng có trọn vẹn chỗ đứng.
5. Sự tham dự hồ hởi và sống động của các nhóm khác nhau (kiều cư, giới trẻ) trong những cử hành nghi lễ của các cộng đoàn chúng ta, đôi khi có thể ‘đàn nhạc hóa’ (instrumentaliser). Nhiều khi không cần nói, người ta yêu cầu được tham dự theo cách thế quen thuộc : đối với trách nhiệm của cộng đoàn, với những quyết định liên hệ, kính trọng lời họ phát biểu, nhìn nhận cái họ đóng góp vào đời sống của Giáo Hội địa phương. Vậy, lúc nào và nơi nào họ được phát biểu, được góp phần, được bày tỏ cách thức tin tưởng của họ ?
Công việc huấn luyện của giáo phận gặp phải ‘thách đố hội nhập văn hóa’.
6. Sau những suy nghĩ mau chóng, chúng ta khám phá ra rằng : đức tin bén rễ vào một văn hóa, một lịch sử, một cái gì mà mỗi người đem đến tự đáy lòng. Hội nhập văn hóa đức tin đòi hỏi quan tâm đến ‘ngôn ngữ của bản xứ’ (langage d’origine).
Làm sao để công việc huấn luyện của giáo phận vượt qua được những thách đố đa văn hóa và hội nhập văn hóa ? Làm sao để công việc huấn luyện tìm ra những hành trình thích ứng, không những về ngôn ngữ, mà cả về kinh nghiệm kitô của người di cư, giới trẻ, những người hoạt động và người có tín ngưỡng trong môi trường bình dân ? Làm sao để tại mỗi nơi, các phong trào và các dịch vụ khác nhau có thể giúp chúng ta mở rộng việc truyền giáo và dự phóng những con đường mới ?
Giáo xứ hay cộng đoàn là nơi bày tỏ khác nhau về đức tin.
7. Những kitô hữu đến từ nhiều nơi khác, cầu nguyện và cử hành nghi lễ thường xuyên hay định kỳ, theo cộng đoàn ngôn ngữ hay văn hóa. Đó là những anh chị em họp nhau chung quanh cũng một người Cha, tuyên xưng đức tin vào cũng một Thiên Chúa duy nhất. Làm sao để sự gặp gỡ, thông tin lẫn nhau, đối thoại, cơ sở sẵn sàng, nói lên được sự tiếp đón nồng nhiệt giữa lòng Giáo Hội địa phương ?
Nhà xứ là bộ mặt của công giáo tính.
8. Các linh mục, các tu sĩ nam nữ, giáo dân từ nơi khác tới phục vụ đồng bào của họ sinh sống tại Pháp. Điều rõ ràng là từ nay họ thi hành sứ mệnh dưới trách nhiệm của Giáo Hội thuộc quốc gia đón tiếp. Làm sao để họ được nhìn nhận và làm sao để họ thực sự tham dự vào sinh hoạt mục vụ của Giáo Hội địa phận ? Làm sao tạo nên những tương quan giữa họ với đời sống quê hương xứ sở, giữa Giáo Hội tiếp đón và Giáo Hội bản quán ?
Trong chủng viện, cần có một sự huấn luyện thích hợp với sứ mệnh của Giáo Hội hiện nay.
9. Sự khác biệt của các cộng đoàn và thực tại của xã hội có nhiều di cư như xã hội chúng ta, đòi hỏi các linh mục phải lưu tâm và nhận lấy trách nhiệm mục vụ. Dù là người Pháp hay ngoại quốc, các linh mục phải là nhịp cầu, những ‘con người biên giới’ (hommes frontière). Làm sao để việc huấn luyện trong chủng viện có thể quan tâm nhiều đến sứ mệnh này của Giáo Hội hôm nay ?
Và tiếp theo...
10. Và tiếp theo... mỗi cộng đoàn, mỗi phong trào và mỗi dịch vụ, mỗi cơ sở của Giáo Hội phải biết tìm ra những ‘công trường’ thích ứng cho tình hình cụ thể của mình... hầu hướng mở ra với người khác.(Giaoxuvn.org)