TỪ MỌI NGÔN NGỮ VÀ MỌI VĂN HÓA, CHÚNG TA PHẢI CÙNG NHAU SỐNG

VÀ TRỞ NÊN MỘT GIÁO HỘI CÓ SỨ MỆNH TRÌNH BÀY ĐỨC TIN

TRÊN LÃNH THỔ CÓ NHIỀU NGƯỜI DI CƯ NÀY
.

Ð.ô. Mai Ðức Vinh chuyển ý

LỜI MỞ ĐẦU

Một thực tại đã bén rễ vào đời sống của Giáo Hội có nhiều kiều cư.

Đã đến lúc phải xét lại chỗ đứng của những người đã chịu phép rửa tội gốc ngoại quốc cư ngụ trong một Giáo Hội như Giáo Hội Pháp. Trong những tháng qua, nhiều người trách nhiệm khác nhau về Mục Vụ Ngoại Kiều đã đem hết tâm lực nhìn thẳng vào thực tại này. Đây là bản văn tổng hợp của những hoạt động mục vụ nhằm mục đích hướng mở và bén rễ vào một Giáo Hội có sứ mệnh trình bày đức tin trong xã hội Pháp hiện nay.

Bén rễ vào các tầng lớp xã hội của xứ sở này, sau nhiều thập niên, người ngoại kiều đã trở nên đồng bào nam giới và nữ giới, thuộc vào các thành phố và làng quê của chúng ta. Họ hiện diện ở việc làm và thất nghiệp, trong mọi môi trường phát biểu về văn hóa, hội hữu, nghiệp đoàn, và tổ chức liên đới. Ở đó, họ được nhìn nhận vừa với tính cách cá nhân vừa với tính cách tập thể, như những người mang theo các giá trị của một dân tộc này hay dân tộc khác, của một văn hóa này hay văn hóa khác.

Trong Giáo Hội Pháp việc nhìn nhận những người ngoại kiều đã chịu phép rửa tội gốc ngoại quốc đôi khi chưa rõ rệt giữa cá nhân được nhìn nhận theo sự kiện (hơn theo căn tính của họ) với người đến từ một dân tộc khác, phần tử của một cộng đồng nhân loại hay của một cộng đồng công giáo gốc ngoại quốc phong phú về văn hóa, tôn giáo và nhân bản.

Theo dòng lịch sử, người ta nhận thấy có sự thay đổi từ thái độ khép kín (tự muốn hay phải chấp nhận) đến việc tham dự. Sự thay đổi này có nhiều mức độ khác nhau, tùy theo đời sống, cách xử trí và cơ cấu mục vụ của Giáo Hội địa phương.

Trước tiên, chúng ta phải nêu lên những địa điểm và môi trường, nơi chúng ta cùng nhau trở thành Giáo Hội. Tiếp theo, chúng ta quan tâm đến những khó khăn mà ngay bây giờ, đang đun đẩy chúng ta tới những con đường phải vượt qua, những công trường phải kiến thiết, để tất cả chúng ta trở nên Giáo Hội của Đức Giêsu Kitô, Giáo Hội có khả năng trình bày Phúc Âm cho xã hội hôm nay.

A. Đi từng bước nhỏ để xây dựng Giáo Hội.

1. Các cộng đoàn công giáo gốc ngoại quốc quy tụ lại với một tuyên úy linh mục hay phó tế hay tu sĩ hoặc giáo dân, hoặc một một ban mục vụ, càng ngày càng được nhìn nhận và có đại diện trong các cấp bậc của giáo phận, nhất là ở Hội Đồng Giáo phận về Mục Vụ Ngoại Kiều hay / và ở Hội Đồng Giáo Phận về Mục Vụ. Các cộng đồng ấy tham dự tích cực vào việc chuẩn bị và việc tổ chức các Ngày Lễ Sắc Tộc, các cuộc hành hương, các khóa huấn luyện. Giáo phận cũng có những sáng kiến mục vụ cho giới trẻ, những chiến dịch liên đới với CCFD, giáo lý tân tòng cho người lớn, chuẩn bị thêm sức. Sinh hoạt giáo xứ hay cộng đoàn hướng mở về những sinh hoạt liên giáo xứ, liên cộng đoàn rất ý nghĩa. Trong giáo xứ và cộng đoàn, những người đã chịu phép rửa tội đang đảm nhiệm hay chuẩn bị đảm nhiệm những trọng trách trong các sinh hoạt của giáo phận

2. Những người đã chịu phép rửa tội gốc ngoại quốc : Rất nhiều trường hợp họ được tiến cử vào các sinh hoạt của giáo xứ và vào các môi trường hoạt động thuộc Giáo Hội. Càng ngày họ càng hiện diện tích cực trong các sinh hoạt phụng vụ, tông đồ, từ thiện của Giáo Hội địa phương, giáo phận, giáo xứ, các phong trào hay các dịch vụ khác. Trong nhiều trường hợp, họ trở nên những người-tiếp sức (personnes-relais) hay môi giới giữa cộng đồng nhân bản và Giáo Hội : Các Ban Điều Hành Mục Vụ, thường trực và các linh hoạt viên mục vụ, thành viên và người trách nhiệm về các phong trào Công Giáo Tiến Hành, người đồng hành với chầu nhưng, hướng dẫn các em giáo lý, điều hành các cộng đoàn không có linh mục. Hơn thế, thường chỉ một mình họ là những kitô hữu sau cùng còn hiện diện trong các nơi có chuyện rạn nứt và ở ngoài lề xã hội (các khu vực bình dân).

3. Các linh mục pháp hay gốc ngoại quốc có trách nhiệm đặc biệt giữa một cộng đoàn, chỉ nguyên phục vụ cộng đoàn hay phục vụ một phần thời gian, hiện diện trong Hội Đồng Linh Mục, Ban Tuyên Úy chung quanh Giám Mục, lãnh trách nhiệm trong các giáo xứ địa phương hay trong một hạt mục vụ hoặc trong các dịch vụ khác của giáo phận.

B. Nhưng luôn có những khó khăn.

Ngày nay vẫn còn nhiều khó khăn làm chậm trễ việc ý thức ‘cùng nhau xây dựng Giáo Hội tại các nước có nhiều kiều cư ’. Những khó khăn ấy có nhiều cấp bậc khác nhau tương hệ với hoàn cảnh di cư, với sự khác biệt về văn hóa, về không gian và thời gian của cuộc sống, với sự dị biệt và với những tương quan về quyền bính, và sau cùng với những quan niệm khác nhau về Giáo Hội mà chúng ta đem đến cho nhau.

1. Hoàn cảnh và thời điểm di cư in dấu hằn trên người di cư bởi bao nghiệt ngã của đời sống và bởi bao chi phối của công ăn việc làm. Chúng kéo theo sự thiếu hụt thời gian, và không sẵn sàng tự nguyện, sự đầu hàng nhẫn nhục trước những quyền lợi không được kính trọng, sự thiếu vắng tinh thần liên đới. Các thế hệ nối tiếp nhau, người ta không thể có một cái nhìn toàn bộ về «những người Bồ Đào Nha, tất cả là như vậy... ». «những ngưồi Ba Lan, tất cả phản ứng như thế đó... ». Việc giáo dục con em và người trẻ trở thành quá khó khăn vì thiếu những tiêu chuẩn vững chắc; những mối liên hệ với xứ sở và với Giáo Hội gốc trở thành xa cách và nẩy sinh nhiều vấn đề.

Những hoàn cảnh này cũng in dấu nơi những người kitô và các cơ cấu của Giáo Hội đón tiếp : Thiếu thiện chí, thời giờ và nhẫn nại làm quen để khám phá và hiểu biết đời sống, lịch sử, phong tục, nghi thức và quan niệm sống của các cộng đoàn gốc ngoại quốc.

2. Sự khác biệt về văn hóa, nói chung trong vấn đề di cư, gây nên nhiều va chạm và nhiều khó khăn. Bởi vì phần lớn những người di cư đến từ những xã hội độc văn hóa và độc tôn giáo. Đi vào một thế giới đa dạng, thì dĩ nhiên không phải là chuyện đơn giản khi phải cắm trồng vào đó những gốc rễ riêng tư mà không dám cắt xén đi vì sợ như thế sẽ mất linh hồn. « Tôi không còn rao giảng phúc âm được nữa, bởi vì dân chúng đã quá bị tiêm nhiễm bởi xã hội pháp trần đời và thế tục hóa»

Đàng khác, xã hội và Giáo Hội tiếp đón cũng không còn biết phải đối chiếu với văn hóa nào và thường có khuynh hướng chọn văn hóa được gọi là văn hóa pháp. Nhưng là văn hóa nào ? văn hóa của ngoại ô ? văn hóa của trung tâm thành phố ? văn hóa của các lớp trung lưu ? Luôn luôn người ta đặt ra cho nhau vấn đề hội nhập văn hóa đức tin trong một văn hóa biến đổi thường xuyên bởi những yếu tố cấu thành được đổi mới liên tục. Sự va chạm dễ nom thấy nhất xẩy ra quanh ‘việc hành đạo’. Đối với người này, ‘hành đạo’ là sự bày tỏ tâm hồn sâu thẳm của con người (vậy phải phòng giữ); đối với người khác, ‘hành đạo’ được coi như những trình diễn bình dân bên ngoài, rồi đây sẽ biến mất theo sự vận hành của các thế hệ và bởi sự đồng hóa không thể tránh được. Vấn đề ngôn ngữ cũng kết tinh một số khó khăn.

3. Những cơ sở hay môi trường mà mỗi người có thể đến sinh hoạt và đàm đạo với nhau cũng thường là nguồn gốc xung đột và đau khổ. Sự lẻ loi và thiếu sự nhìn nhận về nguồn gốc đôi khi được chữa lành trong những cộng đoàn nhiệt tình nâng đỡ đức tin, căn tính và nhân phẩm của người di cư. Nhưng ngược lại, chính những cộng đoàn ấy có thể bị coi như ‘những nhà nguyện-đóng kín’, tạo nên lối sống ngoài rìa xã hội. Dầu sao đi nữa, một trong các lý do lớn là thiếu cơ sở thích ứng cho việc cử hành những buổi lễ quan trọng của đời sống. Lý do thiếu cơ sở thành thảm họa nghiêm trọng hơn, bởi tiền thuê một nhà thờ, nhà nguyện hay phòng nguyện hầm để cử hành thánh lễ, hôn phối hay ma chay thường khá đắt đỏ.

4. Sự kiện ‘khó nhìn nhận người khác’ còn tùy thuộc vào sức mạnh và quyền bính giữa cái người ta gọi là đa số và thiểu số. Hơn thế, thiểu số có thể bị thu gọn vào «chính sách đồng hóa», đôi khi thành vết thẹo, « họ chỉ phải làm như chúng ta ». Dân di cư ngày càng nhậy cảm về sự thiếu được nhìn nhận này, «người ta nói tiếp đón chúng ta nhưng người ta không lắng nghe chúng ta ». Tuy nhiên, những cá nhân «đã dấn thân vào giữa những cơ cấu khác nhau của Giáo Hội» thì họ được nhìn nhận nhiều hơn, dễ dàng hơn các cộng đoàn nguyên quán của họ. Khuynh hướng khép kín hay thu mình lại còn mạnh mẽ hơn nhiều, nơi một số người di cư cố kết với nhau (nên khép kín lại với nhau) để bảo vệ cho nhau trước những đòi hỏi của Giáo Hội «mệnh danh là Giáo Hội của người Pháp», là Giáo Hội bị người ta coi là không hiểu gì về đời sống cũng như về sinh hoạt tôn giáo của họ.

5. Dĩ nhiên, tất cả những khó khăn này liên hệ chặt chẽ với những quan niệm khác nhau về Giáo Hội mà tất cả chúng ta là những người cưu mang và phải trình bày.

Những điều đáng quan tâm : nhiều người di cư chạy qua các giáo phái, một số linh mục ngoại quốc thu mình lại với cộng đoàn của họ (vì họ cảm thấy không được quý mến), việc bãi bỏ một cộng đoàn nào đó sau khi linh mục hay tu sĩ tuyên úy đi khỏi hay từ trần, một cái nhìn nghi ngờ nào đó về những cách hành động của người này và của người khác... Tất cả cho thấy rằng những tiêu chuẩn giáo hội khẩn thiết phải được cập nhật hóa và được chấp hành chung. Người Pháp, giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân... tất cả đều đối diện với câu hỏi này : Có gì chúng ta đã không làm, khiến bỏ mất hay để thất thoát một phần dân chúng đã được trao phó cho chúng ta ? (giaoxuvn.org)

(Còn tiếp)