NHỮNG BÀI HỌC SỐNG TIN YÊU CỦA TIỀN NHÂN TỬ ÐẠO - Lm Phan Tấn Thành
KỶ NIỆM 15 NĂM (1988-2003) TÔN PHONG HIỂN THÁNH TỬ ÐẠO VIỆT NAM
Tuy mới được 15 năm nhưng xem như lễ tôn phong các thánh tử đạo Việt nam đã trôi vào quên lãng. Mặc dù đó đây một vài ngôi thánh đường được cất lên dâng kính các thánh tử đạo Việt Nam, nhưng có lẽ nhiều người nghĩ rằng các vị đã thuộc về một quá khứ xa xưa rồi. Hoàn cảnh lịch sử của các thế kỷ XVII-XIX khác xa thời buổi chúng ta đang sống, nhất là tại xã hội Âu Mỹ. Trong bài này, chúng tôi xin dựa theo giáo huấn của Đức Gioan Phaolô II, vị giáo hoàng đã tôn phong các thánh tử đạo Việt Nam, để tìm hiểu sứ điệp các thánh tử đạo vượt lên trên mọi biên cương không gian và thời gian.
Từ ngày đắc cử kế vị thánh Phêrô cho đến ngày 25/11/2001, đức đương kim giáo hoàng đã tôn phong 451 hiển thánh, trong số này 400 thánh tử đạo, và 1284 chân phúc trong số đó số tử đạo lên tới 1022. Nói khác đi, các vị tử đạo vẫn còn chiếm đa số trong hàng ngũ các vị thánh và chân phúc thời nay.
Trong số các vị thánh tử đạo, chúng ta nên ghi nhận vài điểm sau đây :
- Xét về không gian, một số đáng kể các thánh tử đạo thuộc về Á châu, cụ thể là Đại hàn (thánh Anrê Kim, Phaolô Chong và 101 bạn tử đạo: 06/05/1984), Philippin và Nhật (thánh Lorenzo Ruiz, Domingo Ibanez, Giacobê Kuyshei Tomogana và 13 bạn tử đạo: 18/10/1987), Việt Nam (thánh Anrê Dũng lạc và 116 bạn tử đạo: 19/06/1988), Trung hoa (120 vị được phong ngày 01/10/2000). Nói chung, các vị này thuộc về miền truyền giáo, nạn nhân của những sự hiểu lầm do cuộc đối kháng giữa văn hóa cổ truyền với Kitô giáo. Tuy nhiên, không thiếu những vị tử đạo ngay tại châu Âu, một lục địa vốn được đồng hóa với văn minh Kitô giáo: Pháp, Đức, Tây ban nha, vv.
- Xét về thời gian, phần lớn các thánh tử đạo tại Á châu vừa nhắc trên đây thuộc vào thế kỷ XVIII-XIX. Tuy nhiên, không thiếu các vị tử đạo thuộc thế kỷ XX, tại Tây ban nha, Mêkhicô, Đức, và Đông Âu. Một khuôn mặt điển hình hơn cả là Edith Stein (1891-1942), được tôn phong làm bổn mạng Âu châu.
Vì thế không lạ gì, đề tài "tử đạo" được nhắc tới nhiều lần trong các văn kiện của đức Gioan Phaolô II, cách riêng nhân dịp chuẩn bị Năm thánh 2000 và bước sang thiên niên kỷ mới (tông thư Tertio Millennio Ineunte, ngày 10/11/1994, số 37). Ra như Đức Thánh Cha muốn nhắc nhở cho các tín hữu rằng việc tử đạo không phải chỉ là một thực tại xa xưa hay chỉ diễn ra ở những vùng đất ngọai đạo : ơn gọi tử đạo gắn liền với ơn gọi của người Kitô hữu bất cứ lúc nào và ở đâu. Hơn thế nữa, Đức Thánh Cha còn cung cấp cho ta nhiều tài liệu để suy niệm về ý nghĩa của việc tử đạo, nhìn dưới những khía cạnh khác nhau của cuộc sống đạo. Chúng tôi xin điểm qua vài đọan văn tiêu biểu.
- Thông điệp Redemptoris Míssio về truyền giáo (07/12/1990), số 42-45.
- Thông điệp Veritatis splendor (06/08/1993), số 89-94.
- Tông thư Tertio Millennio Adveniente (10/11/1994) số 37.
- Tông huấn Vita consecrata về đời sống thánh hiến (25/03/1995) số 86.
- Tông huấn Ecclesia in Asia, Hội thánh tại Á châu (06/11/1999). Đề tài tử đạo được nhắc đến trong phần nhập đề khi ôn lại lịch sử truyền bá Tin mừng tại lục địa (số 9), và nhất là ở phần kết (số 49). Các vị tử đạo được trưng bày như là những chứng nhân cho giá trị cốt yếu của Tin mừng. Văn kiện nhắc đến đoàn ngũ các thánh tử đạo tại Nhật bản, Philippin, Việt nam, Đại hàn. Nên nhớ là cuộc phong thánh cho các vị tử đạo Trung hoa diễn ra sau khi ban hành văn kiện này. Ngoài ra cũng nên thêm các chân phước được phong trước hoặc sau đó, chẳng hạn như tám vị tử đạo ở Thái lan (tháng 12 năm 1940) được đặt lên bàn thờ ngày 22/10/1989. Ngày 05/03/2000, cùng được tôn phong chân phước với thầy giảng Anrê Phú yên (+1644) là Pedro Calungsod (+1672) một thầy giảng Philippin, và cha Nicolas Bunkerd Kitbamung (1895-1944), một linh mục Thái lan.
- Trong khuôn khổ cử hành Năm thánh 2000, một ủy ban được thiết lập để thảo một danh sách các vị tử đạo của thế kỷ XX, và một ngày tưởng niệm các chứng nhân đức tin thế kỷ XX được tổ chức tại Colosêo XX (07/05/2000).
Dựa vào giáo huấn của Đức Gioan Phaolô II, cũng như những đóng góp thần học cận đại, chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của việc tử đạo và những hệ luận đối với đời sống đạo.
I. Từ ngữ
Trước khi vào đề, thiết tưởng nên lưu ý về từ ngữ.
1- Trong tiếng Việt, từ "tử đạo" (hay tử vì đạo) tự nó chỉ nói lên cái chết vì đạo nghĩa. Có lẽ từ này chỉ muốn phân biệt với các nguyên nhân khác đưa đến cái chết, chẳng hạn như "tử đạo" khác với "tử trận, tử nạn". Trong nguyên gốc hy lạp martyr có nghĩa là "người chứng". Trên thực tế, có nhiều cấp độ làm chứng. Dưới pháp diện pháp lý, chứng tá quan trọng nhất là lời khai trong một phiên tòa. Về tính cách tín lực, người làm chứng có uy tín nhất là kẻ được ủy thác chính thức, hoặc là liên can đến nội vụ. Trong Tân ước, đừng kể những đọan văn nói về chính đức Giêsu đến để làm chứng cho sự thật (Ga 18,37; Kh 1,5), các tông đồ là những người được ủy thác làm chứng cho Chúa Kitô (Cv 1,8), và thậm chí tất cả các môn đệ đều được gọi làm chứng cho Tin mừng; việc làm chứng này kèm theo nhiều gian truân và kể cả cái chết (Lc 21,12-13). Về sau, danh từ martyr được dành cho những người làm chứng bằng mạng sống (nghĩa là những người bị giết vì đức tin), khác với confessor là những người đã bị tra tấn giam cầm vì đức tin, nhưng không bị giết.
2- Tư tưởng bình dân không thiếu lần gắn liền "tử đạo" với "anh hùng". Sự liên kết có phần đúng, bởi vì muốn nói lên lòng dũng cảm của người không ngại hy sinh mạng sống để bảo vệ niềm tin. Tuy nhiên, việc móc nối hình ảnh "anh hùng" với "tử đạo" cũng có nguy cơ làm sai lệch ý nghĩa của nó. Lịch sử các dân tộc đều ghi nhận sự hiện diện của các anh hùng chết vì chính nghĩa. Không thiếu người dịch tiếng "liệt sĩ" là "martyr". Rồi còn phải nói gì đến các tín đồ các tôn giáo chết vì "đạo" qua các hành vi tự thiêu hoặc cảm tử (kamikaze) ? Có gì khác biệt giữa các vị anh hùng đó ?
Truyền thống thần học đã dần dần xác định những điều kiện để được nhìn nhận là tử đạo : chết vì đạo có nghĩa là chết vì đức tin. Họ bị giết (chứ không phải tự sát) bởi những người ghét đạo (odium fidei). Tuy nhiên, những tiêu chuẩn cổ điển đó cũng được xét lại trong thời gian gần đây, không những từ phía các nhà sử học và thần học mà ngay cả về phía Bộ phong thánh, điển hình là trường hợp của cha Maximilianô Kolbe. Trong thủ tục phong chân phước, cha được nhìn nhận như một người đã thực hiện nhân đức bác ái cách anh hùng; thế nhưng đến giai đọan phong hiển thánh, vụ án được chuyển danh từ "confessor" sang "martyr". Vào đầu thế kỷ XX, một thiếu nữ Maria Goretti cũng được kể vào hàng ngũ tử đạo, tuy bị giết vì bảo vệ đức trính khiết chứ không phải một chân lý đức tin.
Từ vài nhận xét sơ khởi đó, chúng ta nên đi tìm ý nghĩa đích thực của sự tử đạo : nó vượt lên trên khái niệm "anh hùng" (nhân đức can đảm), cũng như nó đi xa hơn việc trung thành bảo vệ đạo lý đức tin. Việc tử đạo cần được lồng trong bối cảnh của ba nhân đức tin cậy mến. Sự chuyển hướng này khởi đầu từ công đồng Vaticanô (hiến chế tín lý về Hội thánh).
II. Linh đạo
Chúng ta sẽ nhận thấy ý nghĩa phong phú của việc tử đạo khi nêu bật những chiều kích khác nhau cũng như khi xét tới những mối tương quan đa dạng của nó với Thiên Chúa, với Đức Kitô, với các nhân đức, và thậm chí với các giá trị nhân bản...
1- Sức mạnh của Chúa
Trước khi ca ngợi lòng dũng cảm của các vị tử đạo Giáo hội ca ngợi công việc kỳ diệu của Thiên Chúa là "Đấng làm cho sức yếu đuối trở nên mạnh mẽ để làm chứng cho Chúa" (kinh tiền tụng các thánh tử đạo). Sức mạnh của các thánh tử đạo nói nên uy quyền của Thiên Chúa. Việc tử đạo là một hồng ân Chúa ban chứ không phải là thành tích của lòng gan dạ của con người. Đọc lại lịch sử Giáo hội tiên khởi, ta thấy các tín hữu, dựa theo lời khuyên của Chúa (Mt 10, 23) đã đi ẩn núp khi gặp cơn bách hại, chứ không tự ý đi nạp mạng (theo như sự thúc đẩy của Tertullianô và nhóm Montanô). Việc tử đạo là một hồng ân Chúa ban, và ta hãy khiêm tốn chuẩn bị đón nhận, chứ không nên ỷ vào sức mạnh của mình.
2- Mẫu gương nhân đức
Tuy nhiên, khi ca ngợi Thiên Chúa vì hồng ân đã ban cho các thánh tử đạo, Giáo hội cũng nhìn nhận công trạng các tín hữu đã đón nhận ân huệ ấy. Họ đáng được tuyên dương vì đã đề cao tấm gương nhân đức : "đức tin sống động gắn bó trót đời sống với Thiên Chúa, đức cậy vững bền, phó thác vận mạng nơi Chúa, tin tưởng rằng Ngài không bỏ rơi các tôi trung; đức ái say nồng, đặt lòng yêu mến Chúa lên trên các giá trị trần thế (tình cảm, danh vọng, tiền bạc, mạng sống); đức khôn ngoan khi chọn lựa các giá trị vững bền, gạt qua những thử thách chóng qua; đức công bằng vì muốn chu tòan các nghĩa vụ đối với Thiên Chúa và sự thật; đức tiết độ, sử dụng tinh thần để chiến thắng sự ngại ngùng của bản năng; đức mạnh bạo để bảo vệ sự sống vĩnh cửu chống lại những gì đe dọa sự sống ấy".
Như vậy, việc tử đạo không phải chỉ liên quan đến đức tin (trung thành với đức tin) mà còn bao gồm các nhân đức khác, nhất là đức mến, cốt tủy của mọi nhân đức.
3- Tình yêu
Tương quan giữa việc tử đạo với tình yêu có thể được nhìn dưới nhiều khía cạnh: yêu mến đối với Chúa Kitô, yêu mến đồng lọai. Công đồng Vaticanô II viết như sau :
"Cũng như Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã bày tỏ lòng yêu mến chúng ta khi ban hiến mạng sống của mình cho chúng ta, nên chi không có ai tỏ tình yêu thương hơn kẻ hiến mạng sống của mình cho Ngài và cho anh chị em của mình. Vì vậy, ngay từ đầu một số tín hữu đã được kêu gọi, và một số khác sẽ còn mãi mãi được gọi làm chứng cho tình yêu tột đỉnh trước mặt mọi người, cách riêng trước mặt những người bách hại. Do đó sự tử đạo, qua việc đổ máu mình ra, người đồ đệ nên giống Thầy của mình, Đấng đã tình nguyện chấp nhận cái chết để cứu chuộc thế gian, được Giáo hội coi như một hồng ân tuyệt vời và bằng chứng cao cả của tình yêu. Tuy rằng hồng ân ấy được ban cho một ít người, nhưng tất cả mọi người đều phải sẵn sàng tuyên xưng Đức Kitô trước mặt mọi người và đi theo Người qua con đường thập giá giữa những cơn bách hại hằng xảy ra cho Giáo hội" (Hiến chế về Hội thánh, số 42).
Đọan văn súc tích này muốn vạch ra những khía cạnh khác nhau của lòng mến Chúa Kitô :
- Lòng yêu mến Chúa Kitô đòi hỏi lòng trung thành với Người, lòng trung thành mà ta đã cam kết khi lãnh bí tích rửa tội.
- Đành rằng lòng yêu mến Chúa Kitô kèm theo lòng trung thành chân lý đức tin, nhưng tiên vàn nói đến yêu mến là nói đến sự gắn bó với Ai đó. Nói đúng hơn, lòng yêu mến là hậu quả của việc ý thức rằng mình đã được Chúa Kitô yêu thương. Việc tử đạo muốn biểu lộ sự đáp trả tình yêu, như lời chân phúc Anrê Phú yên.
- Lòng yêu mến Chúa bao hàm việc bắt chước Người : bắt chước cử chỉ trao hiến của Người (Không có tình yêu nào cao quý cho bằng hiến thân vì bạn hữu của mình : Ga 15,13); bắt chước tâm tình tín thác và tha thứ của Người, như thánh Têphanô (Cv 7,59-60; Lc 23,46.34). Vị tử đạo đón nhận cái chết trong thái độ bình tĩnh phó thác, và cầu nguyện cho những người hành hạ mình, khác với nhiều liệt sĩ không ngừng nuôi dưỡng căm hờn với quân thù !
4- Chứng nhân cho Sự thật (Chân lý)
Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo vẫn còn liên kết tử đạo với chứng tá cho sự thật (số 2473). Tuy nhiên, khi lồng trong viễn tượng của đức ái, chân lý không chỉ giới hạn vào một số mệnh đề lý thuyết, nhưng bao gồm cả chân lý về Thiên Chúa lẫn chân lý về con người.
Lịch sử Kitô giáo đã ghi nhận rất nhiều vị tử đạo chứng nhân cho những chân lý đức tin, tựa như về thiên tính của Đức Kitô, đối lại với đạo Do thái hay các tôn giáo khác. Không thiếu các chứng nhân cho các tín điều về sự hiện diện của Chúa Kitô trong bí tích Thánh thể, hoặc sự hiệp nhất của Hội thánh vào những thời ly giáo. Nói chung, các vị tử đạo cách này hay cách khác tuyên xưng rằng : "Cần phải vâng lời Chúa hơn là vâng lời người đời" (Cv 5,29); họ thà chết chứ không muốn lỗi luật Chúa.
Mặt khác, công đồng Vaticanô II đã nói rằng "Chúa Kitô không những mặc khải mầu nhiệm Thiên Chúa cho con người mà còn mặc khải thiên chức con người cho con người nữa" (Hiến chế Vui Mừng và Hy vọng, số 22). Những chân lý về con người khá đa dạng; chỉ xin nêu lên vài thí dụ :
- chân lý về tự do lương tâm. Giá trị cao quý của con người ở sống thực với chính mình : sống hòa hợp với những điều mình xác tín, chứ không chịu khuất phục bạo quyền.
- chân lý về phẩm giá con người. Phúc âm đã dạy chúng ta yêu tha nhân như chính mình. Ngôn ngữ thời đại diễn tả chân lý này ra thành công thức "thăng tiến nhân phẩm". Chúng ta liên tưởng đến những người tranh đấu cho nhân quyền, chống lại mọi hình thức bóc lột (các nô lệ, các công nhân, các nhóm thiểu số, vv), tranh đấu cho công bình xã hội chống lại các tệ đoan (tham nhũng, hối lộ, gian lận), nhưng chúng ta cũng không thể bỏ qua những người hy sinh mạng sống để phục vụ những nạn nhân xấu số (trại phong cùi).
- chân lý về ơn gọi siêu việt của con người. Tuy rằng con người cần được phát triển mọi phương diện ở trên đời này (tinh thần, văn hóa, an sinh), nhưng cuộc sống con người không chỉ giới hạn vào trần thế này. Các vị tử đạo làm chứng rằng cuộc sống đời này rất quý giá (và không được phép giết người hay tự sát), nhưng còn có những giá trị vĩnh cửu còn cao hơn đời tạm bợ này nữa. Đây cũng là chân lý về niềm hy vọng tương lai bất tận.
Những khía cạnh này được Đức Gioan Phaolô II bàn đến trong thông điệp Redemptoris Missio (số 43-45), Veritatis Splendor (số 89-94).
III. Hệ luận
Trong đoạn văn Hiến chế về Hội thánh (số 42) được trưng dẫn trên đây, công đồng Vaticanô II nói rằng ơn gọi tử đạo được ban cho một ít người, đặc biệt trong thời bách hại, nhưng tất cả các tín hữu được mời gọi đi theo Chúa Kitô và vác thập giá với Người. Lịch sử Hội thánh cho thấy rằng sau ba thế kỷ bách hại, đến khi các tín hữu được hưởng tự do tín ngưỡng với nguy cơ ưa chuộng nếp sống dễ dãi, một số người muốn tiếp tục lòng can trường của cha ông qua nếp sống khắc khổ của đời đan tu trong sa mạc.
Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu đừng quên tấm gương của các vị tử đạo. Thiết tưởng việc kính nhớ các thánh tử đạo không chỉ giới hạn vào việc cử hành phụng vụ, hay xây cất đền đài. Như cha Bernardo Cervellera đã bình luận nhân ngày cử hành các chứng nhân đức tin thế kỷ XX (bản tin Fides số ra ngày 05/05/2000), khi cử hành các vị tử đạo, trước hết chúng ta nên xin lỗi các ngài bởi vì tội quên lãng của chúng ta, hoặc vô tình hay hữu ý (1). Chứng tá của các ngài lắm lần bị chê là dại dột, thiếu ngoại giao, thiếu hòa đồng. Một cách gián tiếp, chúng ta thích yên ổn, dễ dàng "vào đời", tiếp nhận tất cả mọi trào lưu thời đại.
Thực vậy, những hoàn cảnh chứng tá cho đức tin không thiếu trong thế kỷ XX, và tại các nước Âu Mỹ, khi mà các trào lưu duy vật đang đẩy lui các giá trị tinh thần. Có lẽ sẽ không còn những cuộc bách hại các Kitô hữu như hồi ba thế kỷ đầu, khi họ bị bó buộc phải dâng hương tế thần, nhưng họ vẫn bị thôi thúc vi phạm luật Chúa qua các luật Nhà nước (ly dị, phá thai,vv).
Mặt khác, nếu đôi khi ta thấy thất vọng vì có cảm giác đạo nghĩa thời nay đã suy đồi, thì ta cũng nên mở rộng cặp mắt đức tin để khám phá tác động của Thánh thần trong thế giới hôm nay : Ngài vẫn không ngừng gợi lên những khuôn mẫu chứng nhân không những trong Giáo hội Công giáo mà cả nơi các giáo hội ngoài công giáo; đó là chưa nói đến những phong trào tranh đấu cho nhân quyền (chống bóc lột thổ dân ở Nam Mỹ, chống khai thác tính dục trẻ em, chống thi đua vũ trang), vv. Không thiếu người đã bị sát hại khi bênh vực những người em út của Chúa Kitô (Mt 25,40).
Để kết luận, chúng ta biết rằng Đức Maria được ca tụng như "Nữ Vương các thánh tử đạo", tuy rằng Người không bị bách hại cũng chẳng bị giết vì đức tin. Thiết tưởng tước hiệu này được gán cho Người bởi vì theo sát hơn ai hết tấm gương của "Chứng nhân tiên khởi" là Đức Kitô. Hiểu như vậy, không lạ gì khi chúng ta thấy đức Gioan Phaolô II ca ngợi tấm gương tử đạo của biết bao bà mẹ đã ban sự sống cho con cái mình, đã hy sinh thời giờ sức lực để trao cho con cái những giá trị cao quý nhất. Ngoài ra, không thiếu những tấm gương của bà mẹ sẵn sàng chết để cho đứa con chào đời thay vì phá thai (Thông điệp Evangelium vitae số 86). Chứng tá anh hùng của đức bác ái là điều bất cứ ai cũng được mời gọi thể hiện hằng ngày.
Phụ trương
- Tông thư Tertio Millennio Adveniente của đức Gioan Phaolô II, số 37.
Giáo hội của thiên niên kỷ thứ nhất được sinh ra từ máu các thánh tử đạo: "Máu các thánh tử đạo mầm mống trổ sinh các Kitô hữu" (Sanguis martyrum - semen christianorum: Tertullianus, Apol, 50,13). Các biến cố lịch sử liên quan đến gương mặt của Constantin Đại đế đã không thể đảm bảo cho Giáo hội phát triển như trong thiên niên kỷ thứ nhất nếu không có những hạt giống các vị tử đạo và di sản thánh thiện đặc trưng của các thế hệ người Kitô đầu tiên. Vào cuối thiên niên kỷ thứ hai, Giáo hội lại trở nên một Giáo hội của các vị tử đạo. Các cuộc bách hại các tín hữu - linh mục, tu sĩ và giáo dân - đã tạo ra nhiều hạt giống tử đạo trên khắp thế giới. Việc làm chứng cho Đức Kitô bằng máu đào đã trở nên một di sản chung cho người Công giáo, Chính thống, Anh giáo và Tin lành, như đức Phaolô VI đã ghi nhận trong bài giảng lễ phong thánh các vị tử đạo người Uganđa.
Đó là một chứng tá không nên quên. Mặc dù có những khó khăn lớn trong việc tổ chức, Giáo hội của những thế kỷ đầu tiên đã tìm mọi cách để ghi lại chứng tá của các vị tử đạo trong các tử-đạo-thư. Các tử-đạo-thư đã được cập nhật suốt các thế kỷ, và trong danh mục các thánh và các chân phước của Giáo hội, đã được ghi lại không những các vị đã đổ máu đào vì Đức Kitô mà còn các vị chủ chăn, thừa sai, xưng đạo, giám mục, linh mục, trinh nữ, vợ chồng, góa phụ, con cái.
Vào thế kỷ chúng ta đang sống, các vị tử đạo đã trở lại, thường thường không được biết đến, các vị như là những "chiến sĩ vô danh" vì đại cuộc của Chúa. Cần phải hết sức tránh đánh mất đi chứng tá của họ trong Giáo hội (...) Trong khi công bố và tôn kính sự thánh thiện của con cái mình, Giáo hội tỏ lòng tôn kính tuyệt đối chính Thiên Chúa; qua các vị tử đạo, Giáo hội tôn thờ Đức Kitô nguồn gốc sự tử đạo và sự thánh thiện của họ. Dần dần tập tục phong thánh phát triển và hiện nay vẫn còn được duy trì trong Giáo hội Công giáo và các Giáo hội Chính thống. Việc phong thánh và phong chân phước đã tăng gia trong những năm gần đây.
Chúng biểu hiện sức sống của các Giáo hội địa phương, ngày nay có con số đông hơn vào các thế kỷ đầu và thiên niên kỷ thứ nhất. Việc tôn kính lớn lao nhất mà các Giáo hội dâng lên Đức Kitô trước ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ ba sẽ là chứng minh sự hiện hữu tòan năng của Đấng Cứu độ qua các kết quả của đức tin, niềm hy vọng và lòng bác ái nơi những người thuộc biết bao ngôn ngữ và chủng tộc đã đi theo Đức Kitô trong rất nhiều các hình thức của ơn gọi Kitô (Giaoxuvn.org).
Tài liệu tham khảo
R. Fisichella, Martirio in: Diccionario de Teologia Fundamental, Paulinas Madrid 1992, 858-871.
G. Rossi - T. Rossi (a cura di), Optabilis Humanitas. Confronti sul tema del martirio, Millennium Roma 1998.
S. Th. Pinckaers, La spiritualité du martyre. .. jusqu'au bout de l'Amour, Saint-Paul Versailles 2000.
__________________
(1) Việc tưởng nhớ các vị tử đạo không chỉ giới hạn vào các vị thánh hay chân phước mà còn bao gồm bao nhiêu người khác đã làm chứng cho Tin Mừng đến mức hy sinh mạng sống.
KỶ NIỆM 15 NĂM (1988-2003) TÔN PHONG HIỂN THÁNH TỬ ÐẠO VIỆT NAM
Tuy mới được 15 năm nhưng xem như lễ tôn phong các thánh tử đạo Việt nam đã trôi vào quên lãng. Mặc dù đó đây một vài ngôi thánh đường được cất lên dâng kính các thánh tử đạo Việt Nam, nhưng có lẽ nhiều người nghĩ rằng các vị đã thuộc về một quá khứ xa xưa rồi. Hoàn cảnh lịch sử của các thế kỷ XVII-XIX khác xa thời buổi chúng ta đang sống, nhất là tại xã hội Âu Mỹ. Trong bài này, chúng tôi xin dựa theo giáo huấn của Đức Gioan Phaolô II, vị giáo hoàng đã tôn phong các thánh tử đạo Việt Nam, để tìm hiểu sứ điệp các thánh tử đạo vượt lên trên mọi biên cương không gian và thời gian.
Từ ngày đắc cử kế vị thánh Phêrô cho đến ngày 25/11/2001, đức đương kim giáo hoàng đã tôn phong 451 hiển thánh, trong số này 400 thánh tử đạo, và 1284 chân phúc trong số đó số tử đạo lên tới 1022. Nói khác đi, các vị tử đạo vẫn còn chiếm đa số trong hàng ngũ các vị thánh và chân phúc thời nay.
Trong số các vị thánh tử đạo, chúng ta nên ghi nhận vài điểm sau đây :
- Xét về không gian, một số đáng kể các thánh tử đạo thuộc về Á châu, cụ thể là Đại hàn (thánh Anrê Kim, Phaolô Chong và 101 bạn tử đạo: 06/05/1984), Philippin và Nhật (thánh Lorenzo Ruiz, Domingo Ibanez, Giacobê Kuyshei Tomogana và 13 bạn tử đạo: 18/10/1987), Việt Nam (thánh Anrê Dũng lạc và 116 bạn tử đạo: 19/06/1988), Trung hoa (120 vị được phong ngày 01/10/2000). Nói chung, các vị này thuộc về miền truyền giáo, nạn nhân của những sự hiểu lầm do cuộc đối kháng giữa văn hóa cổ truyền với Kitô giáo. Tuy nhiên, không thiếu những vị tử đạo ngay tại châu Âu, một lục địa vốn được đồng hóa với văn minh Kitô giáo: Pháp, Đức, Tây ban nha, vv.
- Xét về thời gian, phần lớn các thánh tử đạo tại Á châu vừa nhắc trên đây thuộc vào thế kỷ XVIII-XIX. Tuy nhiên, không thiếu các vị tử đạo thuộc thế kỷ XX, tại Tây ban nha, Mêkhicô, Đức, và Đông Âu. Một khuôn mặt điển hình hơn cả là Edith Stein (1891-1942), được tôn phong làm bổn mạng Âu châu.
Vì thế không lạ gì, đề tài "tử đạo" được nhắc tới nhiều lần trong các văn kiện của đức Gioan Phaolô II, cách riêng nhân dịp chuẩn bị Năm thánh 2000 và bước sang thiên niên kỷ mới (tông thư Tertio Millennio Ineunte, ngày 10/11/1994, số 37). Ra như Đức Thánh Cha muốn nhắc nhở cho các tín hữu rằng việc tử đạo không phải chỉ là một thực tại xa xưa hay chỉ diễn ra ở những vùng đất ngọai đạo : ơn gọi tử đạo gắn liền với ơn gọi của người Kitô hữu bất cứ lúc nào và ở đâu. Hơn thế nữa, Đức Thánh Cha còn cung cấp cho ta nhiều tài liệu để suy niệm về ý nghĩa của việc tử đạo, nhìn dưới những khía cạnh khác nhau của cuộc sống đạo. Chúng tôi xin điểm qua vài đọan văn tiêu biểu.
- Thông điệp Redemptoris Míssio về truyền giáo (07/12/1990), số 42-45.
- Thông điệp Veritatis splendor (06/08/1993), số 89-94.
- Tông thư Tertio Millennio Adveniente (10/11/1994) số 37.
- Tông huấn Vita consecrata về đời sống thánh hiến (25/03/1995) số 86.
- Tông huấn Ecclesia in Asia, Hội thánh tại Á châu (06/11/1999). Đề tài tử đạo được nhắc đến trong phần nhập đề khi ôn lại lịch sử truyền bá Tin mừng tại lục địa (số 9), và nhất là ở phần kết (số 49). Các vị tử đạo được trưng bày như là những chứng nhân cho giá trị cốt yếu của Tin mừng. Văn kiện nhắc đến đoàn ngũ các thánh tử đạo tại Nhật bản, Philippin, Việt nam, Đại hàn. Nên nhớ là cuộc phong thánh cho các vị tử đạo Trung hoa diễn ra sau khi ban hành văn kiện này. Ngoài ra cũng nên thêm các chân phước được phong trước hoặc sau đó, chẳng hạn như tám vị tử đạo ở Thái lan (tháng 12 năm 1940) được đặt lên bàn thờ ngày 22/10/1989. Ngày 05/03/2000, cùng được tôn phong chân phước với thầy giảng Anrê Phú yên (+1644) là Pedro Calungsod (+1672) một thầy giảng Philippin, và cha Nicolas Bunkerd Kitbamung (1895-1944), một linh mục Thái lan.
- Trong khuôn khổ cử hành Năm thánh 2000, một ủy ban được thiết lập để thảo một danh sách các vị tử đạo của thế kỷ XX, và một ngày tưởng niệm các chứng nhân đức tin thế kỷ XX được tổ chức tại Colosêo XX (07/05/2000).
Dựa vào giáo huấn của Đức Gioan Phaolô II, cũng như những đóng góp thần học cận đại, chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của việc tử đạo và những hệ luận đối với đời sống đạo.
I. Từ ngữ
Trước khi vào đề, thiết tưởng nên lưu ý về từ ngữ.
1- Trong tiếng Việt, từ "tử đạo" (hay tử vì đạo) tự nó chỉ nói lên cái chết vì đạo nghĩa. Có lẽ từ này chỉ muốn phân biệt với các nguyên nhân khác đưa đến cái chết, chẳng hạn như "tử đạo" khác với "tử trận, tử nạn". Trong nguyên gốc hy lạp martyr có nghĩa là "người chứng". Trên thực tế, có nhiều cấp độ làm chứng. Dưới pháp diện pháp lý, chứng tá quan trọng nhất là lời khai trong một phiên tòa. Về tính cách tín lực, người làm chứng có uy tín nhất là kẻ được ủy thác chính thức, hoặc là liên can đến nội vụ. Trong Tân ước, đừng kể những đọan văn nói về chính đức Giêsu đến để làm chứng cho sự thật (Ga 18,37; Kh 1,5), các tông đồ là những người được ủy thác làm chứng cho Chúa Kitô (Cv 1,8), và thậm chí tất cả các môn đệ đều được gọi làm chứng cho Tin mừng; việc làm chứng này kèm theo nhiều gian truân và kể cả cái chết (Lc 21,12-13). Về sau, danh từ martyr được dành cho những người làm chứng bằng mạng sống (nghĩa là những người bị giết vì đức tin), khác với confessor là những người đã bị tra tấn giam cầm vì đức tin, nhưng không bị giết.
2- Tư tưởng bình dân không thiếu lần gắn liền "tử đạo" với "anh hùng". Sự liên kết có phần đúng, bởi vì muốn nói lên lòng dũng cảm của người không ngại hy sinh mạng sống để bảo vệ niềm tin. Tuy nhiên, việc móc nối hình ảnh "anh hùng" với "tử đạo" cũng có nguy cơ làm sai lệch ý nghĩa của nó. Lịch sử các dân tộc đều ghi nhận sự hiện diện của các anh hùng chết vì chính nghĩa. Không thiếu người dịch tiếng "liệt sĩ" là "martyr". Rồi còn phải nói gì đến các tín đồ các tôn giáo chết vì "đạo" qua các hành vi tự thiêu hoặc cảm tử (kamikaze) ? Có gì khác biệt giữa các vị anh hùng đó ?
Truyền thống thần học đã dần dần xác định những điều kiện để được nhìn nhận là tử đạo : chết vì đạo có nghĩa là chết vì đức tin. Họ bị giết (chứ không phải tự sát) bởi những người ghét đạo (odium fidei). Tuy nhiên, những tiêu chuẩn cổ điển đó cũng được xét lại trong thời gian gần đây, không những từ phía các nhà sử học và thần học mà ngay cả về phía Bộ phong thánh, điển hình là trường hợp của cha Maximilianô Kolbe. Trong thủ tục phong chân phước, cha được nhìn nhận như một người đã thực hiện nhân đức bác ái cách anh hùng; thế nhưng đến giai đọan phong hiển thánh, vụ án được chuyển danh từ "confessor" sang "martyr". Vào đầu thế kỷ XX, một thiếu nữ Maria Goretti cũng được kể vào hàng ngũ tử đạo, tuy bị giết vì bảo vệ đức trính khiết chứ không phải một chân lý đức tin.
Từ vài nhận xét sơ khởi đó, chúng ta nên đi tìm ý nghĩa đích thực của sự tử đạo : nó vượt lên trên khái niệm "anh hùng" (nhân đức can đảm), cũng như nó đi xa hơn việc trung thành bảo vệ đạo lý đức tin. Việc tử đạo cần được lồng trong bối cảnh của ba nhân đức tin cậy mến. Sự chuyển hướng này khởi đầu từ công đồng Vaticanô (hiến chế tín lý về Hội thánh).
II. Linh đạo
Chúng ta sẽ nhận thấy ý nghĩa phong phú của việc tử đạo khi nêu bật những chiều kích khác nhau cũng như khi xét tới những mối tương quan đa dạng của nó với Thiên Chúa, với Đức Kitô, với các nhân đức, và thậm chí với các giá trị nhân bản...
1- Sức mạnh của Chúa
Trước khi ca ngợi lòng dũng cảm của các vị tử đạo Giáo hội ca ngợi công việc kỳ diệu của Thiên Chúa là "Đấng làm cho sức yếu đuối trở nên mạnh mẽ để làm chứng cho Chúa" (kinh tiền tụng các thánh tử đạo). Sức mạnh của các thánh tử đạo nói nên uy quyền của Thiên Chúa. Việc tử đạo là một hồng ân Chúa ban chứ không phải là thành tích của lòng gan dạ của con người. Đọc lại lịch sử Giáo hội tiên khởi, ta thấy các tín hữu, dựa theo lời khuyên của Chúa (Mt 10, 23) đã đi ẩn núp khi gặp cơn bách hại, chứ không tự ý đi nạp mạng (theo như sự thúc đẩy của Tertullianô và nhóm Montanô). Việc tử đạo là một hồng ân Chúa ban, và ta hãy khiêm tốn chuẩn bị đón nhận, chứ không nên ỷ vào sức mạnh của mình.
2- Mẫu gương nhân đức
Tuy nhiên, khi ca ngợi Thiên Chúa vì hồng ân đã ban cho các thánh tử đạo, Giáo hội cũng nhìn nhận công trạng các tín hữu đã đón nhận ân huệ ấy. Họ đáng được tuyên dương vì đã đề cao tấm gương nhân đức : "đức tin sống động gắn bó trót đời sống với Thiên Chúa, đức cậy vững bền, phó thác vận mạng nơi Chúa, tin tưởng rằng Ngài không bỏ rơi các tôi trung; đức ái say nồng, đặt lòng yêu mến Chúa lên trên các giá trị trần thế (tình cảm, danh vọng, tiền bạc, mạng sống); đức khôn ngoan khi chọn lựa các giá trị vững bền, gạt qua những thử thách chóng qua; đức công bằng vì muốn chu tòan các nghĩa vụ đối với Thiên Chúa và sự thật; đức tiết độ, sử dụng tinh thần để chiến thắng sự ngại ngùng của bản năng; đức mạnh bạo để bảo vệ sự sống vĩnh cửu chống lại những gì đe dọa sự sống ấy".
Như vậy, việc tử đạo không phải chỉ liên quan đến đức tin (trung thành với đức tin) mà còn bao gồm các nhân đức khác, nhất là đức mến, cốt tủy của mọi nhân đức.
3- Tình yêu
Tương quan giữa việc tử đạo với tình yêu có thể được nhìn dưới nhiều khía cạnh: yêu mến đối với Chúa Kitô, yêu mến đồng lọai. Công đồng Vaticanô II viết như sau :
"Cũng như Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã bày tỏ lòng yêu mến chúng ta khi ban hiến mạng sống của mình cho chúng ta, nên chi không có ai tỏ tình yêu thương hơn kẻ hiến mạng sống của mình cho Ngài và cho anh chị em của mình. Vì vậy, ngay từ đầu một số tín hữu đã được kêu gọi, và một số khác sẽ còn mãi mãi được gọi làm chứng cho tình yêu tột đỉnh trước mặt mọi người, cách riêng trước mặt những người bách hại. Do đó sự tử đạo, qua việc đổ máu mình ra, người đồ đệ nên giống Thầy của mình, Đấng đã tình nguyện chấp nhận cái chết để cứu chuộc thế gian, được Giáo hội coi như một hồng ân tuyệt vời và bằng chứng cao cả của tình yêu. Tuy rằng hồng ân ấy được ban cho một ít người, nhưng tất cả mọi người đều phải sẵn sàng tuyên xưng Đức Kitô trước mặt mọi người và đi theo Người qua con đường thập giá giữa những cơn bách hại hằng xảy ra cho Giáo hội" (Hiến chế về Hội thánh, số 42).
Đọan văn súc tích này muốn vạch ra những khía cạnh khác nhau của lòng mến Chúa Kitô :
- Lòng yêu mến Chúa Kitô đòi hỏi lòng trung thành với Người, lòng trung thành mà ta đã cam kết khi lãnh bí tích rửa tội.
- Đành rằng lòng yêu mến Chúa Kitô kèm theo lòng trung thành chân lý đức tin, nhưng tiên vàn nói đến yêu mến là nói đến sự gắn bó với Ai đó. Nói đúng hơn, lòng yêu mến là hậu quả của việc ý thức rằng mình đã được Chúa Kitô yêu thương. Việc tử đạo muốn biểu lộ sự đáp trả tình yêu, như lời chân phúc Anrê Phú yên.
- Lòng yêu mến Chúa bao hàm việc bắt chước Người : bắt chước cử chỉ trao hiến của Người (Không có tình yêu nào cao quý cho bằng hiến thân vì bạn hữu của mình : Ga 15,13); bắt chước tâm tình tín thác và tha thứ của Người, như thánh Têphanô (Cv 7,59-60; Lc 23,46.34). Vị tử đạo đón nhận cái chết trong thái độ bình tĩnh phó thác, và cầu nguyện cho những người hành hạ mình, khác với nhiều liệt sĩ không ngừng nuôi dưỡng căm hờn với quân thù !
4- Chứng nhân cho Sự thật (Chân lý)
Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo vẫn còn liên kết tử đạo với chứng tá cho sự thật (số 2473). Tuy nhiên, khi lồng trong viễn tượng của đức ái, chân lý không chỉ giới hạn vào một số mệnh đề lý thuyết, nhưng bao gồm cả chân lý về Thiên Chúa lẫn chân lý về con người.
Lịch sử Kitô giáo đã ghi nhận rất nhiều vị tử đạo chứng nhân cho những chân lý đức tin, tựa như về thiên tính của Đức Kitô, đối lại với đạo Do thái hay các tôn giáo khác. Không thiếu các chứng nhân cho các tín điều về sự hiện diện của Chúa Kitô trong bí tích Thánh thể, hoặc sự hiệp nhất của Hội thánh vào những thời ly giáo. Nói chung, các vị tử đạo cách này hay cách khác tuyên xưng rằng : "Cần phải vâng lời Chúa hơn là vâng lời người đời" (Cv 5,29); họ thà chết chứ không muốn lỗi luật Chúa.
Mặt khác, công đồng Vaticanô II đã nói rằng "Chúa Kitô không những mặc khải mầu nhiệm Thiên Chúa cho con người mà còn mặc khải thiên chức con người cho con người nữa" (Hiến chế Vui Mừng và Hy vọng, số 22). Những chân lý về con người khá đa dạng; chỉ xin nêu lên vài thí dụ :
- chân lý về tự do lương tâm. Giá trị cao quý của con người ở sống thực với chính mình : sống hòa hợp với những điều mình xác tín, chứ không chịu khuất phục bạo quyền.
- chân lý về phẩm giá con người. Phúc âm đã dạy chúng ta yêu tha nhân như chính mình. Ngôn ngữ thời đại diễn tả chân lý này ra thành công thức "thăng tiến nhân phẩm". Chúng ta liên tưởng đến những người tranh đấu cho nhân quyền, chống lại mọi hình thức bóc lột (các nô lệ, các công nhân, các nhóm thiểu số, vv), tranh đấu cho công bình xã hội chống lại các tệ đoan (tham nhũng, hối lộ, gian lận), nhưng chúng ta cũng không thể bỏ qua những người hy sinh mạng sống để phục vụ những nạn nhân xấu số (trại phong cùi).
- chân lý về ơn gọi siêu việt của con người. Tuy rằng con người cần được phát triển mọi phương diện ở trên đời này (tinh thần, văn hóa, an sinh), nhưng cuộc sống con người không chỉ giới hạn vào trần thế này. Các vị tử đạo làm chứng rằng cuộc sống đời này rất quý giá (và không được phép giết người hay tự sát), nhưng còn có những giá trị vĩnh cửu còn cao hơn đời tạm bợ này nữa. Đây cũng là chân lý về niềm hy vọng tương lai bất tận.
Những khía cạnh này được Đức Gioan Phaolô II bàn đến trong thông điệp Redemptoris Missio (số 43-45), Veritatis Splendor (số 89-94).
III. Hệ luận
Trong đoạn văn Hiến chế về Hội thánh (số 42) được trưng dẫn trên đây, công đồng Vaticanô II nói rằng ơn gọi tử đạo được ban cho một ít người, đặc biệt trong thời bách hại, nhưng tất cả các tín hữu được mời gọi đi theo Chúa Kitô và vác thập giá với Người. Lịch sử Hội thánh cho thấy rằng sau ba thế kỷ bách hại, đến khi các tín hữu được hưởng tự do tín ngưỡng với nguy cơ ưa chuộng nếp sống dễ dãi, một số người muốn tiếp tục lòng can trường của cha ông qua nếp sống khắc khổ của đời đan tu trong sa mạc.
Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu đừng quên tấm gương của các vị tử đạo. Thiết tưởng việc kính nhớ các thánh tử đạo không chỉ giới hạn vào việc cử hành phụng vụ, hay xây cất đền đài. Như cha Bernardo Cervellera đã bình luận nhân ngày cử hành các chứng nhân đức tin thế kỷ XX (bản tin Fides số ra ngày 05/05/2000), khi cử hành các vị tử đạo, trước hết chúng ta nên xin lỗi các ngài bởi vì tội quên lãng của chúng ta, hoặc vô tình hay hữu ý (1). Chứng tá của các ngài lắm lần bị chê là dại dột, thiếu ngoại giao, thiếu hòa đồng. Một cách gián tiếp, chúng ta thích yên ổn, dễ dàng "vào đời", tiếp nhận tất cả mọi trào lưu thời đại.
Thực vậy, những hoàn cảnh chứng tá cho đức tin không thiếu trong thế kỷ XX, và tại các nước Âu Mỹ, khi mà các trào lưu duy vật đang đẩy lui các giá trị tinh thần. Có lẽ sẽ không còn những cuộc bách hại các Kitô hữu như hồi ba thế kỷ đầu, khi họ bị bó buộc phải dâng hương tế thần, nhưng họ vẫn bị thôi thúc vi phạm luật Chúa qua các luật Nhà nước (ly dị, phá thai,vv).
Mặt khác, nếu đôi khi ta thấy thất vọng vì có cảm giác đạo nghĩa thời nay đã suy đồi, thì ta cũng nên mở rộng cặp mắt đức tin để khám phá tác động của Thánh thần trong thế giới hôm nay : Ngài vẫn không ngừng gợi lên những khuôn mẫu chứng nhân không những trong Giáo hội Công giáo mà cả nơi các giáo hội ngoài công giáo; đó là chưa nói đến những phong trào tranh đấu cho nhân quyền (chống bóc lột thổ dân ở Nam Mỹ, chống khai thác tính dục trẻ em, chống thi đua vũ trang), vv. Không thiếu người đã bị sát hại khi bênh vực những người em út của Chúa Kitô (Mt 25,40).
Để kết luận, chúng ta biết rằng Đức Maria được ca tụng như "Nữ Vương các thánh tử đạo", tuy rằng Người không bị bách hại cũng chẳng bị giết vì đức tin. Thiết tưởng tước hiệu này được gán cho Người bởi vì theo sát hơn ai hết tấm gương của "Chứng nhân tiên khởi" là Đức Kitô. Hiểu như vậy, không lạ gì khi chúng ta thấy đức Gioan Phaolô II ca ngợi tấm gương tử đạo của biết bao bà mẹ đã ban sự sống cho con cái mình, đã hy sinh thời giờ sức lực để trao cho con cái những giá trị cao quý nhất. Ngoài ra, không thiếu những tấm gương của bà mẹ sẵn sàng chết để cho đứa con chào đời thay vì phá thai (Thông điệp Evangelium vitae số 86). Chứng tá anh hùng của đức bác ái là điều bất cứ ai cũng được mời gọi thể hiện hằng ngày.
Phụ trương
- Tông thư Tertio Millennio Adveniente của đức Gioan Phaolô II, số 37.
Giáo hội của thiên niên kỷ thứ nhất được sinh ra từ máu các thánh tử đạo: "Máu các thánh tử đạo mầm mống trổ sinh các Kitô hữu" (Sanguis martyrum - semen christianorum: Tertullianus, Apol, 50,13). Các biến cố lịch sử liên quan đến gương mặt của Constantin Đại đế đã không thể đảm bảo cho Giáo hội phát triển như trong thiên niên kỷ thứ nhất nếu không có những hạt giống các vị tử đạo và di sản thánh thiện đặc trưng của các thế hệ người Kitô đầu tiên. Vào cuối thiên niên kỷ thứ hai, Giáo hội lại trở nên một Giáo hội của các vị tử đạo. Các cuộc bách hại các tín hữu - linh mục, tu sĩ và giáo dân - đã tạo ra nhiều hạt giống tử đạo trên khắp thế giới. Việc làm chứng cho Đức Kitô bằng máu đào đã trở nên một di sản chung cho người Công giáo, Chính thống, Anh giáo và Tin lành, như đức Phaolô VI đã ghi nhận trong bài giảng lễ phong thánh các vị tử đạo người Uganđa.
Đó là một chứng tá không nên quên. Mặc dù có những khó khăn lớn trong việc tổ chức, Giáo hội của những thế kỷ đầu tiên đã tìm mọi cách để ghi lại chứng tá của các vị tử đạo trong các tử-đạo-thư. Các tử-đạo-thư đã được cập nhật suốt các thế kỷ, và trong danh mục các thánh và các chân phước của Giáo hội, đã được ghi lại không những các vị đã đổ máu đào vì Đức Kitô mà còn các vị chủ chăn, thừa sai, xưng đạo, giám mục, linh mục, trinh nữ, vợ chồng, góa phụ, con cái.
Vào thế kỷ chúng ta đang sống, các vị tử đạo đã trở lại, thường thường không được biết đến, các vị như là những "chiến sĩ vô danh" vì đại cuộc của Chúa. Cần phải hết sức tránh đánh mất đi chứng tá của họ trong Giáo hội (...) Trong khi công bố và tôn kính sự thánh thiện của con cái mình, Giáo hội tỏ lòng tôn kính tuyệt đối chính Thiên Chúa; qua các vị tử đạo, Giáo hội tôn thờ Đức Kitô nguồn gốc sự tử đạo và sự thánh thiện của họ. Dần dần tập tục phong thánh phát triển và hiện nay vẫn còn được duy trì trong Giáo hội Công giáo và các Giáo hội Chính thống. Việc phong thánh và phong chân phước đã tăng gia trong những năm gần đây.
Chúng biểu hiện sức sống của các Giáo hội địa phương, ngày nay có con số đông hơn vào các thế kỷ đầu và thiên niên kỷ thứ nhất. Việc tôn kính lớn lao nhất mà các Giáo hội dâng lên Đức Kitô trước ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ ba sẽ là chứng minh sự hiện hữu tòan năng của Đấng Cứu độ qua các kết quả của đức tin, niềm hy vọng và lòng bác ái nơi những người thuộc biết bao ngôn ngữ và chủng tộc đã đi theo Đức Kitô trong rất nhiều các hình thức của ơn gọi Kitô (Giaoxuvn.org).
Tài liệu tham khảo
R. Fisichella, Martirio in: Diccionario de Teologia Fundamental, Paulinas Madrid 1992, 858-871.
G. Rossi - T. Rossi (a cura di), Optabilis Humanitas. Confronti sul tema del martirio, Millennium Roma 1998.
S. Th. Pinckaers, La spiritualité du martyre. .. jusqu'au bout de l'Amour, Saint-Paul Versailles 2000.
__________________
(1) Việc tưởng nhớ các vị tử đạo không chỉ giới hạn vào các vị thánh hay chân phước mà còn bao gồm bao nhiêu người khác đã làm chứng cho Tin Mừng đến mức hy sinh mạng sống.