Vấn Ðề Của Chúng Ta?
Trên một phần tư trang nhất tờ báo của Giáo xứ Công giáo Mỹ địa phương tôi đầu tháng 2-2004 này, một hình chụp chắc sẽ gây suy nghĩ cho nhiều người: Mẹ Maria người Phi Châu bồng Chúa Hài Ðồng, đương nhiên, cũng Phi Châu, với cách phục sức Phi Châu. Dưới bức hình là lời chú giải ‘Kể từ Công đồng Vativan II, người Mỹ gốc Phi đã đưa văn hóa của họ vào Giáo hội. Có một điểm nổi bật khác là ba nhạc công ngồi ngay dưới hình Mẹ gồm hai ‘đen’, một ‘trắng’.
Tôi thật sự xúc động. Ðối với tôi, Mẹ Phi châu và Chúa Hài Ðồng Phi châu cũng là Mẹ, như Đức Mẹ Do Thái và Chúa Hài Ðồng Do Thái.
Tôi còn nhớ rất rõ những câu đầu tiên trong cuốn sách bổn (mà ngày nay gọi là sách giáo lý) được soạn theo dạng Hỏi/Thưa như sau đây:
Hỏi: Ðức Chúa Trời có mấy Ngôi?
Thưa: Ðức Chúa Trời có Ba Ngôi. Ngôi Nhất là Cha, Ngôi Hai là Con, Ngôi Ba là Thánh Thần.
Hỏi: Trong Ba Ngôi có Ngôi nào ra đời làm người chăng?
Thưa: Trong Ba Ngôi có Ngôi Hai ra đời làm người, có xác và linh hồn như ta vậy.
Việc Ngôi Hai ra đời làm người và sinh ra ở đất nước Do Thái là do ý huyền nhiệm của Thiên Chúa. Do vậy, Ngôi Hai mang hình hài của một người Do Thái là chuyện đương nhiên. Cũng vậy, Mẹ được Chúa chọn là Mẹ Maria.
Tôi chưa có dịp được tìm hiểu về Công đồng Vatican II, nhưng tôi xin được tin rằng người Công giáo Mỹ gốc Phi đã làm đúng tinh thần của Công đồng. Họ đã đưa văn hóa của họ vào Giáo hội hay nói cách khác, họ đã đưa Giáo hội vào văn hóa của họ. Tại sao phải làm như vậy? Ðã được hiểu rằng Thiên Chúa là vô hình thì Ngôi Hai sinh ra ở đâu và mang hình hài sắc dân nào cũng vậy thôi. Tôi xin được tin rằng mục đích của họ không mảy may mang một tính kỳ thị nào cả. Mục đích của họ chỉ là để dễ dàng hơn trong việc mở rộng Nước Chúa mà thôi.
Có một sự tình cờ là trong lúc tôi đang viết những cảm nghĩ của tôi về sự việc này thì trên màn hình TV đang trình chiếu một cuốn phim Mỹ với cảnh phong ba bão táp trên một hòn đảo trong một quần đảo ở Thái Bình Dương. Tất cả mọi người dân (đều là giáo dân?) đang tập trung cầu nguyện trong nhà thờ. Ðiểm đặc biệt là Chúa Giêsu chịu nạn trên thánh giá mang hình hài một người địa phương. Như vậy, phái đoàn truyền giáo nào mang tin mừng của Chúa đến đây đã ‘địa phương hóa’ đạo của Chúa. Ðể làm gì nếu không phải để người địa phương (chưa văn minh lắm) dễ dàng và sẵn sàng tiếp nhận tin mừng của Chúa hơn khi họ hiểu rằng Thiên Chúa vô hình có thể mang hình hài của họ.
Một năm ít nhất là một lần chúng ta được nghe giảng về ẩn dụ của Chúa khi Chúa dạy rằng người đầy tớ giỏi phải là người đem lời về cho chủ khi được giao tiền (cho đi buôn bán?). Nếu tôi hiểu không lầm thì Chúa Giêsu không có ý dạy những tên đầy tớ phải đi buôn bán theo cái cách buôn bán của con người ngày nay, vì cái bản chất của buôn bán ngày nay đã có ‘vấn đề’ gì đó để kiếm lời. Tôi không dám lạm bàn, có thể tôi không đủ tư cách để lạm bàn, nhưng theo sức hiểu của tôi thì tất cả những gì Chúa Giêsu giảng dạy dân Do Thái khi Chúa còn ở thế gian phải phù hợp với sức tiếp thu của dân Do Thái trong cái thời điểm hai ngàn năm trước đây. Tôi kính xin các đấng tha lỗi, tôi không dám giảng đạo hay giảng thánh kinh, nhưng theo sức hiểu của tôi thì Chúa chỉ dạy rằng những ai có trách nhiệm mang tin mừng của Chúa đến với những người chưa biết đến Chúa phải mang về kết quả. Kết quả đó là những người tiếp nhận lời Chúa và theo Chúa, những con cái mới của Chúa, những anh em mới trong đại gia đình Công giáo. Việc làm đó phải được thực hiện bằng tinh thần của Chúa chứ không bằng cách ‘buôn bán’ của con người ngày nay.
Ðối với Giáo hội Việt Nam, trong một quê hương Việt Nam còn nhiều khó khăn hiện nay, và với năm sáu chục sắc dân, tôi không dám đưa ra một đề nghị nào cả. Tôi chỉ mạo muội đặt câu hỏi là chúng ta cần phải làm gì thêm để tiếp tục hội nhập truyền thống Kitô giáo vào văn hóa địa phương để mở rộng Nước Chúa cho người đồng hương hay chưa?
Trên một phần tư trang nhất tờ báo của Giáo xứ Công giáo Mỹ địa phương tôi đầu tháng 2-2004 này, một hình chụp chắc sẽ gây suy nghĩ cho nhiều người: Mẹ Maria người Phi Châu bồng Chúa Hài Ðồng, đương nhiên, cũng Phi Châu, với cách phục sức Phi Châu. Dưới bức hình là lời chú giải ‘Kể từ Công đồng Vativan II, người Mỹ gốc Phi đã đưa văn hóa của họ vào Giáo hội. Có một điểm nổi bật khác là ba nhạc công ngồi ngay dưới hình Mẹ gồm hai ‘đen’, một ‘trắng’.
Tôi thật sự xúc động. Ðối với tôi, Mẹ Phi châu và Chúa Hài Ðồng Phi châu cũng là Mẹ, như Đức Mẹ Do Thái và Chúa Hài Ðồng Do Thái.
Tôi còn nhớ rất rõ những câu đầu tiên trong cuốn sách bổn (mà ngày nay gọi là sách giáo lý) được soạn theo dạng Hỏi/Thưa như sau đây:
Hỏi: Ðức Chúa Trời có mấy Ngôi?
Thưa: Ðức Chúa Trời có Ba Ngôi. Ngôi Nhất là Cha, Ngôi Hai là Con, Ngôi Ba là Thánh Thần.
Hỏi: Trong Ba Ngôi có Ngôi nào ra đời làm người chăng?
Thưa: Trong Ba Ngôi có Ngôi Hai ra đời làm người, có xác và linh hồn như ta vậy.
Việc Ngôi Hai ra đời làm người và sinh ra ở đất nước Do Thái là do ý huyền nhiệm của Thiên Chúa. Do vậy, Ngôi Hai mang hình hài của một người Do Thái là chuyện đương nhiên. Cũng vậy, Mẹ được Chúa chọn là Mẹ Maria.
Tôi chưa có dịp được tìm hiểu về Công đồng Vatican II, nhưng tôi xin được tin rằng người Công giáo Mỹ gốc Phi đã làm đúng tinh thần của Công đồng. Họ đã đưa văn hóa của họ vào Giáo hội hay nói cách khác, họ đã đưa Giáo hội vào văn hóa của họ. Tại sao phải làm như vậy? Ðã được hiểu rằng Thiên Chúa là vô hình thì Ngôi Hai sinh ra ở đâu và mang hình hài sắc dân nào cũng vậy thôi. Tôi xin được tin rằng mục đích của họ không mảy may mang một tính kỳ thị nào cả. Mục đích của họ chỉ là để dễ dàng hơn trong việc mở rộng Nước Chúa mà thôi.
Có một sự tình cờ là trong lúc tôi đang viết những cảm nghĩ của tôi về sự việc này thì trên màn hình TV đang trình chiếu một cuốn phim Mỹ với cảnh phong ba bão táp trên một hòn đảo trong một quần đảo ở Thái Bình Dương. Tất cả mọi người dân (đều là giáo dân?) đang tập trung cầu nguyện trong nhà thờ. Ðiểm đặc biệt là Chúa Giêsu chịu nạn trên thánh giá mang hình hài một người địa phương. Như vậy, phái đoàn truyền giáo nào mang tin mừng của Chúa đến đây đã ‘địa phương hóa’ đạo của Chúa. Ðể làm gì nếu không phải để người địa phương (chưa văn minh lắm) dễ dàng và sẵn sàng tiếp nhận tin mừng của Chúa hơn khi họ hiểu rằng Thiên Chúa vô hình có thể mang hình hài của họ.
Một năm ít nhất là một lần chúng ta được nghe giảng về ẩn dụ của Chúa khi Chúa dạy rằng người đầy tớ giỏi phải là người đem lời về cho chủ khi được giao tiền (cho đi buôn bán?). Nếu tôi hiểu không lầm thì Chúa Giêsu không có ý dạy những tên đầy tớ phải đi buôn bán theo cái cách buôn bán của con người ngày nay, vì cái bản chất của buôn bán ngày nay đã có ‘vấn đề’ gì đó để kiếm lời. Tôi không dám lạm bàn, có thể tôi không đủ tư cách để lạm bàn, nhưng theo sức hiểu của tôi thì tất cả những gì Chúa Giêsu giảng dạy dân Do Thái khi Chúa còn ở thế gian phải phù hợp với sức tiếp thu của dân Do Thái trong cái thời điểm hai ngàn năm trước đây. Tôi kính xin các đấng tha lỗi, tôi không dám giảng đạo hay giảng thánh kinh, nhưng theo sức hiểu của tôi thì Chúa chỉ dạy rằng những ai có trách nhiệm mang tin mừng của Chúa đến với những người chưa biết đến Chúa phải mang về kết quả. Kết quả đó là những người tiếp nhận lời Chúa và theo Chúa, những con cái mới của Chúa, những anh em mới trong đại gia đình Công giáo. Việc làm đó phải được thực hiện bằng tinh thần của Chúa chứ không bằng cách ‘buôn bán’ của con người ngày nay.
Ðối với Giáo hội Việt Nam, trong một quê hương Việt Nam còn nhiều khó khăn hiện nay, và với năm sáu chục sắc dân, tôi không dám đưa ra một đề nghị nào cả. Tôi chỉ mạo muội đặt câu hỏi là chúng ta cần phải làm gì thêm để tiếp tục hội nhập truyền thống Kitô giáo vào văn hóa địa phương để mở rộng Nước Chúa cho người đồng hương hay chưa?