TRỞ VỀ NGUỒN VỚI THÁNH AN-TÔN (Tiếp theo)
Trong vòng bốn mươi năm sau khi An-Tôn qua đời, cuộc sống tu viện bắt đầu tràn lan khắp miền Địa Trung Hãi. Vào khoảng năm 394, bảy tu sĩ đã thành lập một tu viện riêng ở Giêrusalem và đã trẩy đi thăm viếng xứ Ai-Cập. Một trong những tu sĩ đầu tiên mà họ thăm viếng là Gioan Lycopolis. Ngài đã niềm nở tiếp đón họ và phấn khởi thấy họ cương quyết đi xa như thế để tới một nơi xa xôi hẻo lánh nên hỏi: “Các con yêu dấu, các con trông chờ gặp được điều gì đặc biệt mà các con đã khó nhọc đi xa xôi như thế để mong được thăm viếng một con người tầm thường tội nghiệp không có gì đáng để xem và chiêm ngưỡng? Những người đáng được chiêm ngưỡng và ca ngợi thì ở khắp nơi: những tông đồ và những ngôn sứ của Chúa thường rao giảng trong các thánh đường. Đó là những người mà các con đáng bắt chước. Cha rât ngạc nhiên thấy sự nhiệt thành của các con, đã vượt lên trên biết bao nguy hiểm để đến với chúng tôi hầu được khai quang thần trí, trong khi chúng tôi chi biếng lười đến đỗi không muốn ra khỏi nơi hang động của chúng tôi.”
Nhưng thay vì thất vọng bởi “những người tầm thường và đáng thương đó”, các lữ khách tiếp tục hành trình. Họ chỉ mong ghi nhận một vài cuộc gặp gỡ tiếp xúc với các tu sĩ ở chốn rừng sâu, nhưng ngạc nhiên thay họ đã chứng kiến từng ngàn, ngay cả từng vạn nam nữ tu sĩ sống trong những khu vực mà họ thăm viếng. Và ngay cả một văn sĩ tân thời đã cho biết nếu những ước tính về các nam nữ tu sĩ gộp chung lại với nhau thì có thể trổi vượt số dân chúng của nước Ai-Cập lúc bấy giờ. Chúng ta không thể tưởng tượng được lối sống đó, phần nhiều không được nghe nói tới trước thời An-Tôn, chỉ trong một thời gian rất ngắn, đã trở nên phổ thông thịnh hành như thế.
Trong khi bảy vị tu sĩ đi vào rừng sâu, lúc bấy giờ những đường lối thực hành của những cộng đồng tu trì ở Ai-Cập khác nhau rất nhiều và cách chung, họ chia thành ba nhóm. Một số tu sĩ, theo cảm hứng của Thánh An-Tôn, sống đời ẩn dật, có khi họ sống trong những hang động ở chốn rừng sâu, có khi họ đi lang thang nơi nầy đến nơi khác như những tu sĩ lữ hành, tuy vẫn tiếp tục thực hành tỉ mỉ đường lối tu trì của họ và ít tiếp xúc với những người khác. Cũng có những nhóm lớn hơn, dưới cảm hứng của Thánh Pachonius, họ sống chung với nhau trong những tu viện khép kín và tự túc, không bao giờ đi ra ngoài khuôn viên của tu viện.
Trong cuộc hành trình của họ, các tu sĩ từ Giêrusalem đến đã thăm viếng tu viện của Isodore nhưng không thể vào bên trong được. Đó là một trong những tu viện chặt chẽ nhất và họ chỉ được tiếp xúc với người giữ cổng là một tu sĩ già nua giải thích cho họ rằng chỉ những người muốn ở lại bên trong khuôn viên tu viện trọn đời thì mới được phép vô mà thôi và một khi đã vô rồi, họ sẽ không bao giờ rời khỏi. Ngoài ra còn có những nhóm tu sĩ tập trung chung quanh một vị linh sư nỗi tiếng là một vị linh hướng có biệt tài để được nghe giảng dạy và hướng dẫn. Những tu sĩ đó dựng lên những lều nhỏ gồm có một hay hai phòng rất đơn sơ cất vội lên từ những gạch thô hay bùn đất. Khi tới gần một nhóm tu sĩ sống tập trung như thế không cách xa Nitria, những tu sĩ ở Giêrusalem nhận thấy rằng “họ ở trong một nơi cô tịch và những căn phòng của họ cách nhau một khoảng cách để không ai có thể được nhìn thấy bởi người khác từ xa xa, hay có thể bị xem thấy dễ dàng, hoặc nghe tiếng họ nói. Trái lại, họ sống trong một sự thinh lặng thâm sâu, mỗi tu sĩ sống biệt lập ra. Họ chỉ đến nhà thờ chung với nhau vào các ngày thứ Bảy hay Chúa nhật để gặp gỡ nhau.”
Trong quyển sách “Đời sống Thánh An-Tôn” do Giám mục thành Alexandria là Thánh Athanasius viết, cho thấy ngài biết Thánh An-Tôn với tư cách cá nhân. Từ đầu đến cuối, độc giả thấy An-Tôn, theo cung cách của một anh hùng bí nhiệm, đã bỏ nhà ra đi, gặp biết bao nghịch cảnh, đã trải qua một kinh nghiệm chết đi và sống lại, chiến thắng địch thù, bám víu vào lý tưởng của mình không chút buông lơi.
Nhiều người sẽ nhận thấy thật khó mà tưởng tượng bị giam hãm trong một mộ phần và chịu đựng những đoàn thú rừng như Thánh An-Tôn đã trải qua. Nhưng ngày nay bất cứ ai đã cố gắng, cho dẫu chỉ mười phút thôi, để tâm hồn lắng đọng và làm cho mọi tư tưởng yên lặng thì có thể thẩm định sự gian nan của vị tu sĩ đó. Và cũng như vị tu sĩ già nua đó, khi chúng ta bắt tay vào việc thực hành chiêm niệm, dù khó khăn và vô hiệu quả đến đâu, từng chút rồi từng chút, cuộc sống của chúng ta cũng thay đổi. Cái tôi có thể bị vứt bỏ một cách chầm chậm, qua những cố gắng bền bĩ của chúng ta đã tích lũy dần dần. Rồi đột nhiên, cũng giống trong những thời kỳ đó, khi cái tôi đã buông xuôi và sẵn sàng bỏ rơi, những thứ trước kia xem ra cản trở việc thực hành chiêm niệm, giờ đây xuất hiện như những thành quả của một sự cố gắng bền bĩ. Sự thực hành và cách thức mà chúng ta phải theo đã trở nên rõ rệt và sáng tỏ, và những nghi ngờ cản trở chúng ta tiếp tục con đường chiêm niệm đã biến mất. Và khi chúng ta nhận thấy bằng chính đôi mắt mình, chúng ta chỉ việc theo đuổi công việc căn bản của chiêm niệm, cho dù giờ đây đễ dàng và tự tín hơn, hoàn toàn ý thức rằng sự liên kết mà chúng ta tìm kiếm là một thực tế của cuộc sống có rất lâu trước khi chúng ta bắt đầu tìm kiếm.
Chính khởi điểm nầy mà Thánh An-Tôn đã khám phá ra khi giam mình trong mộ phần. Ngài đã ở gần nhà một thời gian dài, học hỏi trước về nhân đức, kỹ luật và sự cầu nguyện, thu thập ý kiến và kinh nghiệm cùng áp dụng tất cả những thứ đó vào việc thực hành. Chỉ sau một thời gian dài cẩn trọng chú ý, ngài mới nhận ra rằng, trong một giây phút thức giác, tất cả những thứ tấn công ngài, tất cả những thú vật và quỉ ma xâu xé ngài, đã luôn luôn trở thành bất lực và không có chút khả năng chống lại chân lý của cuộc sống ngài. Chỉ khi đó ngài mới nhận ra rằng mái nhà khép lại mộ phần của ngài đã được chọc thủng và trở nên trong suốt. Chỉ lúc đó ngài mới nhận ra căn phòng tràn ngập ánh sáng, một thứ ánh sáng của thời gian hiện tại miên viễn. Niềm khát vọng bắt đầu đánh động Thánh An-Tôn - một tu sĩ đã sống phần lớn cuộc đời trong nếp sống cô tịch - là niềm khát vọng đối với thời gian hiện tại, sự chắc chắn và an bình của chính ánh sáng đó.
Sự thực hành mà An-Tôn đã cảm hứng thì hoàn toàn tự do hình thành và thích ứng cho mỗi hoàn cảnh mới. Cũng như trong đời ngài, nhiều đường hướng đã phát sinh để thoả mãn niềm khát vọng về cầu nguyện và chiêm niệm, ngày nay cũng có nhiều đường hướng cho việc thực hành chiêm niệm cho những cá nhân khác nhau. Điều cố định là trách nhiệm của mỗi cá nhân chúng ta, đối với công việc sinh sống, cũng như sự học hành, cùng với gia cảnh và bạn bè, ở giữa những tranh cãi và hiểu lầm cùng với những cảnh ngộ khác nhau vừa khó khăn vừa hỗ trợ. Sự thực hành chiêm niệm như thế, cho dù khác biệt rất nhiều theo hình thức, nhưng cũng không kém phần quan trọng như sự thực hành của những nam nữ tu sĩ đầu tiên đã sống trong chốn rừng sâu núi thẳm. Những cố gắng của chúng ta xem ra vô hiệu và có thể tiêu tan giữa những lề thói của cuộc sống hằng ngày, và điều đó có thể xảy ra như thế. Nhưng nhúm muối tiêu tan trong tô xúp đã làm cho món xúp mặn mòi hơn lên. Nắm men ở trong đấu bột đã làm cho bột trở thành bánh mì. Sự thực hành càng giấu kín trong cuộc sống hằng ngày, càng hữu hiệu trong cuộc sống. Và, điều gì đã xảy ra một cách rõ rệt đối với Thánh An-Tôn, cũng rất hấp dẫn đối với chúng ta trong cuộc sống thinh lặng hiện tại và điều đó rất thân cận với tâm hồn chúng ta.
Trong vòng bốn mươi năm sau khi An-Tôn qua đời, cuộc sống tu viện bắt đầu tràn lan khắp miền Địa Trung Hãi. Vào khoảng năm 394, bảy tu sĩ đã thành lập một tu viện riêng ở Giêrusalem và đã trẩy đi thăm viếng xứ Ai-Cập. Một trong những tu sĩ đầu tiên mà họ thăm viếng là Gioan Lycopolis. Ngài đã niềm nở tiếp đón họ và phấn khởi thấy họ cương quyết đi xa như thế để tới một nơi xa xôi hẻo lánh nên hỏi: “Các con yêu dấu, các con trông chờ gặp được điều gì đặc biệt mà các con đã khó nhọc đi xa xôi như thế để mong được thăm viếng một con người tầm thường tội nghiệp không có gì đáng để xem và chiêm ngưỡng? Những người đáng được chiêm ngưỡng và ca ngợi thì ở khắp nơi: những tông đồ và những ngôn sứ của Chúa thường rao giảng trong các thánh đường. Đó là những người mà các con đáng bắt chước. Cha rât ngạc nhiên thấy sự nhiệt thành của các con, đã vượt lên trên biết bao nguy hiểm để đến với chúng tôi hầu được khai quang thần trí, trong khi chúng tôi chi biếng lười đến đỗi không muốn ra khỏi nơi hang động của chúng tôi.”
Nhưng thay vì thất vọng bởi “những người tầm thường và đáng thương đó”, các lữ khách tiếp tục hành trình. Họ chỉ mong ghi nhận một vài cuộc gặp gỡ tiếp xúc với các tu sĩ ở chốn rừng sâu, nhưng ngạc nhiên thay họ đã chứng kiến từng ngàn, ngay cả từng vạn nam nữ tu sĩ sống trong những khu vực mà họ thăm viếng. Và ngay cả một văn sĩ tân thời đã cho biết nếu những ước tính về các nam nữ tu sĩ gộp chung lại với nhau thì có thể trổi vượt số dân chúng của nước Ai-Cập lúc bấy giờ. Chúng ta không thể tưởng tượng được lối sống đó, phần nhiều không được nghe nói tới trước thời An-Tôn, chỉ trong một thời gian rất ngắn, đã trở nên phổ thông thịnh hành như thế.
Trong khi bảy vị tu sĩ đi vào rừng sâu, lúc bấy giờ những đường lối thực hành của những cộng đồng tu trì ở Ai-Cập khác nhau rất nhiều và cách chung, họ chia thành ba nhóm. Một số tu sĩ, theo cảm hứng của Thánh An-Tôn, sống đời ẩn dật, có khi họ sống trong những hang động ở chốn rừng sâu, có khi họ đi lang thang nơi nầy đến nơi khác như những tu sĩ lữ hành, tuy vẫn tiếp tục thực hành tỉ mỉ đường lối tu trì của họ và ít tiếp xúc với những người khác. Cũng có những nhóm lớn hơn, dưới cảm hứng của Thánh Pachonius, họ sống chung với nhau trong những tu viện khép kín và tự túc, không bao giờ đi ra ngoài khuôn viên của tu viện.
Trong cuộc hành trình của họ, các tu sĩ từ Giêrusalem đến đã thăm viếng tu viện của Isodore nhưng không thể vào bên trong được. Đó là một trong những tu viện chặt chẽ nhất và họ chỉ được tiếp xúc với người giữ cổng là một tu sĩ già nua giải thích cho họ rằng chỉ những người muốn ở lại bên trong khuôn viên tu viện trọn đời thì mới được phép vô mà thôi và một khi đã vô rồi, họ sẽ không bao giờ rời khỏi. Ngoài ra còn có những nhóm tu sĩ tập trung chung quanh một vị linh sư nỗi tiếng là một vị linh hướng có biệt tài để được nghe giảng dạy và hướng dẫn. Những tu sĩ đó dựng lên những lều nhỏ gồm có một hay hai phòng rất đơn sơ cất vội lên từ những gạch thô hay bùn đất. Khi tới gần một nhóm tu sĩ sống tập trung như thế không cách xa Nitria, những tu sĩ ở Giêrusalem nhận thấy rằng “họ ở trong một nơi cô tịch và những căn phòng của họ cách nhau một khoảng cách để không ai có thể được nhìn thấy bởi người khác từ xa xa, hay có thể bị xem thấy dễ dàng, hoặc nghe tiếng họ nói. Trái lại, họ sống trong một sự thinh lặng thâm sâu, mỗi tu sĩ sống biệt lập ra. Họ chỉ đến nhà thờ chung với nhau vào các ngày thứ Bảy hay Chúa nhật để gặp gỡ nhau.”
Trong quyển sách “Đời sống Thánh An-Tôn” do Giám mục thành Alexandria là Thánh Athanasius viết, cho thấy ngài biết Thánh An-Tôn với tư cách cá nhân. Từ đầu đến cuối, độc giả thấy An-Tôn, theo cung cách của một anh hùng bí nhiệm, đã bỏ nhà ra đi, gặp biết bao nghịch cảnh, đã trải qua một kinh nghiệm chết đi và sống lại, chiến thắng địch thù, bám víu vào lý tưởng của mình không chút buông lơi.
Nhiều người sẽ nhận thấy thật khó mà tưởng tượng bị giam hãm trong một mộ phần và chịu đựng những đoàn thú rừng như Thánh An-Tôn đã trải qua. Nhưng ngày nay bất cứ ai đã cố gắng, cho dẫu chỉ mười phút thôi, để tâm hồn lắng đọng và làm cho mọi tư tưởng yên lặng thì có thể thẩm định sự gian nan của vị tu sĩ đó. Và cũng như vị tu sĩ già nua đó, khi chúng ta bắt tay vào việc thực hành chiêm niệm, dù khó khăn và vô hiệu quả đến đâu, từng chút rồi từng chút, cuộc sống của chúng ta cũng thay đổi. Cái tôi có thể bị vứt bỏ một cách chầm chậm, qua những cố gắng bền bĩ của chúng ta đã tích lũy dần dần. Rồi đột nhiên, cũng giống trong những thời kỳ đó, khi cái tôi đã buông xuôi và sẵn sàng bỏ rơi, những thứ trước kia xem ra cản trở việc thực hành chiêm niệm, giờ đây xuất hiện như những thành quả của một sự cố gắng bền bĩ. Sự thực hành và cách thức mà chúng ta phải theo đã trở nên rõ rệt và sáng tỏ, và những nghi ngờ cản trở chúng ta tiếp tục con đường chiêm niệm đã biến mất. Và khi chúng ta nhận thấy bằng chính đôi mắt mình, chúng ta chỉ việc theo đuổi công việc căn bản của chiêm niệm, cho dù giờ đây đễ dàng và tự tín hơn, hoàn toàn ý thức rằng sự liên kết mà chúng ta tìm kiếm là một thực tế của cuộc sống có rất lâu trước khi chúng ta bắt đầu tìm kiếm.
Chính khởi điểm nầy mà Thánh An-Tôn đã khám phá ra khi giam mình trong mộ phần. Ngài đã ở gần nhà một thời gian dài, học hỏi trước về nhân đức, kỹ luật và sự cầu nguyện, thu thập ý kiến và kinh nghiệm cùng áp dụng tất cả những thứ đó vào việc thực hành. Chỉ sau một thời gian dài cẩn trọng chú ý, ngài mới nhận ra rằng, trong một giây phút thức giác, tất cả những thứ tấn công ngài, tất cả những thú vật và quỉ ma xâu xé ngài, đã luôn luôn trở thành bất lực và không có chút khả năng chống lại chân lý của cuộc sống ngài. Chỉ khi đó ngài mới nhận ra rằng mái nhà khép lại mộ phần của ngài đã được chọc thủng và trở nên trong suốt. Chỉ lúc đó ngài mới nhận ra căn phòng tràn ngập ánh sáng, một thứ ánh sáng của thời gian hiện tại miên viễn. Niềm khát vọng bắt đầu đánh động Thánh An-Tôn - một tu sĩ đã sống phần lớn cuộc đời trong nếp sống cô tịch - là niềm khát vọng đối với thời gian hiện tại, sự chắc chắn và an bình của chính ánh sáng đó.
Sự thực hành mà An-Tôn đã cảm hứng thì hoàn toàn tự do hình thành và thích ứng cho mỗi hoàn cảnh mới. Cũng như trong đời ngài, nhiều đường hướng đã phát sinh để thoả mãn niềm khát vọng về cầu nguyện và chiêm niệm, ngày nay cũng có nhiều đường hướng cho việc thực hành chiêm niệm cho những cá nhân khác nhau. Điều cố định là trách nhiệm của mỗi cá nhân chúng ta, đối với công việc sinh sống, cũng như sự học hành, cùng với gia cảnh và bạn bè, ở giữa những tranh cãi và hiểu lầm cùng với những cảnh ngộ khác nhau vừa khó khăn vừa hỗ trợ. Sự thực hành chiêm niệm như thế, cho dù khác biệt rất nhiều theo hình thức, nhưng cũng không kém phần quan trọng như sự thực hành của những nam nữ tu sĩ đầu tiên đã sống trong chốn rừng sâu núi thẳm. Những cố gắng của chúng ta xem ra vô hiệu và có thể tiêu tan giữa những lề thói của cuộc sống hằng ngày, và điều đó có thể xảy ra như thế. Nhưng nhúm muối tiêu tan trong tô xúp đã làm cho món xúp mặn mòi hơn lên. Nắm men ở trong đấu bột đã làm cho bột trở thành bánh mì. Sự thực hành càng giấu kín trong cuộc sống hằng ngày, càng hữu hiệu trong cuộc sống. Và, điều gì đã xảy ra một cách rõ rệt đối với Thánh An-Tôn, cũng rất hấp dẫn đối với chúng ta trong cuộc sống thinh lặng hiện tại và điều đó rất thân cận với tâm hồn chúng ta.