TRỞ VỀ NGUỒN VỚI THÁNH AN-TÔN
Hồi ấy, ông Gio-an Tẩy Giả đến rao giảng trong hoang địa miền Giu-đê rằng:”Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.” Ông chính là người được ngôn sứ I-sai-a nói tới: “Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi”. (Mát-thêu 3, 1-4)
Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, từ sông Gio-đan trở về. Suốt bốn mươi ngày, Người được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ. (Lu-ca 4, 1-2)
*
***
Hằng năm, mỗi khi Mùa Chay trở về, một trong những đề tài suy niệm được ưa thích nhất là “ĐI VÀO SA MẠC”.
Ngược dòng lịch sử, trong vòng vài trăm năm sau khi Chúa Giêsu giáng trần, một sự khao khát sống đời cầu nguyện thâm sâu được tìm thấy nơi rừng sâu núi thẳm miền Bắc Phi châu. Niềm khát khao đó là nguồn hứng khởi cho việc bắt đầu thực hành chiêm niệm Kitô giáo rất thịnh hành trong những vùng dọc theo sông Nile. Điểm khởi đầu đời sống tu trì đó đã hấp dẫn nhiều người đến từ miền Ai-Cập, cũng như những nơi khác thuộc cựu thế giới và đã gây nguồn hứng khởi trong việc thành lập những cộng đồng tu trì khắp vùng Địa Trung Hải và lan tới cả Au châu cùng những vùng xa xôi hơn nữa.
Niềm hứng khởi đầu tiên đối với phong trào sống đời tu trì trong chốn rừng sâu núi thẳm phần lớn được gắn liền cho Thánh An-Tôn ở Ai-Cập. An-Tôn sinh vào khoảng năm 250. Khi ngài lên mười tám tuổi, cả cha lẫn mẹ của ngài qua đời, đột nhiên để lại cho ngài trách nhiệm phải quán xuyến một gia sản đồ sộ. Bị gánh nặng của những ưu tư mới nầy, ngài đọc thấy trong Phúc Am câu sau đây: “Hãy bán hết những gì ngươi có và bố thí cho người nghèo”. Những lời nói đó đã xuyên thấu con tim của ngài: không thể quên được, ngài đã mau mắn tước bỏ gia tài thừa hưởng và đã phân phát tiền tài cùng sản vật cho người nghèo khó. Trong vòng mười lăm năm sau đó, ngài đã thực hành đời sống tu trì với những ẩn sĩ sống rải rác trong vùng. Trong khi cố gắng tiến tới trong đời sống tu đức, An-Tôn tiếp tục sống gần thành phố sinh trưởng của mình, làm việc bằng tay chân để cung ứng cho mình những nhu cầu vật chất cần thiết và phần thừa thải ngài đã đem bố thí cho những người nghèo khó.
Mặc dù ngài sống đời tận hiến bằng khó nghèo, hãm mình và tiết chế, nhưng danh tiếng của ngài đã được đồn đãi rất xa. An-Tôn tiếp tục cố gắng sống cuộc đời buông bỏ trọn vẹn bằng đức tin và cầu nguyện. Vào tuổi độ ba mươi lăm, ngài bắt đầu sống sâu trong những vùng xa xôi hẻo lánh hơn. Có thời gian ngài sống trong một mộ phần nơi hoang địa và một người bạn mang đến cho ngài những thứ cần thiết để sống qua ngày. Chẳng bao lâu ở đó ngài đã gặp những chước cám dỗ khủng khiếp nhất cho đến đỗi đã khiến thân thể ngài rã rời và hoàn toàn mất hết sinh lực. Khi người bạn thường ngày đến thăm viếng ngài, thấy ngài bất tỉnh ở trong mộ phần, đã mang ngài tới một nhà thờ và dân chúng địa phương đã vây quanh để canh thức cầu nguyện. Khi tỉnh lại vào giữa đêm khuya, An-Tôn thấy mình đang bị bao quanh bởi một nhóm người đang ngủ. Chỉ có người bạn còn thức bên cạnh, An-Tôn đã vang xin mang ngài trở lại để chôn mình trong mộ phần và ngài bắt đầu chịu mọi thử thách trở lại. Không thể đứng dậy để cầu nguyện, ngài nằm trong một trạng thái bất động trong khi ngôi mộ bị rung chuyển vì những dã thú hiện ra. Sư tử và bò đực, rắn rết và bò cạp, tất cả đều xuất hiện trước An-Tôn, tấn công ngài về mặt thể xác nhưng ngài vẫn bình tỉnh và ngài đã la lớn vào đám quỉ dữ: “Nếu chúng bay có chút quyền lực nào, chỉ cần một đứa trong chúng bay tới đây.”
Ít lâu sau đó, tòa nhà có ngôi mộ ở bên trong mà trước đây đã bị lay chuyển đến tận nền móng, lại lần nữa trở nên nguyên vẹn. Ma quỉ và thú vật đã rút lui trong rối loạn và biến mất, tức thì cơ thể của ngài hết đau đớn, mái nhà được mở ra và ngôi mộ tràn đầy ánh sáng. Nhận thức về thị kiến đó, An-Tôn cảm thấy hơi thở của mình trở nên ổn định và ngài thưa: “Chúa ở đâu? Sao Chúa không xuất hiện ngay từ đầu để Chúa có thể ngăn chặn cho con bớt nỗi khốn khổ?” Một tiếng nói đến với ngài: “Cha ở đây, An-Tôn ạ, nhưng Cha đợi xem con chiến đấu. Và giờ đây, vì con đã kiên nhẫn và không bị đánh bại, Cha sẽ là người hỗ trợ con mãi mãi.”
Sau đó, An-Tôn đã vào sâu hơn trong rừng núi. Ngài giam mình trong một pháo đài kiên cố trong nhiều năm, sống hầu như bằng bánh mì khô và nước lã. Ngài ít tiếp xúc với người khác, nhưng vì danh tiếng của ngài đồn xa, nhiều môn đệ bắt đầu sống tập trung chung quanh pháo đài. Cuối cùng những đệ tử đó nóng lòng muốn được học hỏi nên đã phá sập cửa pháo đài. Sau nhiều năm sống ẩn dật, An-Tôn mạnh khỏe và mặt mày sáng rực, đã xuất hiện cho đám môn đồ ngưỡng mộ.
Trong một cuộc sống ngắn ngủi với công chúng, An-Tôn đã chữa bệnh, dàn xếp những cuộc tranh chấp, an ủi những người gặp khó khăn, thuyết giảng và gây niềm hứng khởi cho nhiều người khác muốn dấn thân sống đời cô tịch. Dần dần những núi rừng trong những miền lân cận đã có nhiều người nóng lòng muốn bắt chước An-Tôn và sống một cuộc đời cầu nguyện cùng chiêm niệm trong kỷ cương. Nhưng chẳng bao lâu ngài lại rút vào sâu hơn trong rừng thẳm. Được một nhóm bộ hành du mục đi theo, ngài tới giữa một vùng rừng núi và gặp một suối nước rất trong với một ít cây chà là. Ngài say mê chỗ đó và đã kiếm một mảnh đất bên cạnh để cày cấy. Ngài trồng lúa mì để lấy bột nuôi sống bản thân và đãi khách. Số bột dư thừa ngài trao cho các khách bộ hành mang về bố thí cho những người nghèo khó trong thành phố. An-Tôn đã sống những ngày còn lại của mình trong chốn núi rừng đó, đôi khi ngài đã rời nơi đó để giúp đỡ những cộng đồng tu sĩ đang được thành lập trong vùng, đôi khi ngài tiếp khách hành hương, nhưng ngài luôn trung thành với đời sống cô tịch trong cầu nguyện và hãm mình, cho tới năm 356, ngài đã qua đời khi được 105 tuổi.
(Còn tiếp)
Hồi ấy, ông Gio-an Tẩy Giả đến rao giảng trong hoang địa miền Giu-đê rằng:”Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.” Ông chính là người được ngôn sứ I-sai-a nói tới: “Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi”. (Mát-thêu 3, 1-4)
Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, từ sông Gio-đan trở về. Suốt bốn mươi ngày, Người được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ. (Lu-ca 4, 1-2)
*
***
Hằng năm, mỗi khi Mùa Chay trở về, một trong những đề tài suy niệm được ưa thích nhất là “ĐI VÀO SA MẠC”.
Ngược dòng lịch sử, trong vòng vài trăm năm sau khi Chúa Giêsu giáng trần, một sự khao khát sống đời cầu nguyện thâm sâu được tìm thấy nơi rừng sâu núi thẳm miền Bắc Phi châu. Niềm khát khao đó là nguồn hứng khởi cho việc bắt đầu thực hành chiêm niệm Kitô giáo rất thịnh hành trong những vùng dọc theo sông Nile. Điểm khởi đầu đời sống tu trì đó đã hấp dẫn nhiều người đến từ miền Ai-Cập, cũng như những nơi khác thuộc cựu thế giới và đã gây nguồn hứng khởi trong việc thành lập những cộng đồng tu trì khắp vùng Địa Trung Hải và lan tới cả Au châu cùng những vùng xa xôi hơn nữa.
Niềm hứng khởi đầu tiên đối với phong trào sống đời tu trì trong chốn rừng sâu núi thẳm phần lớn được gắn liền cho Thánh An-Tôn ở Ai-Cập. An-Tôn sinh vào khoảng năm 250. Khi ngài lên mười tám tuổi, cả cha lẫn mẹ của ngài qua đời, đột nhiên để lại cho ngài trách nhiệm phải quán xuyến một gia sản đồ sộ. Bị gánh nặng của những ưu tư mới nầy, ngài đọc thấy trong Phúc Am câu sau đây: “Hãy bán hết những gì ngươi có và bố thí cho người nghèo”. Những lời nói đó đã xuyên thấu con tim của ngài: không thể quên được, ngài đã mau mắn tước bỏ gia tài thừa hưởng và đã phân phát tiền tài cùng sản vật cho người nghèo khó. Trong vòng mười lăm năm sau đó, ngài đã thực hành đời sống tu trì với những ẩn sĩ sống rải rác trong vùng. Trong khi cố gắng tiến tới trong đời sống tu đức, An-Tôn tiếp tục sống gần thành phố sinh trưởng của mình, làm việc bằng tay chân để cung ứng cho mình những nhu cầu vật chất cần thiết và phần thừa thải ngài đã đem bố thí cho những người nghèo khó.
Mặc dù ngài sống đời tận hiến bằng khó nghèo, hãm mình và tiết chế, nhưng danh tiếng của ngài đã được đồn đãi rất xa. An-Tôn tiếp tục cố gắng sống cuộc đời buông bỏ trọn vẹn bằng đức tin và cầu nguyện. Vào tuổi độ ba mươi lăm, ngài bắt đầu sống sâu trong những vùng xa xôi hẻo lánh hơn. Có thời gian ngài sống trong một mộ phần nơi hoang địa và một người bạn mang đến cho ngài những thứ cần thiết để sống qua ngày. Chẳng bao lâu ở đó ngài đã gặp những chước cám dỗ khủng khiếp nhất cho đến đỗi đã khiến thân thể ngài rã rời và hoàn toàn mất hết sinh lực. Khi người bạn thường ngày đến thăm viếng ngài, thấy ngài bất tỉnh ở trong mộ phần, đã mang ngài tới một nhà thờ và dân chúng địa phương đã vây quanh để canh thức cầu nguyện. Khi tỉnh lại vào giữa đêm khuya, An-Tôn thấy mình đang bị bao quanh bởi một nhóm người đang ngủ. Chỉ có người bạn còn thức bên cạnh, An-Tôn đã vang xin mang ngài trở lại để chôn mình trong mộ phần và ngài bắt đầu chịu mọi thử thách trở lại. Không thể đứng dậy để cầu nguyện, ngài nằm trong một trạng thái bất động trong khi ngôi mộ bị rung chuyển vì những dã thú hiện ra. Sư tử và bò đực, rắn rết và bò cạp, tất cả đều xuất hiện trước An-Tôn, tấn công ngài về mặt thể xác nhưng ngài vẫn bình tỉnh và ngài đã la lớn vào đám quỉ dữ: “Nếu chúng bay có chút quyền lực nào, chỉ cần một đứa trong chúng bay tới đây.”
Ít lâu sau đó, tòa nhà có ngôi mộ ở bên trong mà trước đây đã bị lay chuyển đến tận nền móng, lại lần nữa trở nên nguyên vẹn. Ma quỉ và thú vật đã rút lui trong rối loạn và biến mất, tức thì cơ thể của ngài hết đau đớn, mái nhà được mở ra và ngôi mộ tràn đầy ánh sáng. Nhận thức về thị kiến đó, An-Tôn cảm thấy hơi thở của mình trở nên ổn định và ngài thưa: “Chúa ở đâu? Sao Chúa không xuất hiện ngay từ đầu để Chúa có thể ngăn chặn cho con bớt nỗi khốn khổ?” Một tiếng nói đến với ngài: “Cha ở đây, An-Tôn ạ, nhưng Cha đợi xem con chiến đấu. Và giờ đây, vì con đã kiên nhẫn và không bị đánh bại, Cha sẽ là người hỗ trợ con mãi mãi.”
Sau đó, An-Tôn đã vào sâu hơn trong rừng núi. Ngài giam mình trong một pháo đài kiên cố trong nhiều năm, sống hầu như bằng bánh mì khô và nước lã. Ngài ít tiếp xúc với người khác, nhưng vì danh tiếng của ngài đồn xa, nhiều môn đệ bắt đầu sống tập trung chung quanh pháo đài. Cuối cùng những đệ tử đó nóng lòng muốn được học hỏi nên đã phá sập cửa pháo đài. Sau nhiều năm sống ẩn dật, An-Tôn mạnh khỏe và mặt mày sáng rực, đã xuất hiện cho đám môn đồ ngưỡng mộ.
Trong một cuộc sống ngắn ngủi với công chúng, An-Tôn đã chữa bệnh, dàn xếp những cuộc tranh chấp, an ủi những người gặp khó khăn, thuyết giảng và gây niềm hứng khởi cho nhiều người khác muốn dấn thân sống đời cô tịch. Dần dần những núi rừng trong những miền lân cận đã có nhiều người nóng lòng muốn bắt chước An-Tôn và sống một cuộc đời cầu nguyện cùng chiêm niệm trong kỷ cương. Nhưng chẳng bao lâu ngài lại rút vào sâu hơn trong rừng thẳm. Được một nhóm bộ hành du mục đi theo, ngài tới giữa một vùng rừng núi và gặp một suối nước rất trong với một ít cây chà là. Ngài say mê chỗ đó và đã kiếm một mảnh đất bên cạnh để cày cấy. Ngài trồng lúa mì để lấy bột nuôi sống bản thân và đãi khách. Số bột dư thừa ngài trao cho các khách bộ hành mang về bố thí cho những người nghèo khó trong thành phố. An-Tôn đã sống những ngày còn lại của mình trong chốn núi rừng đó, đôi khi ngài đã rời nơi đó để giúp đỡ những cộng đồng tu sĩ đang được thành lập trong vùng, đôi khi ngài tiếp khách hành hương, nhưng ngài luôn trung thành với đời sống cô tịch trong cầu nguyện và hãm mình, cho tới năm 356, ngài đã qua đời khi được 105 tuổi.
(Còn tiếp)